Nghiên cứu tín ngưỡng thờ thần Thành Hoàng của người Việt ở Tây Nam bộ sẽ cho thấy tính thống nhất trong đa dạng của tín ngưỡng này ở Việt Nam, đồng thời góp phần hiểu hơn về tính cách v
Trang 1KHOA VĂN HÓA HỌC
H I
LÊ THỊ NINH
TÍN NGƯỠNG THỜ THÀNH HOÀNG CỦA NGƯỜI VIỆT
Ở MIỀN TÂY NAM BỘ
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: VĂN HÓA HỌC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2011
Trang 2H I
LÊ THỊ NINH
TÍN NGƯỠNG THỜ THÀNH HOÀNG CỦA NGƯỜI VIỆT
Ở MIỀN TÂY NAM BỘ
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: VĂN HÓA HỌC
Mã số: 60.31.70
Người hướng dẫn khoa học:
TS NGUYỄN VĂN HIỆU
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2011
Trang 3Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến:
Quý thầy cô Khoa Văn hóa học đã tận tình giảng dạy, truyền đạt kiến thức và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn Đặc biệt là Tiến sĩ Nguyễn Văn Hiệu - người thầy đã tận tình hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn
Quý thầy cô trong Hội đồng chấm luận văn đã dành thời gian để đọc
và đóng góp ý kiến để luận văn hoàn chỉnh hơn
Tác giả các tư liệu, bài ảnh tôi xin phép được sử dụng trong luận văn Ban Quản trị các đình làng đã giúp đỡ, cung cấp thông tin, tư liệu trong quá trình tôi đi điền dã, thực hiện đề tài
Gia đình, bạn hữu đã động viên, ủng hộ và hỗ trợ tôi trong suốt thời gian qua
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày tháng 3 năm 2011
Leâ Thò Ninh
Trang 4MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
MỞ ĐẦU 3
1 Lý do chọn đề tài 3
2 Mục đích nghiên cứu 4
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
4 Lịch sử vấn đề 5
4.1 Nghiên cứu về tín ngưỡng thờ thần Thành Hoàng ở Việt Nam nói chung 5
4.2 Nghiên cứu về tín ngưỡng thờ thần Thành Hoàng ở Nam bộ 7
4.3 Nghiên cứu về tín ngưỡng thờ thần Thành Hoàng ở Tây Nam bộ 8
5 Những đóng góp của luận văn 9
6 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu 9
6.1 Phương pháp nghiên cứu 9
6.2 Nguồn tư liệu và tài liệu tham khảo 10
7 Bố cục của luận văn 10
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 12
1.1 Cơ sở lý luận 12
1.1.1 Tín ngưỡng 12
1.1.2 Tín ngưỡng thờ thần Thành Hoàng 17
1.2 Cơ sở thực tiễn 21
1.2.1 Nhu cầu tâm linh 21
1.2.2 Truyền thống văn hóa 22
1.2.3 Lịch sử - xã hội 25
1.2.4 Cơ sở địa lý - tự nhiên 29
CHƯƠNG 2: TÍN NGƯỠNG THỜ THẦN THÀNH HOÀNG CỦA NGƯỜI VIỆT Ở MIỀN TÂY NAM BỘ: NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CHUNG 33
2.1 Nhìn từ chủ thể văn hóa 33
Trang 52.1.1 Thành Hoàng - thần bảo hộ của người Việt (người Kinh) 33
2.1.2 Người Việt vùng Thuận Quảng là những cư dân Việt đầu tiên đặt nền móng văn hóa Việt trên đất Tây Nam bộ 37
2.2 Nhìn từ sử - văn hóa 40
2.2.1 Sự hình thành đình làng ở miền Tây Nam bộ 40
2.2.2 Những biến đổi của đình làng ở Tây Nam bộ trong lịch sử 43
2.2.3 Về sắc phong thần Thành Hoàng 46
2.3 Nhìn từ địa - văn hóa 52
2.3.1 Sự phân bố đình làng ở miền Tây Nam bộ 52
2.3.2 Đặc điểm sự phân bố đình làng ở Tây Nam bộ 55
2.3.3 Sự phân bố đình làng tại một trường hợp cụ thể - tỉnh Đồng Tháp 57
CHƯƠNG 3: ĐẶC TRƯNG VĂN HÓA TÂY NAM BỘ QUA TÍN NGƯỠNG THỜ THẦN THÀNH HOÀNG 61
3.1 Tính thống nhất trong đa dạng 61
3.1.1 Tính thống nhất 61
3.1.2 Tính đa dạng 66
3.2 Tính kế thừa và phát triển 70
3.2.1 Tính kế thừa 70
3.2.2 Tính phát triển 71
3.3 Tính dung hợp 80
3.3.1 Tính dung hợp - một đặc tính điển hình của văn hóa ứng xử với môi trường xã hội 80
3.3.2 Những biểu hiện của tính dung hợp trong tín ngưỡng thờ thần Thành Hoàng 82
KẾT LUẬN 87
TÀI LIỆU THAM KHẢO 93
DANH MỤC HÌNH ẢNH 100
PHỤ LỤC 102
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Thờ thần bảo hộ (guardian god) là một hình thức tín ngưỡng phổ biến ở nhiều
nền văn hóa trên thế giới, đặc biệt là trong những nền văn hóa gốc nông nghiệp như Lào, Thái Lan, Campuchia, Việt Nam…
Tín ngưỡng thờ thần bảo hộ xuất phát từ khát vọng ổn định cuộc sống của con người Trong một không gian địa lý nhất định, tùy từng nền ăn hóa, thần bảo hộ xuất hiện dưới những dạng thức khác nhau như thổ địa, ma nhà, phi hươn (trong phạm vi nhà); thần làng, ma làng, phi bản, phi mường (trong phạm vi làng, bản).v.v Nhưng tựu chung lại, thần là biểu tượng của sức mạnh siêu nhiên có khả năng che chở hoặc giáng họa cho con người
Văn hóa Việt Nam được tạo dựng trên cơ tầng văn hóa gốc nông nghiệp nên với người Việt, thờ hộ thần có một ý nghĩa hết sức quan trọng Bởi trong thực tế, những vấn đề liên quan đến sự được mùa hay mất mùa như thiên tai, hạn hán, dịch bệnh bất thường luôn sẵn sàng đe dọa mà con người thì không thể ứng phó được Tục thờ thần bảo hộ của một cộng đồng dân cư chính là thể hiện niềm tin, sự kính trọng của người dân đối với vị thần, mà họ tin rằng có khả năng định đoạt phúc họa
cho cộng đồng Về tên gọi, trong làng Việt cổ thần bảo hộ thường được hiểu là ma
làng cũng giống như phi bản, phi mường của dân tộc Lào, Thái Lan… Tuy nhiên,
trong quá trình tiếp xúc và tiếp biến văn hóa Trung Hoa, thần bảo hộ làng của người
Việt đã được khoác lên một tên gọi mới: thần Thành Hoàng Từ đây, tín ngưỡng thờ
thần bảo hộ biểu hiện dưới một diện mạo mới - tín ngưỡng thờ thần Thành Hoàng Song về nội hàm, tín ngưỡng ấy vẫn thể hiện được tâm tư, khát vọng cũng như đặc điểm tín ngưỡng của người Việt Thế nên, trên đất Việt, tín ngưỡng thờ thần Thành Hoàng có sức sống bền bỉ, lan tỏa trong mọi không gian đời sống của người dân từ Bắc vào Nam với nhiều biểu hiện rất phong phú
Trang 7Ở miền Tây Nam bộ, tín ngưỡng thờ thần Thành Hoàng hình thành và phát triển cùng với tiến trình người Việt đến khai phá vùng đất này trong hơn ba trăm năm qua Sự xê dịch trong không gian và thời gian đã tạo cho tín ngưỡng này ở nơi đây một diện mạo mới phù hợp với tâm thức, khát vọng của người dân trong buổi khai hoang mở cõi
Nghiên cứu tín ngưỡng thờ thần Thành Hoàng của người Việt ở Tây Nam bộ
sẽ cho thấy tính thống nhất trong đa dạng của tín ngưỡng này ở Việt Nam, đồng thời góp phần hiểu hơn về tính cách văn hóa của người Việt nơi đây
2 Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu tín ngưỡng thờ thần Thành Hoàng ở miền Tây Nam bộ góp phần hiểu hơn về đời sống văn hóa vật chất và tinh thần, đặc biệt là văn hóa tâm linh của người Việt ở miền Tây Nam bộ
- Qua đó, góp phần tìm hiểu tính bền vững cũng như sự biến đổi cho phù hợp với điều kiện tự nhiên - xã hội của một hình thức tín ngưỡng cụ thể trên vùng đất mới
- Nghiên cứu tín ngưỡng thờ thần Thành Hoàng ở miền Tây Nam bộ cũng góp phần tìm hiểu tính cách văn hóa người Việt ở Tây Nam bộ
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: tín ngưỡng thờ Thành Hoàng của người Việt ở miền Tây Nam bộ Tuy nhiên luận văn sẽ có những liên hệ, so sánh với tín ngưỡng thờ Thành Hoàng của người Việt ở Bắc bộ, hay tín ngưỡng thờ thần bảo hộ của tộc người Khơme, người Hoa, người Chăm ở Tây Nam bộ
- Phạm vi nghiên cứu: Do phạm vi địa lý miền Tây Nam bộ rộng nên:
+ Về không gian, chúng tôi một mặt cố gắng khảo sát ở diện rộng, mặt khác tập trung vào tín ngưỡng này ở một số tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Bến Tre, Tiền Giang
Trang 8Sở dĩ chúng tôi tập trung tìm hiểu tại các tỉnh, thành trên vì: Một là, do thời gian bị hạn chế, chúng tôi không có điều kiện để khảo sát toàn bộ 13 tỉnh thành miền Tây Nam bộ nên đã sử dụng phương pháp lựa chọn mẫu để nghiên cứu Hai là, trong buổi đầu khai khẩn, đây là những vùng đất có điều kiện tự nhiên thuận lợi nên lớp lưu dân Việt đầu tiên đã đến định cư, lập làng tại những nơi này Thế nên, có thể nói rằng, đây là những mảnh đất mà các giá trị văn hóa truyền thống được gieo trồng sớm nhất và để lại nhiều dấu ấn sâu đậm nhất (xem thêm Chương 2)
+ Về thời gian: Chúng tôi khảo sát theo chiều lịch sử từ thời kỳ đầu khai phá (khoảng cuối thế kỷ XVII) đến nay
+ Về chủ thể: Người Việt ở miền Tây Nam bộ, song để tạo nên một góc nhìn văn hóa tương đối khái quát hơn, chúng tôi chú ý đến việc so sánh với các chủ thể khác ở miền Tây Nam bộ
4 Lịch sử vấn đề
Làng xã Việt Nam với ngôi đình, lễ hội đình, thần Thành Hoàng là đề tài khoa học được nhiều học giả trong và ngoài nước quan tâm, nghiên cứu Để tiện theo dõi, chúng tôi khảo sát lịch sử vấn đề theo ba mảng: nghiên cứu về tín ngưỡng thờ thần Thành Hoàng ở Việt Nam nói chung, tín ngưỡng thờ thần Thành Hoàng ở Nam bộ
và nghiên cứu về tín ngưỡng thờ thần Thành Hoàng ở Tây Nam bộ
4.1 Nghiên cứu về tín ngưỡng thờ thần Thành Hoàng ở Việt Nam nói chung
Năm 1915, Phan Kế Bính trong Việt Nam phong tục đã đề cập đến đình, tục
thờ thần và lễ cúng đình Song, đây mới chỉ là những khái lược cơ bản
Năm 1930, Nguyễn Văn Khoan trong “Essai sur le Đinh et le culte du génie
tutélaire des villages au Tonkin” (Khảo sát về đình và việc cúng thần Thành Hoàng
ở làng Bắc bộ) mới thật sự đi sâu nghiên cứu về tục cúng Thành Hoàng tại xã thôn
Bắc Việt Ông là người đầu tiên ghi chép các nghi lễ cúng tế tại đình làng Bắc bộ,
Trang 9đặc biệt ông ghi chép một số nghi lễ, bí truyền của việc thờ cúng thần Thành
Hoàng Đó là hèm tục và ông cho rằng hèm tục có ý nghĩa sâu xa trên phương diện
phong tục và tôn giáo
Năm 1938, trong công trình Việt Nam văn hóa sử cương, Đào Duy Anh cũng
đề cập đến tín ngưỡng thờ thần Thành Hoàng Tuy nhiên, phần nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở mức độ điểm xuyết, xem đấy như một thành tố trong văn hóa tín ngưỡng
và tế tự của người Việt lúc bấy giờ
Đến năm 1940, Nguyễn Văn Huyên viết công trình Góp phần nghiên cứu một
vị thần Thành Hoàng ở An Nam - Lý Phục Man, mở đầu cho hướng nghiên cứu sâu
lễ tế thần
Từ đó đến nay, ngày càng có nhiều sự quan tâm về đề tài này, xem đó như là một loại hình tín ngưỡng tiêu biểu của nền văn hóa gốc nông nghiệp, thể hiện qua
các công trình: Tín ngưỡng Thành Hoàng Việt Nam của Nguyễn Duy Hinh (1996);
Thành Hoàng làng Việt Nam của Vũ Ngọc Khánh (2002); Tìm hiểu tín ngưỡng truyền thống Việt Nam của Mai Thanh Hải (2006); Thần, người và đất Việt của Tạ
Chí Đại Trường (2006); Về tín ngưỡng và lễ hội cổ truyền của Ngô Đức Thịnh
(2007).v.v
Ngoài ra, còn một số công trình không chuyên biệt cũng vẫn dành nhiều trang
đề cập đến vấn đề này như Nông thôn Việt Nam trong lịch sử (tập 2) do Viện Sử học biên soạn (1978), Tìm về Bản sắc văn hóa Việt Nam của Trần Ngọc Thêm
(2006)…
Trang 10Trong những công trình nghiên cứu nói trên, có hai công trình đề cập đến tín ngưỡng thờ Thành Hoàng với tư cách là đối tượng nghiên cứu chính là công trình
Tín ngưỡng Thành Hoàng Việt Nam của Nguyễn Duy Hinh và công trình Thành Hoàng làng Việt Nam của Vũ Ngọc Khánh Đây là hai công trình khoa học rất có
giá trị, cung cấp cho người đọc một lượng thông tin phong phú và hệ thống về tín ngưỡng thờ Thành Hoàng ở Việt Nam Nếu Nguyễn Duy Hinh bàn đến nguồn gốc việc thờ Thành Hoàng, thần điện thờ Thành Hoàng, thì Vũ Ngọc Khánh, trên cơ sở
kế thừa thành quả nghiên cứu của người đi trước đã trình bày lại hệ thống các thần một cách rõ ràng, đồng thời đề cập đến việc thờ Thành Hoàng ở một số vùng trong
cả nước như ở Thủ đô Hà Nội, Bắc Ninh, Thiên Trường (Nam Định), Xứ Thanh, Huế, Nam Bộ…
4.2 Nghiên cứu về tín ngưỡng thờ thần Thành Hoàng ở Nam bộ
Việc nghiên cứu đình và thần Thành Hoàng ở Nam Bộ, sớm nhất có thể nhắc
đến là bài viết của Trần Thị Ngọc Diệp “Một ngôi đình miền Nam” in trong Khảo
cổ tập san số 5 năm 1968 Với mục đích góp vào “một số tài liệu về đình”, tác giả
đã trình bày một cách sơ lược về đình làng, những ngày cúng đình và lễ kỳ yên ở đình Long Phụng thuộc huyện Cần Giờ, tỉnh Chợ Lớn
Từ những năm 1990 trở lại đây, một loạt các công trình nghiên cứu có liên
quan đến đề tài này được xuất bản như: Đình - miễu Nam bộ của Sơn Nam (1992),
Đình Nam bộ - tín ngưỡng và nghi lễ của nhóm tác giả Huỳnh Ngọc Trảng, Trương
Ngọc Tường, Hồ Tường (1993), Đình Nam bộ xưa và nay của Huỳnh Ngọc Trảng, Trương Ngọc Tường (1997), Văn hóa tâm linh Nam bộ của Nguyễn Đăng Duy (1997), Lễ hội dân gian ở Nam bộ của Huỳnh Quốc Thắng (2003), Văn hóa dân
gian Nam bộ những phác thảo của Nguyễn Chí Bền (2003), Tìm hiểu văn hóa tâm linh Nam bộ của Nguyễn Hữu Hiếu (2004)…
Trong các công trình được nhắc đến ở trên, Đình Nam bộ tín ngưỡng và nghi
lễ là công trình biên khảo công phu, tư liệu phong phú đã phác thảo nên bức tranh
Trang 11toàn cảnh sinh động về đình làng tại Nam Bộ và những thiết chế liên quan Đây cũng là công trình cung cấp cho chúng tôi tư liệu nền để thực hiện luận văn
4.3 Nghiên cứu về tín ngưỡng thờ thần Thành Hoàng ở Tây Nam
bộ
Hiện nay, theo chúng tôi được biết, chưa có công trình nào khái quát chung về tín ngưỡng thờ thần Thành Hoàng ở Tây Nam bộ, mà thường giới hạn trong phạm
vi một đình làng cụ thể hoặc rộng hơn là một đơn vị hành chính (xã, tỉnh) Đơn cử
như “Đình làng ở Long An” của Văn Đình Hy đăng trên Tạp chí Văn hóa dân gian
số 3+4 năm 1985; “Đình làng ở Bến Tre” của Văn Đình Hy; “Lễ Kỳ yên trong các
đình làng xưa ở Bến Tre” của Nguyễn Văn Châu đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Văn
hóa nghệ thuật số 5 năm 1991; “Lễ Kỳ Yên ở đình Châu Phú” của Nguyễn Thị
Minh Hoa đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Văn hóa nghệ thuật số 5 năm 1992; “Đình miếu ở Tiền Giang” của Trương Ngọc Tường đăng trên Tạp chí Văn hóa nghệ thuật
số 11 năm 2000; “Những ngôi đình bên bờ sông Tiền” của Nguyễn Phẩm in trong
Đồng Tháp xưa và nay số 2 năm 2001; Tìm hiểu tín ngưỡng thần Thành Hoàng Việt Nam và đặc trưng đình làng Nam bộ ở Đồng Tháp của Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy
Đồng Tháp phát hành năm 2002; Sổ tay hành hương đất phương Nam do Huỳnh
Ngọc Trảng chủ biên phát hành năm 2002; “Tổng quan đình làng và tục thờ Thành
Hoàng làng ở Bến Tre” của Lư Hội in trong Thông báo văn hóa dân gian 2006
.v.v
Qua những công trình nghiên cứu nêu trên, có thể nhận thấy:
Một là, hầu hết các tác giả mới chỉ dừng lại ở việc khái quát tín ngưỡng thờ thần ở phạm vi rộng (cả vùng Nam bộ) hoặc ở phạm vi hẹp - một tỉnh, một đình nhất định mà chưa có một công trình nào nghiên cứu trên không gian tiểu vùng Tây Nam bộ
Hai là, phần lớn các tác giả dừng lại ở việc đặc tả, khái quát về việc thờ thần
và những thiết chế liên quan được soi chiếu dưới góc độ dân tộc học, lịch sử học,
mà chưa có công trình nào được nghiên cứu từ góc độ văn hóa học
Trang 12Vì vậy, nghiên cứu tín ngưỡng thờ thần Thành Hoàng ở miền Tây Nam bộ từ góc độ văn hóa học là một đề tài mới Song, luận văn được thực hiện trên cơ sở kế thừa những kết quả nghiên cứu đã có trước đây, đồng thời dựa trên nguồn tài liệu thu thập được trong quá trình điền dã
5 Những đóng góp của luận văn
Về mặt khoa học: Luận văn góp phần bổ sung cho việc nghiên cứu tín ngưỡng
từ nhiều góc độ - ở đây từ góc độ văn hóa học
Về mặt thực tiễn: Luận văn góp phần vào việc nghiên cứu văn hóa tâm linh của người Việt ở miền Tây Nam bộ Đồng thời, góp phần vào việc định hướng, thực thi những chính sách trong việc bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống nói chung
và tín ngưỡng thờ thần Thành Hoàng nói riêng
6 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu
6.1 Phương pháp nghiên cứu
Tín ngưỡng thờ Thành Hoàng là đề tài nghiên cứu của nhiều ngành khoa học như: Sử học, văn hóa dân gian, nghệ thuật, kiến trúc, dân tộc học, tôn giáo học,…
Để thực hiện được đề tài nghiên cứu này, chúng tôi vận dụng quan điểm tiếp cận
của Văn hóa học và cách tiếp cận liên ngành để tiếp cận đối tượng
Phương pháp hệ thống cấu trúc là phương pháp được sử dụng trong suốt quá
trình thực hiện đề tài để tiếp cận văn hóa tín ngưỡng như một hệ thống Và ở đây, tín ngưỡng là một thành tố văn hóa trong Văn hóa tổ chức đời sống cá nhân
Phương pháp so sánh được sử dụng trong luận văn nhằm làm nổi bật những
nét tương đồng và khác biệt giữa tín ngưỡng Thành Hoàng truyền thống (Bắc bộ) và tín ngưỡng Thành Hoàng ở vùng đất mới (Tây Nam bộ)
Phương pháp lịch sử giúp nhận thức đúng quá trình phát sinh và phát triển
của tục thờ Thành Hoàng thần của người Việt miền Tây Nam bộ trong hệ thống văn hóa tín ngưỡng Việt Nam
Trang 13Phương pháp điền dã giúp cho người viết có cơ sở dữ liệu khoa học và nguồn
tư liệu để thực hiện đề tài Đồng thời sử dụng phương pháp miêu tả, phân tích và
tổng hợp để đưa đến cho người đọc thông tin về những vấn đề có liên quan Thành
Hoàng thần
6.2 Nguồn tư liệu và tài liệu tham khảo
Tài liệu tham khảo chủ yếu là các công trình, bài nghiên cứu về văn hóa tâm linh của người Việt ở Nam bộ và Tây Nam bộ; về tín ngưỡng thờ thần Thành Hoàng; và nguồn tài liệu từ khảo sát, điền dã
Tài liệu tham khảo mở rộng gồm: các tác phẩm biên khảo, địa chí, du lịch viết riêng hoặc có liên quan đến Nam bộ và Tây Nam bộ; các tác phẩm về địa lý tự nhiên, lịch sử, dân tộc học, tư tưởng phương Đông, tôn giáo tín ngưỡng, phong tục tập quán, văn hóa nghệ thuật, văn hóa dân gian; các công trình nghiên cứu về văn hóa Đông Nam Á, văn hóa Trung Hoa có liên quan
Ngoài ra, còn có nguồn tư liệu mà người thực hiện luận văn sưu tầm được từ các đợt điền dã như sắc phong thần, văn tế thần, hình ảnh
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu và phần Kết luận, Luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn
Ở chương 1, chúng tôi xác lập cơ sở lý luận về tín ngưỡng, văn hóa tín ngưỡng
và tín ngưỡng thờ thần Thành Hoàng Đồng thời đưa ra những luận điểm về cơ sở thực tiễn hình thành nên đặc điểm tín ngưỡng thờ thần Thành Hoàng ở miền Tây Nam bộ
Chương 2: Khái quát tín ngưỡng thờ thần Thành Hoàng ở miền Tây Nam
bộ
Trang 14Từ tiền đề lý luận ở chương 1, chúng tôi đi vào nhận diện đặc điểm tín ngưỡng thờ thần Thành Hoàng ở Tây Nam bộ từ góc nhìn chủ thể văn hóa, sử - văn hóa và địa - văn hóa
Chương 3: Đặc trưng văn hóa miền Tây Nam bộ nhìn từ tín ngưỡng thờ
Thành Hoàng
Ở chương 3, chúng tôi trình bày một số đặc trưng của văn hóa miền Tây Nam
bộ soi chiếu qua tín ngưỡng thờ thần Thành Hoàng như tính thống nhất trong đa dạng, tính kế thừa và phát triển, và tính dung hợp
Trang 15CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Tín ngưỡng
Tín ngưỡng là một thuật ngữ thuộc chuyên ngành khoa học xã hội Tuy nhiên,
cho đến nay, định nghĩa về tín ngưỡng vẫn chưa đi đến thống nhất trong giới nghiên
cứu Nhằm xác lập cơ sở lý luận nền cho đề tài nghiên cứu, người viết sẽ trình bày quan điểm về tín ngưỡng của một số nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, sau đó đưa ra nhận định của mình về vấn đề trên
Về mặt từ nguyên: Tín ngưỡng là một từ ghép trong tiếng Hán, trong Tìm về
cội nguồn chữ Hán của Lý Lạc Nghị, tín và ngưỡng được giải thích như sau:
Tín : là một chữ hội ý do hai bộ “nhân” và “ngôn” hợp thành Trong kim văn, tín có nghĩa là “tòng nhân, tòng khẩu”, nghĩa gốc là “thành thực”; nghĩa mở rộng là thực lòng tin tưởng
Ngưỡng : theo giáp cốt văn thì chữ này được viết theo hình dạng của một
người đứng và một người quỳ xuống ngẩng mặt nhìn lên Thuyết văn: ngưỡng nghĩa
là mong muốn được may mắn Có thể hiểu là ngẩng đầu ngưỡng vọng [Lý Lạc Nghị 1997: 471, 753]
Theo đó, tín ngưỡng có thể hiểu là niềm tin, sự ngưỡng vọng của con người
đối với một khách thể nào đó Tuy nhiên, cách hiểu tín ngưỡng theo từ nguyên chỉ
là cách hiểu phổ thông, còn dưới góc độ là một thuật ngữ của ngành khoa học xã
hội, nội hàm của tín ngưỡng phức tạp hơn rất nhiều
Trang 16Ở phương Tây, thuật ngữ tín ngưỡng (belief) thường được gắn liền với tôn
giáo (religion) và được hiểu là niềm tin tôn giáo, là cơ sở để hình thành nên tôn
giáo
Về mặt thuật ngữ - khái niệm, hiện có khá nhiều định nghĩa, có thể điểm qua
một vài định nghĩa sau:
Trong “Thuyết vạn vật hữu linh” (Animism), Edward B Tylor cho rằng, để đưa ra một định nghĩa tối thiểu (minium) về tôn giáo thì có lẽ tốt nhất là quay về với
cội nguồn chính yếu của nó và tôn giáo là sự tín ngưỡng về những tồn tại thiêng1[Edward B.Tylor 1999: 2]
Emile Durkheim trong “Những hình thức sơ khai của đời sống tôn giáo” (The Elementary Forms of the Religious Life) đã đưa ra quan điểm của mình về tôn giáo:
Các hiện tượng tôn giáo, một cách rất tự nhiên, được xếp vào hai phạm trù căn bản: các tín ngưỡng và các nghi lễ Tín ngưỡng là những trạng thái ý kiến, chúng thể hiện thành những biểu tượng Nghi lễ là những phương thức hành động nhất định Giữa hai loại sự kiện đó, có cả một sự khác nhau tách tư duy khỏi sự vận động2 [Emile Durkheim 1999: 8]
Cùng quan điểm trên, George James Frazer cho rằng: Tôn giáo là việc cầu
phúc hay là việc hòa giải những thế lực cao cấp hơn con người, những thế lực này,
có khả năng điều hành, kiểm soát thế giới tự nhiên và đời sống con người 3 [George
James Frazer 1999: 79] Theo ông, tôn giáo cũng gồm hai thành tố: lý thuyết (tức là niềm tin) và thực hành Trong đó, niềm tin tín ngưỡng đến đầu tiên, bởi lẽ con người buộc phải tin vào sự tồn tại của thần thánh trước khi cố gắng làm vừa lòng
1 Nguyên văn: the first requisite in a systematic study of the religions of the lower races, is to lay down a rudimentary definition of religion (…) It seems best to fall back at once on this essential source, and simply
to claim, as a minium definition of the Religion, the belief in Spiritual Beings
2 Nguyên văn: Religious phenomena are naturally arranged in two fundamental categories: beliefs and rites The first are states opinion, and consist in representations; the second are determined modes of action Between these two classes of facts there is all the difference which separates thought from action
3 Nguyên văn: …a propitiation or conciliation of power superior to man which are believed to direct and control the course of nature and of human life
Trang 17những thế lực thiêng ấy Nhưng, nếu như tín ngưỡng không dẫn đến việc thực hành tương ứng với nó thì đó không còn là một tôn giáo mà chỉ đơn giản là thần học
Qua các quan điểm nêu trên, có thể nhận thấy thuật ngữ tín ngưỡng (belief)
được dùng để chỉ một trạng thái tâm lý của con người đối với thế lực thiêng - đó
chính là niềm tin tôn giáo Emile Durkheim và George James Frazer cho rằng tín
ngưỡng là điều kiện cần để cấu thành nên tôn giáo, bởi trước hết phải có niềm tin,
sự ngưỡng vọng của con người đối với thế lực thiêng thì các nghi lễ (ritual) hay thực hành tôn giáo (practical) mới được thông qua Theo đó, các hình thái tôn giáo
ra đời từ thuở sơ khai cho đến ngày nay đều được thống nhất gọi chung là tôn giáo
Ở Việt Nam, khái niệm tín ngưỡng cũng có những cách hiểu khác nhau, nhưng
tựu chung lại theo hai hướng: Một là đồng nhất tín ngưỡng với tôn giáo (xem tín ngưỡng chính là niềm tin tôn giáo); hai là coi tín ngưỡng là sản phẩm của xã hội ở trình độ phát triển thấp hơn so với tôn giáo
Trong Lý luận về tôn giáo và tình hình tôn giáo ở Việt Nam, Đặng Nghiêm Vạn cho rằng “Niềm tin tôn giáo hay tín ngưỡng biểu hiện ở những nền văn hóa
khác nhau và rất đa dạng” và “Sự đa dạng trong tín ngưỡng, tức niềm tin tôn giáo, biểu hiện rất khác nhau ngay trong một tôn giáo” [Đặng Nghiêm Vạn 2005: 91-92]
Theo ông, việc phân biệt cấp độ các hình thái tôn giáo, coi tín ngưỡng và tôn giáo
như hai cấp độ thấp, cao là cần phải xem xét lại Ông lập luận: Nếu các nhà nghiên
cứu tôn giáo đã chấp nhận yếu tố quyết định của một tôn giáo là đức tin hay niềm tin, thì đó là thước đo duy nhất về tính hơn kém của những tôn giáo trong một cộng đồng (…) Và, nếu chấp nhận sự bình đẳng giữa các nền văn hóa (trong đó có tôn giáo) thì không có sự đánh giá tôn giáo này cao hơn tôn giáo khác [Đặng Nghiêm
Vạn 2005: 89 -90]
Trái với quan điểm trên, Phan Hữu Dật, trong Một số vấn đề về dân tộc học
Việt Nam, lại cho rằng tín ngưỡng và tôn giáo không thể đồng nhất với nhau, bởi vì
“tín ngưỡng phát triển đến mức độ nào đó mới thành tôn giáo Ở cấp độ tín ngưỡng
chưa xuất hiện điện thần (hệ thống thần linh, panthénon), chưa có hệ thống giáo lý,
Trang 18chưa có tầng lớp tăng lữ (thầy cúng), chưa có việc xây dựng đền miếu để thờ cúng như sau này đối với tôn giáo dân tộc, tôn giáo khu vực và tôn giáo thế giới” [Phan
Hữu Dật 1998: 322] Đồng quan điểm với Phan Hữu Dật, Trần Ngọc Thêm lý giải:
khi đời sống và trình độ hiểu biết còn thấp, con người tin tưởng và ngưỡng mộ vào những thần thánh do họ tưởng tượng ra - đó là tín ngưỡng.(…) Từ tự phát lên tự giác theo con đường quy phạm hóa thành giáo lý, có giáo chủ, có thành đường - tín ngưỡng trở thành tôn giáo” [Trần Ngọc Thêm 2006a: 233]
Pháp lệnh về tín ngưỡng, tôn giáo của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành
năm 2004, mặc dù không đề cập đến khái niệm tín ngưỡng và tôn giáo, nhưng có sự
phân biệt giữa hoạt động tín ngưỡng với hoạt động tôn giáo: “hoạt động tín ngưỡng
là hoạt động thể hiện sự tôn thờ tổ tiên, tưởng niệm và tôn vinh những người có công với nước, với cộng đồng, thờ cúng thần, thánh, biểu tượng có tính truyền thống và các hoạt động tín ngưỡng dân gian khác tiêu biểu cho những giá trị tốt đẹp về lịch sử, văn hóa, đạo đức xã hội” và “hoạt động tôn giáo là việc truyền bá, thực hành giáo lí, giáo luật, lễ nghi, quản lí tổ chức của tôn giáo”4
Từ quan điểm về tín ngưỡng của các nhà nghiên cứu nêu trên, người viết nhận thấy:
- Quan điểm của Đặng Nghiêm Vạn và các học giả phương Tây xem tín ngưỡng là niềm tin tôn giáo, là chưa hoàn toàn hợp lý Bởi lẽ, mặc dù cội nguồn của
tín ngưỡng và tôn giáo là niềm tin, song biểu hiện niềm tin, đối tượng ngưỡng vọng,
thiết chế lễ bái ở tín ngưỡng và tôn giáo khác nhau Niềm tin trong tín ngưỡng là sự tin tưởng, ngưỡng vọng của con người đối với một lực lượng siêu nhiên mang tính linh ứng và linh nghiệm, hướng con người tới những giá trị Chân - Thiện - Mỹ trong cuộc sống hiện tại Còn niềm tin trong tôn giáo hướng con người đến với Đấng cứu thế vạn năng, với hệ thống giáo lý, thần điện hoàn chỉnh và đôi khi niềm tin trong tôn giáo còn tìm lối thoát cho cuộc sống hiện tại ở một thế giới khác
4 Nguồn: www.chinhphu.vn/vanbanpq/lawdocs/PL21UBTVQH.DOC?id
Trang 19- Khi phân biệt “tín ngưỡng và tôn giáo là hai cấp độ thấp, cao”, theo người viết, không nên hiểu là sự đánh giá “tôn giáo này cao hơn tôn giáo khác” mà nên hiểu, tín ngưỡng là sản phẩm của xã hội ở trình độ phát triển thấp hơn tôn giáo
Như vậy, có thể hiểu tín ngưỡng là một hình thái tâm linh thể hiện niềm tin,
sự ngưỡng vọng của con người đối với một khách thể đã được thiêng hóa nhằm cầu mong sự che chở, giúp đỡ trong cuộc sống thực tại
Hiện nay, bên cạnh khái niệm tín ngưỡng, nhiều nhà nghiên cứu ở Việt Nam
cũng thường nhắc đến khái niệm văn hóa tín ngưỡng, song chưa có định nghĩa cụ thể nào về khái niệm này Ngay trong công trình Tín ngưỡng và văn hoá tín ngưỡng
ở Việt Nam (2001), Ngô Đức Thịnh cũng chỉ dừng lại ở việc giới thiệu một số nội
dung của văn hóa tín ngưỡng như âm nhạc, múa nghi lễ, tranh thờ…
Dựa trên cách tiếp cận từ góc độ văn hóa học và sự hiểu biết của mình về văn
hóa tín ngưỡng, người viết cho rằng:
- Tín ngưỡng là văn hóa: Nếu xem “văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị
vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” [Trần Ngọc Thêm 2006a: 25] thì tín ngưỡng cũng chính là một thành tố của
văn hóa - văn hóa tín ngưỡng, bởi đó là “sản phẩm tinh thần của con Người với tư
cách là Người Sản Xuất Văn Hóa” [Nguyễn Duy Hinh 1996: 36]
Trần Ngọc Thêm, trong Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, đã xếp tín ngưỡng
vào bình diện văn hóa tổ chức đời sống cá nhân [Trần Ngọc Thêm 2006a: 233] Trong bài viết “Tổng quan về các dạng thức văn hóa ở Việt Nam”, Ngô Đức Thịnh
cũng cho rằng: “Bản thân các tôn giáo tín ngưỡng đã là một hình thức văn hoá đặc
thù, đấy là chưa kể, trong quá trình hình thành và phát triển, mỗi tôn giáo tín ngưỡng bao giờ cũng sản sinh, tích hợp trong nó những hiện tượng, những sinh hoạt văn hoá nghệ thuật” [Ngô Đức Thịnh 2005: 18]
- Về nội dung của văn hóa tín ngưỡng: tín ngưỡng là sự tích hợp nhiều giá trị
văn hoá vật thể như các công trình kiến trúc đình, đền, am, miếu; các hình thức
Trang 20trang trí kiến trúc, tranh thờ, tượng thờ, các đồ thờ phù hợp với từng loại tín ngưỡng, các loại trang phục, lễ phục phù hợp với các hình thức nghi lễ tín
ngưỡng… Và văn hoá phi vật thể như các ý niệm về vũ trụ luận, nhân sinh, đạo
đức, chuẩn mực ứng xử xã hội… kèm theo đó là các hình thái văn học, chữ viết cổ xưa thường gắn liền với đời sống tín ngưỡng Các hình thức diễn xướng nghi lễ, như tế tự, rước xách, lễ hội, mà trong đó thường chứa đựng các hình thức hoạt động văn hoá nghệ thuật phong phú, như nhạc lễ, múa nghi lễ, các trò diễn nghi lễ
Như vậy, văn hóa tín ngưỡng có thể hiểu là một dạng thức đặc thù của hệ
thống văn hóa, phản ánh những niềm tin, những khát vọng của con người gắn với yếu tố thiêng nào đó Qua văn hóa tín ngưỡng, có thể thấy được các bình diện
văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần khác của một cộng đồng, một chủ thể văn hóa
1.1.2 Tín ngưỡng thờ thần Thành Hoàng
Theo nghĩa từ nguyên, Thành Hoàng được hiểu: “thành” (城) là bức tường thành, “hoàng” (隍) là cái hào được đào
sâu bao quanh thành Thành Hoàng thần
là vị thần coi giữ, bảo trợ cho thành trì ở
Trung Quốc
Năm 823, Lý Nguyên Gia sau khi
xây xong thành Đại La - trụ sở phủ đô hộ
nhà Đường tại Việt Nam, đã phong tặng
Tô Lịch - một vị quan liêm khiết đời
Tống, làm Thành Hoàng thành Đại La
Năm 866, Cao Biền mở rộng thành tiếp
tục gia phong cho Tô Lịch tước hiệu Đô
phủ Thành Hoàng Thần Quân [Nguyễn Duy Hinh 1996: 31] Tục thờ thần Thành
Hoàng xuất hiện ở Việt Nam từ đó và vẫn tiếp tục phát triển trong các triều đại độc lập của nước ta sau này
Hình 1.1: Thần Thành Hoàng ở Trung
Quốc
[Nguồn: http://www.gdwh.com.cn/]
Trang 21Tuy nhiên, trước khi thần Thành Hoàng với tư cách là thần bảo hộ xuất hiện trong hệ thống bách thần của người Việt thì người Việt cũng đã tạo dựng cho riêng
mình vị thần bảo hộ của cộng đồng - thần làng
Trong các xã hội nguyên thủy, con người đã luôn tin rằng vạn vật xung quanh (cả con người lẫn động thực vật, thậm chí cả những vật vô tri) đều có linh hồn Những linh hồn ấy biết tất cả những gì con người đang làm và có thể giúp đỡ, che chở cho con người nhưng cũng có thể giáng họa tác động đến đời sống của con
người Edward B Tylor trong Văn hóa nguyên thủy đã nhận định: “Họ (người nguyên thủy - TGLV) có thể gán mọi cái tốt và cái xấu trong đời sống của mình và
tất cả những hiện tượng lạ lùng của tự nhiên cho những ma bạn hay ma thù Họ sống trong sự giao tiếp mật thiết với những linh hồn sống và hùng mạnh của tổ tiên
họ đã chết, với những ma thác nước và ma rừng, ma đồng bằng và ma núi (…) Tất
cả những hiện tượng tự nhiên của thế giới chung quanh họ đều có nguồn gốc là sự can thiệp của những thực thể ma khác nhau” [Edward B Tylor 2001: 764] Từ
niềm tin đó, con người bắt đầu ngưỡng vọng vào thế giới thần với khát vọng có được một cuộc sống tốt đẹp cho hiện tại và tương lai
Tín ngưỡng thờ thần của người Việt cũng bắt nguồn từ tâm thức đó và được biểu hiện một cách đa dạng Điều này được khắc họa rõ nét trên các trống đồng, thạp đồng và trên những hiện vật khảo cổ đã tìm thấy có niên đại cách đây hàng nghìn năm từ tín ngưỡng vật tổ (thể hiện qua hình ảnh chim, hươu, cá, rồng), đến tín ngưỡng phồn thực (thể hiện bằng những hình ảnh chim, cá sấu, rồng giao hoan) và tục thờ thần Mặt Trời (hình ngôi sao mặt trời được chạm khắc phổ biến ở trung tâm trên mặt trống đồng, nắp thạp đồng có hình người và động vật (hươu nai, chim chóc ) đều đi, nhảy, chạy, bay xung quanh hình mặt trời), tục thờ thần Đất, thần Nước, thần Mây - Mưa - Sấm - Chớp, tục sùng bái tổ tiên (trước hết là tổ tiên chung của cả dân tộc - vua Hùng, đến tổ tiên của những đơn vị hẹp hơn: làng chạ, dòng họ, gia đình [Trần Ngọc Thêm 1996: 151 - 167]
Trang 22Tín ngưỡng thờ hộ thần của người Việt cổ có một đời sống riêng trong hệ thống tín ngưỡng đa thần Hộ thần là một lực lượng siêu nhiên có quyền năng hô phong, hoán vũ bảo vệ cho dân thôn khỏi những thế lực hung ác Hộ thần không có
một danh xưng cụ thể nào mà chỉ có thể hiểu như một dạng ma làng, theo cách gọi
của người miền núi [Trần Ngọc Thêm 1996: 165] giống như phỉ mường, phỉ bản trong văn hóa Lào, văn hóa Thái Lan, Changsũng trong văn hóa Hàn Quốc, kami trong văn hóa Nhật Bản
Như vậy, có thể thấy trước thời kỳ Bắc thuộc, người Việt đã có một đời sống tâm linh hết sức phong phú, phản ánh những tư duy và khát vọng của con người nguyên thủy Những tín ngưỡng ấy được nảy sinh từ nhu cầu nội tại của cuộc sống Nên khi tục thờ thần Thành Hoàng của Trung Quốc du nhập vào Việt Nam, muốn tồn tại đã phải tự điều chỉnh, tự biến đổi
sao cho phù hợp với tín ngưỡng dân gian
bản địa Nhiều khi sự thay đổi ít nhiều về
hình thức và nội dung đã dẫn đến sự khác
biệt hẳn so với tín ngưỡng này ở Trung
Quốc Nói khác đi, mặc dù hộ thần của
người Việt đã có danh xưng - thần Thành
Hoàng, cùng nhiều thiết chế thờ tự được
“triều đình hóa” thì yếu tố nội sinh luôn
giữ vai trò chủ đạo, làm hạt nhân cơ bản cho sự phát triển tín ngưỡng thờ thần Thành Hoàng ở Việt Nam - thần bảo hộ của cộng đồng làng Nguyễn Duy Hinh
cũng đã khẳng định: “Thành Hoàng Việt Nam là thần làng, là tổ tiên làng chứ
không phải là thần bảo hộ thành trì mang tính chất tướng lĩnh tinh thần của vua quan phong kiến ẩn nấp trong những bức tường thành với hào lũy vây quanh”
[Nguyễn Duy Hinh 1996: 98]
Qua các tài liệu nghiên cứu, và dựa trên thực tiễn, người viết nhận thấy: Tín ngưỡng thờ thần Thành Hoàng ở Việt Nam có một đời sống riêng biệt, khác rất nhiều so với tín ngưỡng này ở Trung Quốc
Hình 1.2: Thành Hoàng làng Việt [Nguồn: http://www.baotonditich.vn/]
Trang 23- Thần Thành Hoàng ở Việt Nam là “vị thần cai quản, che chở, định đoạt phúc
họa cho dân làng” [Trần Ngọc Thêm 2006a: 251] chứ không phải là “ông thần làm chủ trong thành”5
- Tiền thân và hóa thân của hộ thần trong đời sống tâm linh của người Việt rất phong phú, có thể là núi, sông, cây, rắn, con người v.v nói chung tùy vào tính chất linh ứng, linh nghiệm và quan niệm của từng cộng đồng làng xã Do vậy, dù mang
tên ngoại nhập, nhưng một khi đã nằm trong thần điện của làng, “thần Thành
Hoàng của làng đã trở thành “bản địa hóa”, “địa phương hóa”, “lịch sử hóa” một cách sâu sắc, ở trong cõi sâu thẳm của tư duy người nông dân Việt, lung linh rực tỏa trong mỗi ngày hội làng, tiếp sinh khí tinh thần mới cho một chu kỳ mới và cứ vậy cho muôn sau” [Nguyễn Quốc Tuấn 1992: 45]
- Bên cạnh những vị Thành Hoàng được triều đình sắc phong rồi giao cho một làng cụ thể tôn thờ, còn có những vị thần được thờ từ trước, sau đó dân làng dâng sớ lên triều đình để được vua chuẩn nhận chính thức bằng sắc phong Thành Hoàng
- Thần Thành Hoàng một mặt là thần có quyền năng trong phạm vi một làng
nhất định, do đó mới có câu “trống làng nào, làng đó đánh, thánh làng nào làng đó
thờ”; mặt khác, đó là vị thần được vua chuẩn nhận bằng phong hàm, tức là đã được
triều đình thừa nhận chính thức, là “xã lệnh trưởng” nên quyền năng phải đi đôi với trách nhiệm “bảo ngã lê dân” trong làng
Vậy có thể hiểu, tín ngưỡng thờ thần Thành Hoàng là niềm tin, sự ngưỡng
vọng của một cộng đồng người đối với vị thần mà họ tin rằng có khả năng bảo hộ che chở cho cộng đồng người đó trong một phạm vi hành chính
Trong một số công trình nghiên cứu và thực tế ở một số đình, thần Thành Hoàng được gọi là Thần Hoàng Cách gọi này là sai nghĩa Theo ghi chép của Phan
Kế Bính trong Việt Nam phong tục: người nào làm quan từ tam, tứ phẩm trở lên thì
nhà vua ban sắc phong tặng cho cha mẹ, ông bà, cụ kị, tùy theo phẩm tước của
5 Trong Hán Việt từ điển, Đào Duy Anh chú giải: “Thành hoàng thần là ông thần làm chủ trong thành” [Đào
Duy Anh 1992: 372]
Trang 24mình Sắc của vua ban đưa về, chủ nhà chọn ngày lành tháng tốt, sao bản sắc của vua ra một tờ giấy vàng, cũng như bản sắc chính rồi làm lễ tế để trình với tổ tiên Sau buổi lễ, gia chủ đốt cháy bản sao lục ấy để báo cáo với tổ tiên - nghi lễ này
được gọi là Thần hoàng (đốt tờ sắc vàng) [Phan Kế Bính 2006: 27] Ở Nam bộ
không có nghi lễ này
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Nhu cầu tâm linh
Nhu cầu tâm linh tồn tại trong cuộc sống của con người như một phần tất yếu Thời nguyên thủy, con người đã tin rằng “vạn vật hữu linh” - vạn vật trong thế giới vật chất đều có linh hồn, có ý chí, tình cảm Họ tin rằng trong mọi hoạt động của đời sống đều có một lực lượng vô hình nào đó “tài giỏi” hoặc “hung ác” tác động vào sự thành công hay thất bại Và để vững tâm sinh sống trong thế giới đầy biến động, con người bắt đầu ngưỡng vọng về một lực lượng siêu nhiêu ở bên ngoài -
“tha lực” “Niềm tin và ngưỡng vọng ấy chính là tinh thần tín ngưỡng của con
người xa xưa Tín ngưỡng xuất hiện từ thưở đó và trong suốt chiều dài lịch sử nhân loại, tín ngưỡng vẫn là một trong những điểm tựa vững chắc - điểm tựa tâm linh giúp con người tồn tại và phát triển” [Văn Quảng 2009: 10] Biểu hiện của tín
ngưỡng rất đa dạng và phong phú ở mỗi dân tộc trên thế giới, song trên hết vẫn là mục đích cầu an cho cuộc sống hiện tại
Người Việt nói chung và người Việt ở Tây Nam bộ nói riêng cũng không nằm ngoài quỹ đạo đó Hơn nữa, lại là những cư dân nông nghiệp trồng lúa nước thì người Việt không thể không thờ thần, cầu thần phù hộ cho phong đăng hòa cốc, bồ thóc đầy nhà Và một trong những tín ngưỡng tiêu biểu của cư dân nông nghiệp là tín ngưỡng thờ thần bảo hộ
Người Việt di cư vào phương Nam, mặc dù nơi đây được xem là “vùng đất hứa” đồng rộng mênh mông, ít khi bị núi rừng che chắn tầm nhìn, sông to, quanh năm nước chảy lững lờ, nhiều tôm cá v.v nhưng trong buổi đầu khai mở, vẫn là vùng rừng bụi hoang hóa, lắm côn trùng, thú dữ Cảnh tượng này đã được một viên
Trang 25quan nhà Nguyên ghi chép lại khi đi sứ qua đây: Gần hết cả vùng đều là bụi rậm
của rừng thấp, những cửa rộng của con sông lớn chảy dài hàng trăm dặm, bóng mát um tùm của những gốc cổ thụ và cây mây dài tạo thành nhiều chỗ trú sum suê Khắp nơi vang tiếng chim hót và tiếng thú kêu Vào nửa đường trong sông, thấy toàn những cánh đồng hoang không một gốc cây Xa nữa, tầm mắt chỉ thấy toàn cỏ
cây đầy rẫy Hàng trăm, hàng nghìn trâu rừng tụ họp từng bầy [Chu Đạt Quan
2006: 45 - 46]
Thỉnh thoảng, đó đây, lưu dân bắt gặp những ngôi miếu đổ nát, những mảnh
vụn văn hóa của lớp cư dân đầu tiên để lại càng làm cho họ luôn cảm thấy có áp lực
vô hình:
- Tới đây xứ sở lạ lùng
Chim kêu cũng sợ, cá vùng cũng kinh
- Muỗi kêu như sáo thổi
Đỉa lội tợ (tựa) bánh canh
Cỏ mọc thành tinh
Rắn đồng biết gáy 6
Trong khoảng chới với đó, nhu cầu tâm linh lại càng cao, họ tìm đến sự vững tâm trong niềm tin vào thần để tiếp tục sống và tồn tại, mà vị thần gần gũi, xác tín nhất là vị thần làng - người đã luôn hiện diện, bảo hộ cho họ suốt những năm tháng qua ở cố hương
1.2.2 Truyền thống văn hóa
Người Việt, bộ phận chủ thể của Việt Nam, là lực lượng chủ lực trong việc chống chọi với những thiên tai địch họa vô cùng khốc liệt cũng như chống lại
6
Nguồn:
http://cadao.org/index.php?option=com_content&view=article&id=993:ca-mau-ca-dao-tinh-yeu-&catid=55:ca-dao-ch-&Itemid=16
Trang 26những thế lực ngoại lai luôn dòm ngó hòng chiếm đoạt đất nước Thế nên, trong
tâm thức người Việt đã sớm hình thành truyền thống uống nước nhớ nguồn, ăn quả
nhớ người trồng cây Đó là sự biết ơn tới những người có công khai hoang lập làng,
chiến đấu chống thiên tai, thú dữ, bệnh tật, chống quân xâm lược cướp nước, giữ yên bờ cõi xóm làng, là nhớ công lao tổ tiên ông bà trong gia đình Do đó, hầu như khắp các thôn ấp làng xã ở Việt Nam, đều có đình, miếu hoặc đền thờ thờ những vị
có công với làng, với nước với những quy mô khác nhau, tùy theo công đức của vị
đó và tình hình kinh tế của dân làng
Văn hóa Việt Nam được kiến tạo trên cơ tầng văn hóa gốc nông nghiệp Chính phương thức sản xuất lúa nước đã buộc người Việt phải mở rộng mối quan hệ không chỉ gắn bó với nhau bằng huyết thống, mà còn gắn bó bằng cả những quan hệ sản xuất: Một là, đáp ứng nhu cầu đối phó với môi trường tự nhiên, đào sông dẫn nước, đắp đê chống hạn, hỗ trợ đổi công thu hoạch…; hai là, liên kết với nhau để đối phó với môi trường xã hội, bảo vệ dân thôn, tránh nạn trộm cướp… [Trần Ngọc Thêm 2006a: 183] Mô hình tổ chức đời sống cộng đồng trên cơ sở địa bàn cư trú và quan hệ sản xuất đó được gọi là “làng” Người dân sống trong một làng, bên cạnh những ràng buộc cá nhân, sinh hoạt cá nhân trong phạm vi gia đình, còn có những ràng buộc trong phạm vi làng, tham
gia vào những hoạt động, sinh hoạt
của cộng đồng Người Việt cũng
luôn tâm niệm rằng “Đất có Thổ
Trang 27Mô típ văn hóa “lập làng - dựng đình - thờ thần Thành Hoàng” trở thành một
mô típ phổ biến trong mỗi làng quê Việt “làng không có Thành Hoàng, làng bất an” [Toan Ánh 1999: 165] Vì bởi, “Đối với dân làng, Thành Hoàng là biểu hiện của
lịch sử, phong tục đạo đức, pháp luật cùng hy vọng của cả làng, lại cũng là một thứ quyền siêu việt, một mối liên lạc vô hình, khiến cho hương thôn thành một đoàn thể
có một tổ chức và hệ thống chặt chịa” [Đào Duy Anh 1951: 45]
Đối với người Việt, gắn liền với nhịp sống mùa vụ trong năm là những lễ hội, trong đó quan trọng nhất là hội làng Đó là một hoạt động văn hóa mang tính truyền thống của cộng đồng làng, là nét đặc sắc trong văn hóa làng Việt Hội làng là dịp để mọi vất vả lo toan đời thường xếp lại, tất cả đều hướng đến lễ thần và vui nhàn Và đây cũng là dịp để cư dân làng nhớ về vị thần làng mình thờ, dù đối tượng thần như thế nào, là hiện tượng thiên nhiên hay hình ảnh tự nhiên, hoặc những vị đã có công dẹp giặc giữ nước, những vị có công tụ dân lập làng, những vị đem về cho làng một nghề nào đó… thì tựu chung lại vẫn là ý thức nhớ về cội nguồn và cầu mong “nhân khang vật thịnh” hay “quốc thái dân an”
Nghi lễ quan trọng nhất của hội làng chính là lễ Tế thần làng - thần Thành Hoàng Tế thần là để tỏ lòng biết ơn thần vì những gì thần che chở, bảo hộ cho dân thôn trong năm qua, đồng thời cầu mong thần phù hộ một năm làm ăn mới
Người Việt miền Tây Nam bộ là một bộ phận của người Việt, nên những giá trị văn hóa truyền thống đã hằn sâu trong nếp sống, nếp nghĩ của mỗi người như
“trường hợp xi măng đã nhồi vào nước, cứng lại, khó sửa đổi, trở thành chân
phương rồi” [Sơn Nam 1985: 19] Trên mảnh đất mới, hệ thống các giá trị văn hóa
truyền thống, những tập tục tín ngưỡng, khuôn mẫu thiết chế văn hóa “đình - chùa - miếu - võ” cùng những hình thức lễ hội của làng xã cổ truyền, những câu hò, điệu
ví, truyện kể v.v tiếp tục được ươm trồng và phát triển Tuy nhiên trong một điều kiện sinh thái - nhân văn khác biệt, tín ngưỡng này nơi đây đã nảy sinh những chi lưu mới
Trang 28Cho đến cuối thế kỷ XVIII, người Việt đã đặt chân tới nhiều nơi trên vùng đồng bằng sông Cửu Long Song vào thời gian đầu khai khẩn, người Việt chủ yếu tập trung ở các vùng Mỹ Tho, Bến Tre, nhất là những vùng gần sông Vàm Cỏ, sông Tiền là những vùng có nhiều thuận lợi đối với việc làm lúa nước Còn ở vùng bên hữu ngạn sông Tiền qua đến sông Hậu, lưu dân người Việt cũng đã có mặt, nhưng
do môi trường thiên nhiên ít thuận lợi, đất trũng thấp nên số người đến ở và khai khẩn chưa nhiều Họ chỉ sống rải rác trên một số nơi như Châu Đốc, Sa Đéc, Tân Châu hay ở một vài nơi ven biển như Cà Mau, Rạch Giá, Hà Tiên và trên một số đảo lớn như Thổ Châu, Phú Quốc… [Thạch Phương và nnk 1992: 31] Sang đến thế kỷ XIX, dân số tăng lên do sinh đẻ tự nhiên và do lưu dân miền ngoài tiếp tục nhập cư khai khẩn theo sự vận động của triều Nguyễn, vì vậy vùng đất nào trước đó còn hoang vắng thì nay lần lượt có người đến ở và khai phá Các trung tâm định cư hình thành trong các thế kỷ trước ở vùng ven sông Vàm Cỏ, sông Tiền, vùng giữa sông Tiền và sông Hậu giờ đây được nối liền thành một dãy đồng ruộng, vườn tược liên tiếp chạy dài từ Đông Nam bộ xuống Tây Nam bộ
Trang 29Về nguồn gốc xuất thân của những lưu dân, “trong số người Việt lần hồi tụ tập
về đây, thành phần chủ yếu nhất là những người nông dân và thợ thủ công nghèo khổ ở các tỉnh phía ngoài bị cùng cực điêu đứng vì chiến tranh, bị giai cấp phong kiến áp bức, bóc lột tàn bạo, không thể sống nổi, buộc lòng phải rời bỏ quê hương, làng xóm (…) di cư vào các vùng đất mới xa xôi đi tìm con đường sống (…) Ngoài ra, còn phải kể đến những người trốn tránh binh dịch, những tù nhân bị lưu đày, những binh lính đào ngũ hoặc giải ngũ, những thầy lang, thầy đồ nghèo… và
cả những người vốn đã giàu có nhưng vẫn muốn tìm nơi đất mới để mở rộng công việc làm ăn” [Huỳnh Lứa (cb) 1987: 38,42] Về xuất xứ, đại đa số là người Việt gốc
từ Thanh - Nghệ, Quảng Bình và đặc biệt đông hơn cả là người Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Định, cũng có một số ở phía Bắc di cư vào (khi Nguyễn Ánh giành đoạt chính quyền lập nên triều đại phong kiến triều Nguyễn)
Như vậy, trải qua hơn 300 năm, nhiều lớp người Việt, từ vùng đất sinh tụ lâu đời của mình là châu thổ sông Hồng, sông Mã và đông đảo nhất là từ vùng Ngũ Quảng (Nam Trung Bộ) đã lần lượt đến lập nghiệp ngày càng đông đảo ở vùng đất cực Nam của Tổ quốc Dù ở vị trí nào, nguồn gốc dân cư nào thì những lưu dân đều mang theo hệ thống các giá trị văn hóa đặc trưng vùng miền của cố hương Và khi dựng ấp, lập làng họ cố gắng thiết lập lại những giá trị văn hóa đó Tuy nhiên, trong quá trình chung sống, bên cạnh việc cố giữ những sắc thái văn hóa của riêng mình, lưu dân cũng phải cố dung hòa với những sắc thái văn hóa của nhóm người khác để tạo nên tiếng nói chung Chính cấu trúc đa cực dân cư trên miền đất mới đã tạo nên
sự tụ hội nhiều dòng chảy văn hóa trong tục thờ thần Thành Hoàng nơi đây
Trong lớp cư dân mới đến vùng đồng bằng sông Cửu Long vào cuối thế kỷ XVII, còn có một số người Hoa từ các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Phúc Kiến (Trung Quốc), mà phần đông là quan quân nhà Minh không chịu khuất phục triều đình Mãn Thanh, đến Việt Nam xin tị nạn và làm ăn sinh sống Đến Mỹ Tho và Biên Hòa có nhóm do Dương Ngạn Địch và Trần Thượng Xuyên dẫn đầu, khoảng 3.000 người (năm 1679); đến Hà Tiên (Mang Khảm) có nhóm do Mạc Cửu thống lĩnh, khoảng 200 người (1680) Và từ thế kỷ XVII trở đi, lần lượt nhiều người dân
Trang 30nghèo thuộc các tỉnh ven bờ biển đông nam
Trung Quốc (Triều Châu, Phúc Kiến, Quảng
Đông, Hải Nam) dắt díu nhau nhập cư vào
đồng bằng sông Cửu Long để kiếm sống
Vào khoảng giữa thế kỷ XVIII, người
Chăm đến vùng đất này với tư cách là những
thần dân phiêu tán của vương quốc Chăm Pa
đang tan rã “Con đường phiêu bạt” của họ
đến đất Nam bộ gần như phải đi một đường
vòng từ Nam Trung bộ sang Campuchia rồi di
chuyển về đồng bằng sông Cửu Long (chủ yếu
tập trung trên địa bàn biên giới Việt Nam - Campuchia thuộc khu vực tỉnh An Giang…) và sau đó một bộ phận lại phân
tán về sinh sống tại Sài Gòn Con đường
phiêu tán ấy làm cho văn hóa của người
Chăm nơi đây có những nét mới mẻ so
với vốn văn hóa truyền thống của người
Chăm ở Nam Trung bộ, đặc trưng quan
trọng nhất là các ảnh hưởng của văn hóa
Hồi giáo (Islam) thay vì chủ yếu là văn
hóa Bà La Môn giáo trước kia [Huỳnh
Trang 31mở rộng nhờ những hoạt động khai hoang và chống thú dữ ngày càng có kết quả Theo Mạc Đường, về đại thể ở đồng bằng
sông Cửu Long vào cuối thế kỷ XV đã
hình thành ba vùng dân cư tập trung của
người Khơme: vùng Hậu Giang - Minh
Hải (chủ yếu là Sóc Trăng, Vĩnh Châu,
Vĩnh Lợi…); vùng An Giang - Kiên
Giang (chủ yếu là vùng núi Vọng Thê,
Tri Tôn, Nhà Bàng sang đến phía Tây bắc
Hà Tiên); vùng Cửu Long (chủ yếu là
vùng Trà Vinh cũ) [Mạc Đường 1982: 35] Tuy nhiên, quá trình khẩn hoang của người Khơme diễn ra chậm chạp, theo nhịp điệu của một nền sản xuất nhỏ tự cấp,
tự túc với phương thức khai phá “đào ao, lên liếp, chọn giồng” nên về cơ bản, Tây Nam bộ, cho đến trước khi lưu dân Việt xuất hiện vẫn là một vùng đất hoang vu Như vậy, cùng với lớp cư dân tại chỗ, lưu dân mới đến gồm nhiều thành phần dân tộc, trong đó thành phần chủ yếu là người Việt, người Chăm, người Hoa đã đồng tâm cộng khổ, chung lưng đấu cật để khai khẩn đất hoang tạo dựng nên một vùng đất trù phù hôm nay Và quá trình cộng cư đó đã tạo nên những biến động văn hóa của mỗi tộc người để hình thành những đặc điểm cộng đồng giữa bốn yếu tố văn hóa cấu thành: Khơme, Việt, Hoa, Chăm “Quá trình biến động đó đã diễn ra bằng các hình thức từ tiếp xúc văn hóa đến giao hoán văn hóa và từ sự tước bỏ những yếu tố văn hóa truyền thống lỗi thời đến sự thu nhận các tinh hoa văn hóa lẫn nhau giữa các dân tộc” [Mạc Đường 1982: 39] Trong đó, văn hóa của người Việt là dòng văn hóa chủ lưu, những phong tục, tập quán, văn hóa của người Việt đã có ảnh hưởng sâu sắc trong các vùng cư trú - dân tộc ở đồng bằng sông Cửu Long Đồng thời có một vai trò then chốt như là một chất xúc tác để hội tụ các bản sắc văn hóa tinh hoa của người Khơme, người Hoa, người Chăm và làm cho nó chuyển hóa hòa vào trong nền văn hóa dân gian người Việt như là những nhân tố mới được phát triển và nâng cao hơn
Hình 1.6: Cộng đồng người Khơme ở
Tây Nam bộ
[Nguồn: http://cuocsongviet.com.vn/]
Trang 321.2.4 Cơ sở địa lý - tự nhiên
Tây Nam bộ là phần lãnh thổ ở phía cực nam của Việt Nam, có diện tích 39.734km2, phía Đông Bắc giáp với miền Đông Nam bộ, phía Bắc giáp Campuchia, phía Tây giáp Vịnh Thái Lan, phía Đông Nam và Nam giáp biển Đông
Tây Nam bộ nằm gọn trong
những vĩ tuyến Bắc rất thấp: từ 8o35’
đến 11o nên khí hậu thể hiện tập trung
tính chất bán đảo nhiệt đới và gió mùa
của nước ta
Nhiệt độ trung bình năm khoảng
27oC, cao nhất không quá 30oC, thấp
nhất không dưới 25oC Chế độ gió
mùa ở đây tạo nên nhịp điệu mùa rõ
rệt: từ tháng 5 đến tháng 10 là thời kỳ
gió mùa Tây Nam, là mùa mưa, tập
trung tới 80%-90% lượng mưa cả
năm; từ tháng 11 đến tháng 4 là thời
kỳ gió mùa Đông Bắc khô khan Tuy mưa tập trung trong một số tháng, làm cho hai mùa phân biệt nhau rõ rệt: hết mùa khô là đến mùa mưa nhưng độ ẩm ở các tháng đều cao, trung bình khoảng 80%
Tây Nam bộ được bao bọc bởi một mạng lưới sông, rạch và kênh đào chằng
chịt: 2.500km sông rạch tự nhiên và 2.500km sông rạch đào Chúng cắt xẻ bề mặt
châu thổ thành những ô vuông làm cho giao thông trong miền chủ yếu là bằng đường thủy Trong đó, hệ thống sông Cửu Long đóng vai trò chủ lực trong việc bồi đắp phù sa màu mỡ cho vùng đồng bằng châu thổ phía Nam Việt Nam Sông Cửu Long là phân khúc của sông Mê Kông - một trong mười con sông lớn nhất thế giới, được bắt nguồn từ cao nguyên Tây Tạng Khi vào Việt Nam, sông Mê Kông chia thành 2 nhánh: sông Tiền ở phía Bắc, sông Hậu ở phía Nam rồi đổ ra biển Đông qua
Hình 1.7: Các tỉnh thành miền Tây Nam
bộ
[Nguồn: www.wrd.gov.vn/]
Trang 339 cửa sông: cửa Tiểu, cửa Đại, cửa Ba Lai, cửa Hàm Luông, cửa Cổ Chiên, cửa Cung Hầu, cửa Định An, cửa Bassac và cửa
Trần Đề [Nguyễn Công Bình và nnk 1990:
12-14] Vào mùa lũ lớn, chín cửa sông tuôn
nước ào ạt ra biển như chín đầu rồng phun
nước, có lẽ vì thế mà sông Mê Kông ở Việt
Nam được mang cái tên đầy hình tượng:
sông Cửu Long7 Và vùng đồng bằng châu
thổ Tây Nam Bộ còn được gọi là đồng bằng
châu thổ sông Cửu Long
Tây Nam bộ là một vùng châu thổ rộng,
thấp, bằng phẳng nhưng đa dạng: Về địa
hình, có vùng núi (vùng Bảy Núi, vùng đồi
thấp ở An Giang), vùng biển (như Bạc Liêu,
Kiên Giang), vùng rừng (vùng rừng U Minh), vùng đồng bằng Phù hợp với đặc trưng địa lý thổ nhưỡng của từng vùng là các loại hình hoạt động sản xuất khác
nhau: nghề ruộng, nghề rẫy, nghề rừng, nghề sông, nghề biển; về chế độ thủy văn,
có ba đặc điểm nổi bật: nước ngọt và lũ lụt vào mùa mưa chuyển tải phù sa, nước
mặn vào mùa khô ở vùng ven biển, nước phèn vào mùa mưa ở vùng nước phèn về
tài nguyên đất, có ba nhóm đất chính là: đất phù sa (khoảng 1,2 triệu ha - tập trung
ở trung tâm đồng bằng sông Cửu Long), đất phèn (khoảng 1,6 triệu ha - tập trung ở vùng Đồng Tháp Mười, Tứ giác Long Xuyên, còn có đất phèn mặn ở bán đảo Cà
7 Người Việt vốn có khái niệm sâu sắc về rồng vì nó gắn liền với truyền thuyết hình thành dân tộc Việt Nam
từ buổi xa xưa, do đó như một lời nhắc nhở thường xuyên về cội nguồn và ý thức dân tộc [Phan Quang 1985:6]
Theo minh chứng của địa chất học, sông Cửu Long còn là dòng sông chính kiến tạo nên những thềm phù sa
cổ ở miền Đông Nam Bộ Đến thời kỳ Cánh Tân (Pléistocène – cách đây chừng 26 triệu năm), miền Đông Nam Bộ cùng với dãy Đậu Khấu ở Campuchia được nâng lên đồng thời với sự sụt lún của vịnh biển bây giờ
là châu thổ Nam Bộ, sông Cửu Long trượt dần xuống phía Nam đến vị trí ngày nay [Nguyễn Công Bình và nnk 1990: 13]
Hình 1.8: Mạng lưới sông, kênh ở
Tây Nam bộ
[Nguồn: Liên hiệp các hội khoa học
và kỹ thuật Việt Nam]
Trang 34Mau) và đất nhiễm mặn (khoảng 0,7 triệu ha); về hệ sinh thái gồm: hệ sinh thái
rừng ngập mặn, hệ sinh thái đầm nội địa, hệ sinh thái cửa sông8
Qua địa lý - tự nhiên, có thể thấy rằng, thiên nhiên ưu đãi cho mảnh đất Tây Nam bộ nhiều lợi thế song cũng hàm chứa không ít những khó khăn, vất vả Đó là
sự tồn tại trạng thái tương phản: tương phản giữa sông và biển, mùa khô và mùa mưa, lũ và hạn, đất phù sa ngọt và đất phèn, đất mặn… Trước hoàn cảnh đó, buộc những lưu dân Việt phải linh động nhận biết và sử dụng cái thuận lợi của tự nhiên cũng như phải tìm cho được cái khó khăn để thích nghi hay khắc phục Công cuộc chinh phục đồng bằng sông Cửu Long là sản phẩm sáng tạo của lưu dân Việt- trong vai trò chủ thể, suốt 300 năm qua Đó là quá trình con người tác động vào điều kiện
tự nhiên, khai thác điều kiện tự nhiên để phục vụ cho đời sống thường nhật Ngược lại, với vai trò là khách thể, tự nhiên cũng tác động vào tâm thức của cư dân Việt, khiến cho người Việt bắt đầu hình thành nên những tập tục, nếp sống, nếp nghĩ khác với truyền thống vốn có
Ä Ä
Ä
Tín ngưỡng thờ hộ thần của người Việt được nảy sinh từ nhu cầu tâm linh của con người trong quá trình tương tác với môi trường tự nhiên từ thuở xa xưa Đúng theo quy luật: xã hội thế nào thì con người tạo nên thần của họ thế ấy, hay con người tạo ra thần theo mô hình xã hội mà họ đang sống Xã hội người Việt từ nguyên thủy cổ xưa cho đến thời phong kiến sau này, giữa một thiên nhiên nhiệt đới, khí hậu khắc nghiệt, giữa một tự nhiên bao quanh trùng điệp rừng núi, sông nước, giữa một nền sản xuất nông nghiệp phải trông chờ vào các điều kiện khách quan, trong một hoàn cảnh lịch sử luôn phải chống lại thiên tai, địch hoạ… con người còn phải cố kết lại với nhau thành những làng ấp, để mưu cầu sinh sống an
cư, lạc nghiệp bằng sức mạnh của chính mình và bằng những lực lượng thần linh
8 http://www.mekongdelta.com.vn/mekongdelta/news.asp?cate_Id=23&news_id=3&sub_id=25
Trang 35che chở Do đó, người Việt xưa đã tạo nên những thần làng của mình với tính chất chung là phúc thần, thần hộ mệnh của dân làng Như vậy, trước khi văn hóa Hán du nhập vào Việt Nam, người Việt cũng đã có một đời sống văn hóa tín ngưỡng phong phú Nói cách khác, tên gọi “Thành Hoàng” chỉ là lớp vỏ ngôn từ mà người Việt vay mượn của văn hóa Hán để khoác lên tín ngưỡng bản địa của dân tộc đã có từ xa xưa
Lưu dân Việt, trong quá trình di cư vào vùng đất mới với ý thức không quên hướng về cội người dân tộc, với nhu cầu văn hóa tâm linh và nhu cầu cộng cảm, nhu cầu gắn kết cộng đồng, đã gieo trồng những giá trị văn hóa truyền thống Đó là các thiết chế đình chùa miếu võ, là những câu dân ca, điệu hò, là những lễ hội làng
xã với vị thần làng - thần Thành Hoàng v.v Tuy nhiên, trong điều kiện tự nhiên,
xã hội, tín ngưỡng thờ thần Thành Hoàng ở miền Tây Nam bộ sẽ có những thay đổi cho phù hợp với đặc thù của vùng đất mới
Trang 36CHƯƠNG 2 TÍN NGƯỠNG THỜ THẦN THÀNH HOÀNG
CỦA NGƯỜI VIỆT Ở MIỀN TÂY NAM BỘ:
NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CHUNG
Để nhận diện những đặc điểm chung của tín ngưỡng thờ thần Thành Hoàng của người Việt ở miền Tây Nam bộ, chúng tôi trình bày từ ba góc độ: từ chủ thể văn hóa, nhằm chỉ ra cái riêng của văn hóa tín ngưỡng gắn với người Việt trong quan hệ
so sánh với cộng đồng văn hóa khác; từ sử - văn hóa, nhằm khảo sát quá trình hình thành phát triển của tín ngưỡng thờ thần Thành Hoàng của người Việt; và từ góc nhìn địa - văn hóa, nhằm khảo sát đặc điểm phân bố của đình làng, tín ngưỡng thờ thần Thành hoàng của người Việt gắn với điều kiện địa lý tự nhiên
2.1 Nhìn từ chủ thể văn hóa
2.1.1 Thành Hoàng - thần bảo hộ của người Việt (người Kinh)
Tây Nam bộ là mảnh đất cộng cư của nhiều tộc người, trong đó chủ yếu là người Việt (người Kinh), người Khơme, người Chăm và người Hoa Những tộc người ấy đã cùng sát cánh bên nhau, lao động sản xuất và tạo dựng nên một vùng đồng bằng châu thổ màu mỡ phía nam Việt Nam Trong đó, cư dân Việt và văn hóa Việt đã thực sự trở thành nền tảng của toàn vùng đồng bằng sông Cửu Long từ thế
kỷ XVIII cho đến tận ngày nay Tuy nhiên, bên cạnh dòng văn hóa chủ lưu, sắc thái văn hóa của các tộc người Chăm, Hoa, Khơme vẫn lung linh tỏa sáng như một minh chứng cho sự đa dạng văn hóa của miền Tây Nam bộ Như Mạc Đường đã nhận xét:
“Mỗi thành phần tộc người (ethnos) đều là một đặc trưng văn hóa và tâm lý xã hội” [Mạc Đường 1991:42]
Cũng như người Việt, các tộc người khác ở Tây Nam Bộ cũng có đời sống văn hóa tín ngưỡng với hệ thống thần của riêng mình, trong đó có cả thần bảo hộ
Trang 37Người Hoa xuất hiện ở vùng đất Tây Nam bộ từ thế kỷ XVII (xem thêm Chương 1, mục 1.2.3) Trải qua thời gian dài chung sống, hòa nhập với cộng đồng người Việt, người Hoa đã sớm thích nghi và nhanh chóng trở thành một thành phần trong cộng đồng dân tộc Việt Nam (mang quốc tịch Việt Nam - còn được gọi là người Việt gốc Hoa) Hành trang văn hóa mà lưu dân Hoa mang theo có cả những thần thánh, tín ngưỡng cổ truyền của họ Trong vô số thần thánh ấy, người Hoa thờ nhiều nhất là các vị thần như Quan Thánh, Quan Âm, Bà Thiên Hậu, ông Bổn… Đáng lưu ý là tục thờ ông Bổn với tư cách là một tín ngưỡng cộng đồng
Về nguồn gốc xuất thân của ông Bổn, trong cộng đồng người Hoa hiện tồn tại
2 quan niệm: theo người Hoa Triều Châu và Hải Nam, ông Bổn là tên gọi tắt chức Bổn đầu công của Trịnh Hòa, một quan chưc nhỏ đời Minh bên Trung Quốc, có công tổ chức người Trung Quốc vượt biển đến Việt Nam; còn đối với người Hoa Phước Kiến thì ông Bổn là Châu Đạt Quan, một viên quan nhà Nguyên (thế kỷ XIII), đã từng tham gia nhiều sứ bộ Trung Quốc đến các nước Đông Nam Á, trong
đó có Chân Lạp và Việt Nam
Dù quan niệm về nguồn gốc của
ông Bổn như thế nào thì trong tâm thức
người Hoa, ông Bổn là vị thần cai quản
một khu vực đất đai và cả những con
người còn sống trên địa vực đó Nói
cách khác, họ quan niệm đây là một vị
thổ thần Đối với các cư dân nông
nghiệp, cũng như đối với đồng bào
Hoa có nguồn gốc là nông dân, vị thần
đất chính là vị thần đem lại của cải, sự giàu có, thịnh vượng, hạnh phúc và sự bình yên cho con người Cũng chính do bản chất là một thổ thần cai quản một địa vực mà tín ngưỡng ông Bổn của người Hoa được đồng hóa với tín ngưỡng Thành Hoàng của người Việt hay tín ngưỡng Neak Ta của người Khơme [Nguyễn Xuân Nghĩa 1984:195]
Hình 2.1: Chùa ông Bổn ở Bạc Liêu [Nguồn: http://www.congan.com.vn/]
Trang 38Người Khơme ở Tây Nam bộ sống trong các phum, sóc (giống như làng của người Việt) Đa số họ là những cư dân nông nghiệp gắn liền với nghề trồng trọt và chăn nuôi Tuy Phật giáo giữ vai trò chủ
đạo trong đời sống tâm linh, song người
Khơme vẫn có hệ thống tín ngưỡng dân
gian phong phú, đa dạng như: tín ngưỡng
Neak Ta, tín ngưỡng Arak, tín ngưỡng
hồn lúa… Trong đó, Neak Ta được thờ tự
như một vị thần bảo hộ của phum sóc, và
là sức mạnh củng cố tinh thần cộng đồng
gắn bó nhau giữa những người Khơme
trong phum, sóc Người Khơme thờ Neak
Ta trong một miếu nhỏ đặt ở góc phum, sóc hay góc ruộng Neak Ta để thờ là những hòn đá hình bầu dục, mặt nhẵn bóng Có loại Neak Ta thuộc loại cây (Neak
Ta Xăm rông, Neak Ta đôm chay…), Neak Ta thuộc địa thế (Neak Ta bến đò, Neak
Ta giếng vẹo), v.v Dù Neak Ta mang tên gì thì cũng phải gắn với lợi ích thiết thực của dân chúng và được họ suy tôn là thần bảo hộ [Trường Lưu (cb)1993: 50] Mỗi năm, dân trong phạm vi cai quản của Neak Ta tập trung tổ chức cúng Neak Ta một lần, vào khoảng tháng 4 dương lịch, với ý
nghĩa cầu an cho mọi người, cầu mưa
thuận gió hòa, thời tiết thuận lợi cho được
mùa, được vụ
Người Chăm ở Tây Nam bộ (tập
chung chủ yếu ở vùng Châu Đốc - An
Giang, nên còn được gọi là người Chăm
Châu Đốc) đều theo đạo Islam và lấy kinh
Coran làm kim chỉ nam cho hoạt động tín
ngưỡng của mình nên ít có những tín
ngưỡng riêng Mọi sinh hoạt tín ngưỡng của họ đều quy tụ ở thánh đường Hồi giáo
Hình 2.2: Ông Tà đã được tượng hóa
Trang 39và theo các tín điều do kinh Coran quy định [Nguyễn Công Bình và nnk 1990: 379]
Làng của người Chăm được gọi là paley Mỗi paley đều có một thánh đường Hồi
giáo được xây ở vị trí cao ráo và là trung tâm sinh hoạt của mỗi paley Mỗi paley có
thể có một hoặc nhiều surao, được xem như nơi sinh hoạt cộng đồng của puk (xóm)
để tín đồ làm lễ hàng ngày Tuy vậy, không phải mỗi puk đều phải lập một surao Nếu các puk đều quy tụ chung quanh thánh đường mà tín đồ trong puk đến thánh đường làm lễ hàng ngày một cách thuận tiện thì không cần phải lập thêm surao Với tín đồ Hồi giáo, họ thực hiện thống nhất 5 nền tảng căn bản của Islam như: tin tưởng Thượng đế Allah tối cao là duy nhất và Muhammad là Thiên sứ có công khai sáng Islam; cầu nguyện (Sambahyang) đủ 5 lần mỗi ngày; chay nhịn (Ơk) trọn tháng Ramandan; bố thí (Zakat) để giúp đỡ người khó khăn hơn mình; và nếu có khả năng thì hãy một lần trong đời hành hương viếng đất Mecca (Arab Sau di) để làm lễ Haji
Tựu chung, mỗi cộng đồng dân cư ở đồng
bằng sông Cửu Long đều có một “kiểu lựa chọn”
văn hóa tín ngưỡng riêng, phù hợp với nhân sinh
quan của mỗi tộc người Thần bảo hộ hiện diện
trong đời sống của các tộc người cũng khác,
mang sắc thái văn hóa đặc thù riêng: với người
Khơme là Neak Ta, với người Hoa là ông Bổn,
với người Chăm là Thượng đế Allah, với người
Việt là thần Thành Hoàng Như vậy, thần Thành
Hoàng là sản phẩm văn hóa tinh thần của người
Việt nói chung và người Việt Tây Nam bộ nói
riêng Tín ngưỡng ấy được nảy sinh từ truyền
thống văn hóa, từ thực tiễn lịch sử - xã hội Trú
sở của thần là ngôi đình khang trang, nằm ở vị trí trung tâm của làng Thần được vua ban sắc thần theo quan niệm “Thiên tử phong bách thần”, được tổ chức thờ tự
và thực hành tín ngưỡng với những thiết chế, nghi lễ của một vị quan triều đình
Hình 2.4: Thành Hoàng - Hộ
thần của người Việt
[Nguồn: Lê Thị Ninh]
Trang 402.1.2 Người Việt vùng Thuận Quảng là những cư dân Việt đầu tiên đặt nền móng văn hóa Việt trên đất Tây Nam bộ
Theo nhận định của nhiều nhà nghiên cứu, người Việt vùng Thuận Quảng là những cư dân đầu tiên gieo trồng văn hóa Việt trên đất Tây Nam bộ và đúng như Huỳnh Ngọc Trảng nhận định: “Đa số lưu dân đến Đồng Nai - Gia Định lập nghiệp
là dân Thuận Quảng Điều này đã chỉ rõ văn hóa Thuận - Quảng là những hạt giống đầu tiên gieo trồng trên vùng thổ ngơi mới này và chúng sẽ là cơ sở của văn hóa Tây Nam bộ” [Huỳnh Ngọc Trảng 1992: 56]; Thạch Phương cũng cho rằng: “Dân Nam bộ là dân có gốc gác khắp các vùng trong cả nước, mà nhiều nhất là dân Thuận Quảng, phong tục tập quán của Nam bộ từ buổi đầu là sự tiếp tục dòng phong tục tập quán Bắc bộ, Trung bộ mà sâu đậm nhất là từ Thuận Hóa trở vào” [Thạch Phương và nnk 1992: 104]; Sơn Nam cũng viết: “Dân nòng cốt là người miền Trung vào nên phong tục, tập quán tương đối thuần nhất” [Sơn Nam 2004: 62]
Nhận định trên không phải là không có cơ sở: Cuộc giao tranh kéo dài suốt
175 năm giữa hai tập đoàn phong kiến: họ Trịnh ở Đàng Ngoài và họ Nguyễn ở Đàng Trong đã gây nên cảnh đói khổ lầm than phổ biến khắp nơi Trong đó, Thuận
- Quảng, vùng địa đầu của Đàng Trong phải gánh chịu hậu quả nặng nề nhất Để có lực lượng hùng hậu đủ sức chống chọi với đối phương, tập đoàn phong kiến đã tiến hành việc bắt lính một cách ráo riết và tràn lan, khổ nhất vẫn là những người nông dân và thợ thủ công nghèo khổ không có thế lực và điều kiện trốn tránh Thêm vào
đó là việc chúng ra sức vơ vét vật lực, tài lực của nhân dân bằng cách đặt ra nhiều
thứ thuế nặng nề Lê Quý Đôn ghi nhận “Thuế khóa xứ Thuận hóa, pháp lệnh rất
phiền, nhân viên thu thuế rất nhiều, nên dân cùng nhà nghèo thường khổ về nộp gấp bội, mà trong thì ty lại, ngoài thì quan bản đường, bớt xén không thể kiểm xét được”
[Lê Quý Đôn 1964: 140] Chính sự vơ vét, bóc lột của bọn phong kiến họ Nguyễn,
sự nhũng nhiễu ức hiếp của bọn quan lại lớn bé, sự cướp đoạt ruộng đất và bóc lột
tô tức nặng nề của bọn địa chủ đã đẩy dân chúng, nhất là những người nông dân nghèo khổ vào con đường khổ sở, điêu đứng