Chương 1. NHỮNG TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.3 Văn hóa kinh doanh ở Việt Nam
1.3.2. Những đặc điểm của văn hóa kinh doanh ở Việt Nam
Nhận thức về kinh doanh ở Việt Nam thay đổi theo những biến động lịch sử. Ở giai đoạn tiền giao lưu với phương Tây, hoạt động kinh doanh bị coi nhẹ, thậm chí xem thường là “mạt nghiệp” do những nguyên nhân xuất phát từ những đặc trưng văn hóa sau:
+ Người Việt Nam trọng DANH hơn trọng LỢI. Trong khi việc buôn bán muốn thành công phải chú trọng đến LỢI (lợi nhuận), một yếu tố thực dụng thường được quy gán là nguyên nhân của những hành vi tội lỗi. Cũng do trọng DANH mà người Việt Nam thích học hành, đỗ đạt làm quan để làm vẻ vang cho dòng họ và coi khinh nghề buôn bán được xem là “mạt nghiệp”.
“Ở nước ta, suốt một thời gian dài kinh doanh không được xem là một nghề nghiêm chỉnh. ‘Nhất sĩ nhì nông, hết gạo chạy rông, nhất nông nhì sĩ’. Xã hội Việt Nam suốt ngàn năm cứ lẩn quẩn trong cái vòng ‘sĩ – nông’ này” [Trần Hữu Quang (cb) 2007: 229].
+ Văn hóa Việt Nam thiên về âm tính nên xem trọng sự ổn định. Người Việt Nam không thích sự thay đổi, di chuyển, do đó không phù hợp với những nghề nghiệp có tính động như làm ăn, buôn bán luôn đòi hỏi cạnh tranh và năng động. “Làm bạn với sông giang mất cả quang lẫn gánh”. Cách
tích lũy của cải được xem trọng chỉ là cố gắng tiết kiệm “Buôn tàu buôn bè không bằng ăn dè hà tiện”, “Buôn Ngô buôn Tàu không giàu bằng hà tiện”.
+ Bên cạnh yếu tố khách quan, nghề buôn bị coi rẻ trong xã hội truyền thống Việt Nam còn do yếu tố chủ quan là bản thân người thương nhân.
Thương nhân Việt Nam thường làm ăn gian dối, thiếu mất nhận thức về “chữ tín” với khách hàng nên càng bị xã hội lên án: “Thật thà cũng thể lái trâu”;
“Em ơi đừng lấy quân buôn, Khi vui nó ở khi buồn nó đi”… Doanh nhân trong xã hội truyền thống Việt Nam (và có lẽ cho đến tận bây giờ) vẫn bị quy gán cho những đức tính xấu như độc ác (Lý Thông), hám lợi (Cái cân thuỷ ngân), hợm của (Thạch Sùng).
Khi giao lưu với phương Tây, người Việt Nam dần dần nhận ra vai trò của sản xuất hàng hóa và thương nghiệp, ý thức được sức mạnh kinh tế. Đây là một bước tiến đáng kể trong cách nhìn nhận về nghề kinh doanh và người làm kinh doanh trong xã hội Việt Nam. Tuy nhiên, do hoàn cảnh lịch sử (chiến tranh kéo dài, đất nước bị chia cắt, cơ chế quan liêu bao cấp của nhà nước sau khi thống nhất đất nước), những quan điểm tích cực này không có sức ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống kinh tế, xã hội của Việt Nam.
Bước sang thời kỳ đổi mới kinh tế, hoạt động kinh doanh ở Việt Nam có bước tiến đáng kể nhờ những chính sách tích cực và hiệu quả của nhà nước.
Nhận thức về kinh doanh có những chuyển biến tích cực. Vai trò của hoạt động kinh doanh và vị thế của người doanh nhân được cải thiện. Trong một cuộc điều tra xã hội học ở TP.HCM tháng 5/2003, 94% số người được hỏi đã cho rằng “kinh doanh là một nghề có ích cho xã hội”, 74% tán thành “Người biết làm giàu là người đáng quí trọng”. Bên cạnh đó, doanh nhân Việt Nam hiện cũng có trách nhiệm và thức xã hội khá cao, muốn khẳng định năng lực cá nhân của mình [Nguyễn Hoàng Ánh 2004: 90 - 91]. Tuy nhiên trình độ
chuyên môn của đội ngũ doanh nhân chưa cao, vẫn còn bị chi phối bởi những đặc trưng của văn hóa doanh nghiệp như trọng tình hơn trọng lý, trọng ổn định, tư duy thiên về cảm tính. Rất ít doanh nghiệp có triết lý kinh doanh hay chiến lược kinh doanh trong khi lại quá tin vào may rủi (đặt bàn thờ trong doanh nghiệp, đi lễ chùa cầu xin sự phù hộ của các thế lực siêu nhiên). Một số doanh nhân có tư tưởng bảo thủ, không muốn hay không thể thay đổi cho phù hợp với xu hướng mới thị trường. “Những người này vì thế đã góp phần làm văn hóa kinh doanh Việt Nam kém năng động, chậm hòa đồng với tiến trình hội nhập, ảnh hưởng đến hình ảnh Việt Nam trên thương trường quốc tế” [Nguyễn Hoàng Ánh 2004: 104]
Tổ chức kinh doanh
Vì các doanh nghiệp Việt Nam có nguồn vốn khá hạn chế nên quy mô kinh doanh chỉ dừng lại ở mức vừa và nhỏ. Hầu hết các doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp tư nhân chủ yếu tập trung vào các ngành thương mại, dịch vụ (khoảng trên 80%), doanh nghiệp sản xuất chỉ có 11%. Điều này chứng tỏ doanh nhân chưa có phương hướng làm ăn lâu dài, chủ yếu làm ăn mang tính hàng xén, lặt vặt [Nguyễn Hoàng Ánh 2004:89]. Do trọng sự ổn định, các doanh nghiệp Việt Nam không thích mạo hiểm trong những lĩnh vực kinh doanh có độ rủi ro cao dù đem lại lợi nhuận cao.
Tổ chức doanh nghiệp còn mang nặng tính gia đình và gia trưởng.
Người lãnh đạo quyết định hầu hết các vấn đề trong doanh nghiệp. Tâm lý
“sếp lúc nào cũng đúng” khiến cho người nhân viên không dám phát biểu quan điểm hay đóng góp í kiến của mình trong hoạt động của doanh nghiệp.
Truyền thống lãnh đạo tập thể trong các doanh nghiệp Việt Nam, chỉ là biểu hiện dân chủ theo kiểu cào bằng, là thủ tục, hình thức để tránh trách nhiệm cá nhân, “huề cả làng” khi có sự cố [Nguyễn Thanh Lân 2007: 107].
Môi trường kinh doanh ở Việt Nam còn nhiều rủi ro do chính sách thiếu ổn định và minh bạch. Yếu tố quen biết, chạy chọt vẫn còn tồn tại, gây trở ngại cho những người có tài năng và mong muốn được làm giàu một cách chính đáng. Doanh nghiệp tư nhân vẫn còn phải đối phó với những thủ tục rườm rà, những rào cản pháp lý trong kinh doanh.
Ứng xử trong kinh doanh
Về ứng xử trong kinh doanh, người Việt Nam thường chú trọng các mối quan hệ. Quan niệm rằng yếu tố thành công quan trọng hàng đầu là quen biết rộng chứ không phải do năng lực vẫn còn phổ biến. Do coi trọng việc xây dựng quan hệ, các doanh nhân Việt Nam có thể làm quen đối tác qua thư từ, điện thoại nhưng khi đưa ra những quyết định quan trọng thì phải gặp gỡ và đàm phán trực tiếp.
Doanh nhân Việt Nam thường liên kết với nhau để chèn ép khách hàng.
Trong khi đó ở phương Tây, doanh nhân phải cạnh tranh gay gắt với nhau để tạo dựng chỗ đứng bằng cách đảm bảo lợi ích của khách hàng. Do tính linh hoạt trong tính cách văn hóa, nạn làm hàng giả và nói thách tùy tiện rất phổ biến trong họat động kinh doanh ở Việt Nam.
Vì chú trọng sự ổn định, nhiều doanh nhân Việt Nam chuộng làm việc theo lối cũ, hợp tác với những bạn hàng đã quen biết tuy lợi nhuận thu được không cao. Đây cũng là một cách đảm bảo an toàn trong khi đa số doanh nghiệp Việt Nam còn thiếu trách nhiệm cũng như tinh thần tôn trọng pháp luật. Trong hoạt động ngoại thương, doanh nghiệp Việt Nam thường mua CIF (mua hàng có giá bảo hiểm) bán FOB (bán hàng không bảo hiểm) để tránh rủi ro trong kinh doanh [Nguyễn Thanh Lân 2007: 109].
Do trọng tình nhẹ lý doanh nhân Việt Nam thường bị đánh giá là ít giữ lời hứa, không có tinh thần trách nhiệm và thiếu am hiểu về luật kinh doanh quốc tế, không quan tâm đến thực tế là chính sự công bằng trong kinh doanh tạo được lợi ích chung cho cả hai bên [Nguyễn Hoàng Ánh 2004:89]. Từ đó dẫn đến hệ quả là người Việt Nam không coi trọng hợp đồng hoặc thường lập những hợp đồng ngắn gọn và tìm cách sửa đổi các điều khoản nếu gặp tình huống bất lợi. Điều này để lại ấn tượng xấu trong mắt các đối tác phương Tây vốn tôn trọng tính pháp lý của hợp đồng.