Những thành tích to lớn kể trên tuy có làm cho mức sống chung của người dân đã được cải thiện, nhưng nhìn chung nước ta vẫn nằm trong số những nước nghèo nhất thế giới với thu nhập bình
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
ĐÀO DUY NGHĨA
CHÍNH SÁCH PHÂN PHỐI THU NHẬP CÁ NHÂN
Ở VIỆT NAM
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ CHÍNH TRỊ
MÃ SỐ: 60 31 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS LÊ MINH NGHĨA
HÀ NỘI - NĂM 2008
Trang 21.1.2 Lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về phân phối thu nhập cá
1.1.2.1 Vị trí của phân phối thu nhập cá nhân trong tái sản xuất xã hội
8 1.1.2.2 Lý luận phân phối theo lao động của C.Mác, Ph Ăngghen và
1.1.3 Lý thuyết phân phối thu nhập cá nhân trong kinh tế học hiện đại
11 1.1.4 Quan điểm của Đảng ta về phân phối thu nhập cá nhân từ khi
1.2 Vai trò, nguyên tắc và các hình thức phân phối thu nhập cá
nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở
1.3.1 Vai trò của Nhà nước trong phân phối thu nhập cá nhân 26 1.3.2 Chính sách phân phối thu nhập cá nhân của Nhà nước 27
1.3.2.2 Chính sách điều tiết của Nhà nước đối với thu nhập cá nhân
Trang 329
1.4 Kinh nghiệm thực hiện chính sách phân phối thu nhập cá
nhân của một số quốc gia và bài học kinh nghiệm đối với Việt
1.4.1 Kinh nghiệm cỏc nước chuyển đổi ở Đụng Âu 32
2.1 Thực trạng chính sách phân phối thu nhập cá nhân ở Việt
2.1.3 Một số chính sách xã hội tác động tới phân phối thu nhập cá
2.2 Thành tựu và một số vấn đề đặt ra đối với chính sách phân
2.2.1 Tác động của chính sách phân phối thu nhập cá nhân tới thu
2.2.2 Một số vấn đề đặt ra đối với chính sách phân phối thu nhập cá
CHƯƠNG 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH
SÁCH PHÂN PHỐI THU NHẬP CÁ NHÂN Ở VIỆT NAM
Trang 488 3.1 Quan điểm hoàn thiện chính sách phân phối thu nhập cá
nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam
88
3.1.1 Phân phối thu nhập cá nhân trong kinh tế thị trường định hướng
XHCN phải lấy nguyên tắc phân phối XHCN làm chủ đạo, gắn với
3.1.2 Phân phối thu nhập cá nhân trong KTTT định hướng XHCN
cần kết hợp hài hoà các lợi ích kinh tế để tạo động lực thúc đẩy tăng
3.1.3 Phân phối thu nhập trong KTTT định hướng XHCN cần giải
quyết hợp lý mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội
theo hướng tăng trưởng kinh tế gắn liền với đảm bảo tiến bộ và công
3.1.4 Phân phối thu nhập trong KTTT định hướng XHCN cần đặc
biệt quan tâm đến tầng lớp dân cư có thu nhập thấp, các vùng còn
3.2 Những giải pháp hoàn thiện chính sách phân phối thu nhập
3.2.2 Tiếp tục cải cách chính sách thuế thu nhập cá nhân nhằm điều
Trang 5Danh môc c¸c tõ viÕt t¾t
BHXH: B¶o hiÓm x· héi
Trang 6Danh mục bảng biểu
Bảng 1 Biểu thuế thu nhập đối với công dân Việt Nam và cá nhân khác định c- tại Việt Nam
Bảng 2: Biểu thuế thu nhập đối với ng-ời n-ớc ngoài c- trú tại Việt Nam và công dân Việt Nam lao động, công tác ở n-ớc ngoài
Bảng 3: Biểu thuế thu nhập đối với thu nhập không th-ờng xuyên
Bảng 4 Biểu thuế thu nhập đối với công dân Việt Nam và cá nhân khác định c- tại Việt Nam
Bảng 5: Thu ngân sách nhà n-ớc từ nguồn thuế thu nhập cá nhân qua các năm
Bảng 6: Chi ngân sách nhà n-ớc cho một số ch-ơng trình, dự án liên quan đến xóa
đói giảm nghèo giai đoạn 2000-2006
Bảng 7: Chi ngân sách nhà n-ớc cho BHXH qua các năm
Bảng 8: Chi ngân sách nhà n-ớc cho cứu trợ xã hội qua các năm
Bảng 9: Cơ cấu ngành kinh tế Việt Nam một số năm trong giai đoạn 1991-2007 Bảng 10: Thu nhập bình quân đầu ng-ời 1 tháng một số năm trong giai đoạn 1992-
2007
Bảng 11: Chênh lệch thu nhập giữa 20% dân số thu nhập cao nhất với 20% dân số thu nhập thấp nhất
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm vừa qua, kinh tế nước ta có bước phát triển mạnh mẽ, là một trong những nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh nhất châu Á cũng như trên thế giới, luôn đạt trên mức 7% Nhờ có sự tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ như vậy, đời sống của đại bộ phận nhân dân cả về vật chất và tinh thần đã được nâng lên đáng kể, thành tích giảm nghèo của Việt Nam trong những năm qua được cộng đồng quốc tế đánh giá rất cao bên cạnh thành tích tăng trưởng kinh tế nói trên Việt Nam là một trong số ít nước có chỉ số phát triển con người HDI cao hơn hẳn so với trình độ của nền kinh tế
Những thành tích to lớn kể trên tuy có làm cho mức sống chung của người dân đã được cải thiện, nhưng nhìn chung nước ta vẫn nằm trong số những nước nghèo nhất thế giới với thu nhập bình quân đầu người thấp, các chính sách an sinh
xã hội mới chỉ bước đầu được thực hiện song vẫn còn nhiều vướng mắc, diện tham gia bảo hiểm xã hội còn hẹp… Đặc biệt một vấn đề đáng lo ngại là khoảng cách giàu nghèo trong xã hội đang có xu hướng gia tăng, điều đó cho thấy sự phát triển kinh tế chưa thực sự đem lại lợi ích công bằng cho mọi thành viên trong xã hội, các chính sách phân phối thu nhập của Nhà nước đưa ra còn kém hiệu quả Chính vì vậy, việc nghiên cứu và đề ra một số giải pháp cho chính sách phân phối thu nhập
cá nhân ở Việt Nam đã và đang là vấn đề cấp thiết được đặt ra hiện nay Do đó, tác
giả đã lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Chính sách phân phối thu nhập cá nhân ở
Việt Nam.”
2 Tình hình nghiên cứu
Trong thời gian qua đã có một số công trình, sách báo nghiên cứu về vấn đề phân phối và phối thu nhập ở các cấp độ khác nhau:
Trang 8- Mai Ngọc Cường, Đỗ Đức Bình (chủ biên), Phân phối thu nhập trong nền kinh tế thị trường: Lý luận, thực tiễn và vận dụng ở Việt Nam, NXB Thống kê,
- Nguyễn Thị Hằng, Lê Duy Đồng, Phân phối và phân hóa giàu nghèo sau
20 năm đổi mới, NXB Lao động xã hội, 2005
- GS TS Nguyễn Công Nghiệp (chủ biên), Phân phối trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, NXB CTQG, 2006
- Hoàng Thị Thu Hồng, Đổi mới chế độ phân phối tổng sản phẩm quốc dân trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường ở nước ta, Luận án phó tiến sĩ, 1994
- Ung Thị Mỹ Lệ, Hệ thống lợi ích kinh tế và các quan hệ phân phối trong việc thực hiện chiến lược ổn định và phát triển kinh tế – xã hội Việt Nam, Luận án phó tiến sĩ kinh tế, 1996
- Đậu Đức Khởi, Vận dụng lý luận phân phối thu nhập cá nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN vào tập đoàn Điện lực Việt Nam, Luận án tiến sĩ kinh tế, 2008
- Tống Văn Đường, Đổi mới cơ chế phân phối thu nhập và tiền lương ở Việt Nam, Tạp chí Kinh tế và phát triển, số 40, 2000
- Trần Thị Hằng, Về phân phối thu nhập ở nước ta hiện nay, Lý luận chính trị, số 1, 2002
- Trần Văn Ngọc, Về phân phối kết quả sản xuất trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Lý luận chính trị, số 7, 2004
Trang 9- Phạm Đăng Quyết, Một số quan điểm về phân phối thu nhập trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Tạp chí Kinh tế và dự báo, số 8,
về chính sách phân phối thu nhập cá nhân chính càng trở nên rất quan trọng, nhưng vấn đề này còn chưa được nghiên cứu đầy đủ và hệ thống ở Việt Nam Chính vì vậy, tác giả lựa chọn vấn đề này làm đề tài cho luận văn tốt nghiệp
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở phân tích thực trạng chính sách phân phối thu nhập cá nhân ở Việt Nam thời gian qua để tìm ra những giải pháp thiết thực nhằm hoàn thiện chính sách phân phối thu nhập cá nhân trong thời gian tới
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
+ Hệ thống hoá những vấn đề lý luận chung phân phối thu nhập và chính sách phân phối thu nhập cá nhân, kinh nghiệm thực tiễn thực hiện chính sách phân phối thu nhập cá nhân ở một số quốc gia
Trang 10+ Phân tích thực trạng chính sách phân phối thu nhập cá nhân ở Việt Nam thời gian qua
+ Đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách phân phối thu nhập cá nhân trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu về thực trạng chính sách phân phối thu nhập cá nhân ở Việt Nam từ năm 1991 đến nay Năm 1991 là năm diễn ra Đại hội VII của Đảng Cộng sản Việt Nam, đánh dấu thời kỳ bắt đầu đẩy mạnh công cuộc đổi mới của Đảng và Nhà nước ta, với nhiều chủ trương, chính sách khuyến khích, thúc đẩy phát triển kinh tế nhiều thành phần được ban hành Với việc đổi mới chính sách kinh tế, quan điểm xây dựng cũng như nội dung các chính sách xã hội cũng thay đổi theo hướng mở rộng diện cũng như đối tượng cung cấp, thụ hưởng, đảm bảo cả công bằng theo chiều dọc cũng như công bằng theo chiều ngang
Chính sách phân phối thu nhập cá nhân là một trong những chính sách xã hội quan trọng và có tác động rộng rãi tới đời sống hàng ngày của mọi tầng lớp nhân dân Chính sách phân phối thu nhập cá nhân không phải là một chính sách riêng lẻ
mà là tổng hợp của rất nhiều chính sách kinh tế - xã hội của Nhà nước Trong phạm
vi luận văn này, tác giả chỉ phân tích một số chính sách cơ bản: chính sách tiền lương, chính sách thuế thu nhập cá nhân, một số chính sách xã hội như chính sách bảo hiểm xã hội, chính sách việc làm, chính sách xoá đói giảm nghèo và chính sách cứu trợ xã hội
5 Phương pháp nghiên cứu
Vấn đề phân phối thu nhập cá nhân có thể được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau, xong luận văn chỉ đặt vấn đề nghiên cứu dưới góc độ kinh tế chính trị Phương pháp nghiên cứu được xây dựng trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Trong quá trình nghiên cứu,
Trang 11luận văn có sử dụng các phương pháp như: thống kê, so sánh, điều tra thực tiễn phân tích, tổng hợp và hệ thống hoá
6 Đóng góp của luận văn
Luận văn có những đóng góp mới như sau:
- Hệ thống hoá được những vấn đề lý luận phân phối thu nhập, các chính sách phân phối thu nhập chủ yếu trên thế giới, đưa ra những kinh nghiệm đối với Việt Nam
- Phân tích thực trạng một số chính sách phân phối thu nhập cá nhân ở Việt Nam từ năm 1991 đến nay và những vấn đề đặt ra cần phải giải quyết cả trước mắt
và trong dài hạn
- Đưa ra được những giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách phân phối thu nhập cá nhân thời gian tới
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh muc tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương
Chương 1: Lý luận chung về chính sách phân phối thu nhập cá nhân
Chương 2: Chính sách phân phối thu nhập cá nhân ở Việt Nam thời gian qua
Chương 3: Quan điểm và giải pháp hoàn thiện chính sách phân phối thu nhập ở Việt Nam
Trang 12CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHÍNH SÁCH PHÂN PHỐI THU NHẬP CÁ NHÂN 1.1 Một số vấn đề lý luận chung về phân phối thu nhập cá nhân
Từ trước đến nay, vấn đề phân phối, đặc biệt là phân phối thu nhập cá nhân (TNCN) luôn giữ vai trò quan trọng không chỉ trong lý luận và thực tiễn kinh tế mà còn cả trong các vấn đề chính trị, xã hội Tầm quan trọng của vấn đề phân phối thu nhập cá nhân không chỉ ở chỗ nó nói lên quan hệ về lợi ích kinh tế mà còn phản ánh những nhân tố quyết định ẩn dấu đằng sau các quan hệ lợi ích đó, từ đó giúp chúng ta giải quyết được các vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội
1.1.1 Khái niệm phân phối thu nhập cá nhân
Để hiểu được thế nào là phân phối TNCN, trước hết chúng ta cần hiểu khái niệm thu nhập và phân phối thu nhập
Thu nhập là số lượng tiền, hàng hoá hoặc dịch vụ mà một cá nhân, tổ chức hay một nền kinh tế nhận được trong một khoảng thời gian nhất định (quý, tháng, năm)
Phân phối thu nhập là sự phân chia giá trị mới do lao động xó hội mới sỏng tạo ra cho cỏc thành viờn xó hội, cỏc tổ chức, các tập thể, nhằm đáp ứng những nhu cầu khác nhau của xó hội Theo đó, phân phối thu nhập cá nhân là sự phân chia giá trị mới do lao động xó hội sỏng tạo ra cho cỏc cỏ nhõn trong xó hội
Phân phối thu nhập cá nhân gồm 2 quá trình: phân phối lần đầu và phân phối lại (hay tái phân phối)
Phân phối lần đầu gắn trực tiếp với quỏ trỡnh tỏi sản xuất, gồm các khoản thu nhập mà cá nhân được nhận trực tiếp do bán sức lao động (tiền lương và các khoản thu nhập có tính chất lương), do sở hữu tài sản (lợi tức tiền gửi, cổ tức, nhận thừa kế,…)
Tái phân phối được tiến hành sau phân phối lần đầu nhằm điều tiết thu nhập, đảm bảo sự công bằng trong phân phối thu nhập giữa các cá nhân có thu nhập cao
Trang 13và các cá nhân có thu nhập thấp Nó gồm các chính sách và biện pháp kinh tế - xã hội của chính phủ như chi tiêu ngân sách nhà nước, tín dụng, tiền lương, bảo hiểm
xã hội, thuế thu nhập cá nhân, các khoản trợ cấp của chính phủ…
1.1.2 Lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về phân phối thu nhập cá nhân
1.1.2.1 Vị trí của phân phối thu nhập cá nhân trong tái sản xuất xã hội
C.Mác và Ph.Ăngghen lúc đương thời đã nghiên cứu một cách có hệ thống
và vạch rõ bản chất của phương thức sản xuất TBCN Các ông cho rằng chế độ phân phối TBCN là bất công vì nó dựa trên cơ sở quan hệ bóc lột của giai cấp tư sản đối với giai cấp công nhân và nhân dân lao động Vạch trần bản chất và phê phán phương thức phân phối TBCN, C.Mác và Ph.Ăngghen cũng đồng thời nêu lên quan điểm và nguyên tắc cơ bản về phân phối trong xã hội tương lai, đặt nền tảng cho lý luận phân phối nói chung, phân phối TNCN nói riêng trong CNXH Kế thừa
và tiếp tục phát triển tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen, V.I.Lênin đã tiếp tục làm
rõ hơn và cụ thể hoá các quan điểm và nguyên tắc phân phối TNCN trong CNXH
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, quá trình tái sản xuất bao gồm 4 khâu: sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu dùng Phân phối là một trong bốn khâu đó,
là một mắt xích trung gian trong quá trình tái sản xuất Phân phối bao gồm phân phối cho sản xuất và phân phối cho tiêu dùng cá nhân (hay phân phối tư liệu tiêu dùng) Ở đây chúng ta chỉ xem xét phân phối cho tiêu dùng cá nhân
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, “Phân phối cho tiêu dùng là sự phân chia sản phẩm cho các cá nhân tiêu dùng theo tỷ lệ đóng góp của họ vào việc
tạo ra sản phẩm” [18, tr.53]
Trong quá trình tái sản xuất, sản xuất bao giờ cũng giữ vai trò quyết định Quy mô, cơ cấu và trình độ phát triển của sản xuất quy định quy mô và cơ cấu của phân phối, trong đó có phân phối TNCN Nếu phân phối phù hợp với sự phát triển của sản xuất, động viên tính tích cực của người lao động thì sẽ thúc đẩy sản xuất phát triển, còn nếu không phù hợp thì nó sẽ cản trở sự phát triển của sản xuất
Phân phối và trao đổi có quan hệ mật thiết với nhau Trao đổi là sự tiếp tục của phân phối Trong kinh tế thị trường, phân phối TNCN được thực hiện dưới
Trang 14hình thức giá trị (tiền tệ) Người nhận được thu nhập tiền tệ đó sẽ biến thành thu nhập thực tế của cá nhân mình bằng việc mua hàng hoá và dịch vụ trên thị trường
Phân phối TNCN cũng quan hệ mật thiết với tiêu dùng Việc tăng hoặc giảm lượng sản phẩm, lượng giá trị (tiền tệ) phân phối cho cá nhân đều có tác động trực tiếp đến mức độ tiêu dùng Ngược lại, cơ cấu, phương thức và trình độ của tiêu dùng có tác động thúc đẩy hoặc kìm hãm sự tăng trưởng của phân phối
1.1.2.2 Lý luận phân phối theo lao động của C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin
Khi nghiên cứu nguyên tắc phân phối trong CNTB, C.Mác đã chỉ ra rằng giá trị mới sáng tạo ra được phân chia cho các giai cấp dựa vào sự đóng góp các yếu tố sản xuất: một bộ phận được phân phối cho người sở hữu sức lao động theo giá trị sức lao động, bộ phận còn lại phân phối cho người sở hữu tư liệu sản xuất Do đó giá trị mới được phân thành: tiền công, lợi nhuận, lợi tức và địa tô Trong đó, tiền công là thu nhập của người lao động và là hình thức thực hiện giá trị của quyền sở hữu sức lao động; lợi nhuận, lợi tức là thu nhập của nhà tư bản và là hình thức thực hiện giá trị của quyền sở hữu tư liệu sản xuất; địa tô là thu nhập của địa chủ và là hình thức thực hiện giá trị của quyền chiếm hữu ruộng đất Đó là nguyên tắc phân phối dựa trên quan hệ sở hữu các yếu tố tham gia vào quá trình sản xuất
Là những người sáng lập CNXH khoa học, C.Mác và Ph.Ăngghen đã sáng tạo ra nguyên tắc phân phối theo lao động trên cơ sở phát triển những mầm mống
tư tưởng về phân phối theo lao động của CNXH không tưởng
Tác phẩm "Phê phán cương lĩnh Gôta" của C.Mác đã đánh dấu sự hình thành
lý luận phân phối theo lao động Trong tác phẩm này, C.Mác nêu lên quan niệm về
xã hội tương lai, trong đó nguyên tắc phân phối TNCN sẽ là phân phối theo lao động Trong bộ "Tư bản", C.Mác đã khẳng định phương thức phân phối mới: lấy
lao động làm thước đo để phân phối C.Mác chỉ rõ "phần tư liệu sinh hoạt chia cho mỗi người sản xuất do thời gian lao động của người đó quyết định" [6, tr 124-125]
Tiền đề để thực hiện phân phối theo lao động gồm hai mặt liên quan chặt chẽ
với nhau: một là, đây là nguyên tắc phân phối trong giai đoạn đầu của xã hội cộng
Trang 15sản, "một xã hội cộng sản chủ nghĩa vừa thoát thai từ xã hội tư bản chủ nghĩa",
trong đó, người ta vẫn còn có lợi ích riêng, chưa coi lao động là nhu cầu bậc nhất
của con người; hai là, phân phối theo lao động được thực hiện trong điều kiện kinh
tế dựa trên chế độ công hữu
Dựa trên những tiền đề đó, C.Mác đã vạch ra nguyên tắc và phương thức phân phối theo lao động Chủ thể phân phối là người lao động, đối tượng phân phối
là tư liệu tiêu dùng, căn cứ để phân phối là thời gian lao động, phương thức thực hiện phân phối là phiếu lao động Như vậy, thời gian lao động là thước đo khách quan của phân phối, khi thực hiện trao đổi lao động ngang nhau, sự khác biệt về lao động, do đó sự khác biệt về thu nhập sẽ tồn tại C.Mác đã xác lập cơ sở của mối liên hệ nội tại giữa lao động và thu nhập, theo đó lao động trở thành điều kiện tất yếu để được nhận thu nhập Lý luận phân phối theo lao động của C.Mác thừa nhận tồn tại sự khác biệt về thu nhập và phủ nhận phân phối bình quân Sự khác biệt này chính là sự công bằng trong phân phối, không phải là chủ nghĩa bình quân
Tiếp nối C.Mác và Ph.Ăngghen, V.I.Lênin tiếp tục hoàn thiện lý luận về
phân phối trong chủ nghĩa Mác – Lênin Trong tác phẩm Nhà nước và cách mạng,
Lênin viết: trong giai đoạn đầu của xã hội cộng sản chủ nghĩa (mà người ta vẫn thường gọi là chủ nghĩa xã hội), "pháp quyền tư sản" chưa bị xoá bỏ hoàn toàn mà chỉ bị xoá bỏ một phần, trong phạm vi tư liệu sản xuất Trong bộ phận khác của nó, pháp quyền ấy vẫn còn tồn tại với tư cách là yếu tố điều tiết việc phân phối sản phẩm và phân phối lao động giữa các thành viên trong xã hội "Người nào không làm thì không có ăn", "số lượng lao động ngang nhau, thì hưởng số lượng sản phẩm
ngang nhau", nguyên tắc xã hội chủ nghĩa này cũng đã được thực hiện, nhưng đó
vẫn chưa phải là chủ nghĩa cộng sản, vì vẫn chưa gạt bỏ được việc cung cấp một số lượng sản phẩm ngang nhau cho những người không ngang nhau và cho một số lượng lao động không ngang nhau Trong giai đoạn đầu, chủ nghĩa cộng sản chưa thể hoàn toàn trưởng thành về mặt kinh tế, chưa thể hoàn toàn thoát khỏi những tàn tích của chủ nghĩa tư bản Về mặt phân phối vật phẩm tiêu dùng thì pháp quyền tư sản tất nhiên đòi hỏi phải có một nhà nước kiểu tư sản, vì vậy trong một thời gian
Trang 16nhất định, dưới chế độ cộng sản, không những vẫn còn pháp quyền tư sản, mà vẫn còn cả nhà nước kiểu tư sản nhưng không có giai cấp tư sản
Như vậy, có thể thấy, theo V.I.Lênin, trong giai đoạn đầu của xã hội cộng sản chủ nghĩa, chưa thể thực hiện được công bằng và bình đẳng: về mặt của cải, vẫn còn chênh lệch, nhưng tình trạng người bóc lột người thì không thể có nữa, vì không ai có thể chiếm tư liệu sản xuất, công xưởng, máy móc, đất đai, v.v làm của riêng được Xã hội này thoạt đầu bắt buộc phải phá huỷ "điều bất công" này, việc
cá nhân chiếm hữu tư liệu sản xuất làm của riêng, nhưng không đủ sức phá huỷ ngay điều bất công khác nữa, việc phân phối vật phẩm tiêu dùng "theo lao động" (chứ không theo nhu cầu)
Phải đến giai đoạn cao của xã hội cộng sản chủ nghĩa, sau khi tình trạng lệ thuộc vào sự phân công lao động mất đi, lao động không còn chỉ là phương tiện sinh sống mà bản thân nó trở thành một nhu cầu bậc nhất của cuộc sống; khi mà cùng với sự phát triển toàn diện của các cá nhân thì cả những lực lượng sản xuất cũng phát triển, và tất cả các nguồn của cải của xã hội tuôn ra tràn đầy, chỉ lúc ấy mới có thể có "Làm hết năng lực, hưởng theo nhu cầu”
1.1.3 Lý thuyết phân phối thu nhập cá nhân trong kinh tế học hiện đại
Trường phái chính hiện đại nghiên cứu vấn đề phân phối TNCN trên cơ sở quan điểm cơ chế thị trường có sự can thiệp của nhà nước Người đứng đầu trường phái này là P.Samuelson, nhà kinh tế học người Mỹ
Theo ông, phân phối TNCN là một phạm trù kinh tế đề cập đến vấn đề hàng
hoá được sản xuất cho ai [29, tr.34]? Theo trường phái chính hiện đại, phân phối
TNCN được quyết định chủ yếu bởi các quan hệ cung và cầu trên thị trường mà quan trọng nhất là thị trường lao động Họ dựa vào quy luật sản phẩm doanh thu
biên ngày càng giảm để giải thích sự biến đổi của các loại thu nhập
Thị trường lao động do cũng là một loại hình thị trường nên quy luật vận động cũng giống như các thị trường khác Nhìn trên đồ thị, Sl là đường cung về lao động;
Dl là đường cầu về lao động; E là điểm cân bằng giữa cung và cầu lao động trên thị
Trang 17trường, tại đây xác định số lượng lao động cần sử dụng và mức tiền công cân bằng
có tính cạnh tranh (tiền công thị trường)
Nếu hạn chế mức cung lao động so với sự gia tăng các yếu tố sản xuất khác thì nhất định mức tiền công sẽ tăng lên Còn với các điều kiện khác như nhau, việc tăng cung về lao động sẽ nảy sinh xu hướng giảm tiền công Đối với cầu lao động, nếu cầu về lao động giảm xuống sẽ khiến tiền lương giảm theo; ngược lại, nếu cầu
về lao động tăng lên thì cũng khiến tiền lương tăng lên theo
Đồ thị: Mức tiền công tương đối trên thị trường lao động
Tiền công (W)
E
Lao động (L)
Các nhà kinh tế học trường phái chính hiện đại quan tâm đến tiền công thực
tế, tức là đến những thứ mua được với số tiền công đó, chứ không phải chỉ quan tâm đến số tiền người làm công nhận được (hay tiền công danh nghĩa) Theo họ, tiền công thực tế (Wr) bằng mức lương thực tế tính bằng tiền (Wn) chia cho chỉ số
về mức giá chung (P)
Wr = Wn / P
Theo họ, mức tiền công thực tế khác nhau trước hết là do hoạt động của lượng cung và lượng cầu về lao động, tiếp đến là do sự biến đổi của các yếu tố đầu vào khác cùng hoạt động như tư bản (vốn), tài nguyên và đặc biệt là trình độ, chất lượng lao động (trình độ tay nghề, đào tạo, học vấn và kinh nghiệm của người lao động) Sự chênh lệch tiền công giữa các nhóm lao động là cần thiết để lôi kéo lao
S1
Wo
D1
Lo
Trang 18động vào các nghề "kém hấp dẫn" hoặc "không thích thú", đó là "sự chênh lệch có tính chất bù trừ" Tuy nhiên, sự chênh lệch này không phải là hoàn toàn cố định Trong quá trình vận động của cuộc sống, con người có xu hướng chuyển sang các công việc được trả công cao và bỏ những nghề có tiền công thấp hơn, làm cho mức tiền công chung của toàn xã hội có xu hướng dịch chuyển về một mức cân bằng chung, là điểm giao nhau giữa tổng cung và tổng cầu lao động toàn xã hội
Bên cạnh tiền công, thu nhập cá nhân còn bao gồm các khoản: tiền thuê đất
và các tài nguyên khác là các khoản thu nhập mà người chủ sở hữu được phân phối
từ sản phẩm xã hội thông qua việc cung ứng đất đai và các tài nguyên khác vào sản xuất kinh doanh với tư cách là yếu tố đầu vào; lợi tức và lãi suất là thu nhập của những người cung cấp yếu tố đầu vào của sản xuất là vốn và tài sản tài chính; lợi
nhuận là phần thu nhập cá nhân được nhận nhờ có sự chênh lệch giữa tổng thu
nhập với tổng chi phí của một doanh nghiệp mà cá nhân đó tham gia sở hữu
Trong khi đề cao vai trò của thị trường, các nhà kinh tế trường phái chính hiện đại cũng chỉ ra những thất bại của thị trường Theo họ, cơ chế thị trường có khả
năng giải quyết khá hiệu quả các vấn đề cái gì và như thế nào - những vấn đề về
phân bổ tài nguyên và việc lựa chọn kĩ thuật tốt nhất để sản xuất ra những hàng hoá
cụ thể, nhưng thị trường không có khả năng đặc biệt để tìm ra giải pháp tốt nhất đối
với vấn đề cho ai Một nền kinh tế hiệu quả nhất trên thế giới vẫn có thể tạo ra sự
bất bình đẳng lớn trong phân phối thu nhập Đó là biểu hiện sự thất bại và sự phân phối tuỳ tiện của thị trường
Các nhà kinh tế học trường phái chính hiện đại đã viết: “Sự thực là thị trường cạnh tranh không thể bảo đảm rằng thu nhập và tiêu dùng nhất thiết sẽ được phân phối cho những người có nhu cầu nhất hoặc xứng đáng nhất… Trong tự do kinh doanh, cạnh tranh hoàn hảo sẽ đưa đến sự bất bình đẳng rất lớn” [29, tr 566] Chính vì “Ngay cả khi bàn tay vô hình hoạt động và vô cùng hiệu quả, nó đồng thời vẫn có thể tạo ra sự phân phối thu nhập rất không công bằng” [29, tr.581], nên nhà nước cần phải can thiệp vào phân phối thu nhập thông qua các chính sách phân
Trang 19phối lại, bởi “phân phối lại thu nhập - là chức năng kinh tế lớn thứ hai của chính phủ” [29, tr.581]
Nguồn gốc của sự bất bình đẳng trong phân phối TNCN, như trên đã đề cập, một phần là do sự khác nhau về năng lực lao động, nghề nghiệp, trình độ chuyên môn kĩ thuật, tính chuyên cần, chịu khó, và nhất là nguồn tài sản do thừa kế, sáng chế, kinh doanh mà mỗi người có được Do thị trường là một cơ chế điều tiết không biết đến phạm trù đạo đức và nhân đạo nên nếu cứ để mặc sự khác nhau nói trên do
cơ chế này tự điều tiết thì không thể tránh khỏi sự bất bình đẳng lớn về thu nhập Bởi vậy, cần phải có sự can thiệp của nhà nước vào phân phối TNCN nhằm giảm bớt tình trạng bất bình đẳng về thu nhập Muốn vậy, nhà nước phải thiết lập các chương trình tác động đến việc phân phối TNCN Thông qua phân phối lại, nhà nước có thể dành một phần thu nhập để đảm bảo mức tối thiểu về y tế, dinh dưỡng, thu nhập… nhằm nâng cao mức sống của người nghèo
Việc phân phối lại có thể làm giảm khoảng cách bất bình đẳng trong xã hội, nhưng cũng phải trả giá là tình trạng không hiệu quả về mặt kinh tế Vì vậy, để đảm bảo cả 2 mục tiêu công bằng và hiệu quả, các nhà kinh tế trường phái chính hiện
đại đã đưa ra khái niệm Hàm số phúc lợi xã hội Họ cho rằng hiệu quả kinh tế là
điều kiện "cần", còn phân phối hợp lý là điều kiện "đủ" của lợi ích tối đa Chỉ có đồng thời đưa các nhân tố về phân phối và các nhân tố chi phối khác vào trong một hàm phúc lợi xã hội và chỉ khi giá trị của hàm này lớn nhất thì mới đạt được tối ưu hoá phúc lợi xã hội
Tóm lại, theo kinh tế học trường phái chính hiện đại, thị trường với cơ chế tự điều tiết là cơ chế phân bổ có hiệu quả nhất thu nhập quốc dân Nguyên tắc phân phối TNCN là dựa trên đóng góp của các yếu tố đầu vào của sản xuất và năng lực sản xuất kinh doanh của cá nhân thông qua cơ chế thị trường Mặt khác, cần thiết phải có sự can thiệp của nhà nước vào phân phối để giảm bớt tình trạng bất bình đẳng về thu nhập trong xã hội Họ đã đặt ra mối quan hệ giữa phân phối công bằng với hiệu quả, chú ý đến tính hợp lí của thu nhập xã hội trên nguyên tắc kiên trì ưu tiên có hiệu quả
Trang 201.1.4 Quan điểm của Đảng ta về phân phối thu nhập cá nhân từ khi tiến hành đổi mới đến nay
Ngay từ khi bắt đầu xây dựng CNXH ở nước ta, Đảng ta luôn nhận thức rằng phân phối thu nhập là một nội dung quan trọng trong chính sách kinh tế - xã hội, liên quan trực tiếp đến cuộc sống hàng ngày của hàng chục triệu con người, đến động lực phát triển kinh tế, đến ổn định chính trị - xã hội và nâng cao hiệu lực quản
lý của Nhà nước
Hiện nay, trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, Đảng ta xác định phân phối TNCN phải dựa trên cơ sở đóng góp thực tế của mỗi người về lao động, vốn, tài sản vào sản xuất kinh doanh Để thực hiên phân phối công bằng, cần phải:
- Bình đẳng trong phân phối kết quả sản xuất giữa người góp vốn với người góp sức lao động;
- Bình đẳng trong phân phối kết quả sản xuất giữa những người góp vốn theo nguyên tắc ai góp nhiều được phân chia nhiều, ai góp ít được phân chia ít;
- Bình đẳng trong phân phối kết quả sản xuất giữa những người lao động theo nguyên tắc ai làm nhiều, làm tốt được hưởng nhiều, ai làm ít hưởng ít, ai làm hỏng phải chịu phạt, mọi người có sức lao động phải lao động
Ngoài ra, xã hội phải điều tiết thu nhập cá nhân giữa những người có thu nhập cao, thấp khác nhau do đóng góp sức lao động và các nguồn lực khác vào sản xuất khác nhau nhằm đảm bảo công bằng xã hội
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (năm 1986) khẳng định: Việc thực hiện đúng nguyên tắc phân phối theo lao động đòi hỏi phải sửa đổi một cách căn bản chế độ tiền lương theo hướng đảm bảo yêu cầu tái sản xuất sức lao động, khắc phục tính chất bình quân áp dụng các hình thức trả lương gắn chặt với kết quả lao động và hiệu quả kinh tế
Phân phối trong kinh tế thị trường định hướng XHCN phải bảo đảm sự thống nhất giữa hiệu quả và công bằng Vì thế, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (năm 1991) của Đảng đã thông qua quan điểm: Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền
Trang 21với tiến bộ và cụng bằng xó hội, phỏt triển văn hóa, bảo vệ môi trường Lấy phõn
phối theo lao động làm hỡnh thức chớnh, khuyến khớch làm giàu đi đôi với giảm
số người nghèo, nâng cao phúc lợi xó hội phự hợp với trỡnh độ phát triển kinh tế
Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng (năm 1996) tiếp tục quan điểm của Đại hội VII, theo đó "Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ
và công bằng xã hội ngay trong từng bước phát triển và trong suốt quá trình phát triển"[8, tr.113] Văn kiện Đại hội IX của Đảng (năm 2001) cũng khẳng định "thực hiện công bằng trong phân phối, tạo động lực mạnh mẽ phát triển sản xuất, tăng năng suất lao động xã hội, thực hiện bình đẳng trong quan hệ xã hội, khuyến khích nhân dân làm giàu hợp pháp" [9, tr 104]
Đến Đại hội X, quan điểm của Đảng ta về chế độ phân phối thu nhập trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là: “thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và thông qua phúc lợi xã hội”[10, tr 26]
Quan điểm phân phối trên được bắt nguồn từ mục đích tối cao của Đảng là thực hiện bằng được “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”
Nó thể hiện đặc trưng của quan hệ phân phối thu nhập trong thời kỳ quá độ lên CNXH là lấy phát triển nền kinh tế thị trường với nhiều thành phần kinh tế làm phương tiện Đây là quan điểm mới về phân phối thu nhập trong thời kỳ quá độ lên CNXH Việc thực hiện quan điểm đó sẽ tạo động lực cho việc huy động và sử dụng
có hiệu quả các nguồn lực của xã hội vào sự nghiệp phát triển đất nước
1.2 Vai trò, nguyên tắc và các hình thức phân phối thu nhập cá nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
1.2.1 Vai trò của phân phối TNCN trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN
Phát triển kinh tế là mục tiêu của mọi quốc gia trên thế giới Tuy nhiên, mỗi nước lại thu được những kết quả phát triển kinh tế rất khác nhau Có nước phát triển thịnh vượng, nhưng có nước lại chìm trong nghèo đói Bên cạnh những nguyên nhân về chính trị, xã hội, tôn giáo…, một trong những nguyên nhân quan
Trang 22trọng nhất là động lực kinh tế khác nhau giữa các quốc gia Chế độ phân phối thu nhập chính là yếu tố quan trọng nhất tạo nên động lực kinh tế Nói cách khác, những nước có chế độ phân phối phù hợp sẽ tạo ra động lực kinh tế to lớn đối với người dân, khuyến khích người dân đầu tư phát triển sản xuất, nhờ đó nền kinh tế quốc gia ngày một thịnh vượng Những nước mà ở đó chế độ phân phối không khuyến khích người dân lao động sẽ chỉ có một nền kinh tế đình trệ, kém phát triển
Chế độ phân phối thể hiện sự kết hợp của ba loại lợi ích: lợi ích của người lao động, lợi ích của tập thể nơi cá nhân trực tiếp lao động (doanh nghiệp, tổ chức,…) và lợi ích chung toàn xã hội Khi các lợi ích trên có sự thống nhất cao sẽ tạo ra sự thống nhất về ý chí và hành động của các cá nhân, làm tăng động lực phát triển kinh tế Ngược lại, khi các lợi ích trên thiếu sự thống nhất, hay bị vi phạm thì sẽ làm giảm động lực phát triển Mặt khác, như trên đã trình bày, theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, phân phối là một bộ phận của tái sản xuất xã hội, sản xuất là quyết định nhưng phân phối cũng có vai trò quan trọng, tác động trở lại sản xuất Tác động này thể hiện ở khả năng làm gia tăng hay triệt tiêu động lực của sản xuất
Cũng giống như tất cả các nền kinh tế khác, vấn đề phân phối TNCN nhận được sự quan tâm rất lớn của các nhà lý luận cũng như các nhà hoạch định chính sách kinh tế của nước ta trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Giải quyết tốt vấn đề này chính là tìm được lời giải cho bài toán tạo động lực phát triển cho nền kinh tế quốc dân, tiến tới thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”
1.2.2 Nguyên tắc phân phối TNCN trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN
Lý luận kinh tế về phân phối thu nhập của CNTB cho rằng giữa công bằng
và hiệu quả tồn tại quan hệ thay thế và thường chọn hiệu quả là mục tiêu ưu tiên Khi phân tích các mô hình tăng trưởng trong quá khứ của các nước phát triển, các nhà kinh tế học tư bản cho rằng trong giai đoạn đầu của tăng trưởng kinh tế, tình hình phân phối thu nhập thường xấu đi, nhưng nó sẽ tốt lên ở giai đoạn sau Một số
Trang 23nhà lý luận thậm chí còn cho rằng phân phối không công bằng là điều kiện cần thiết
để tạo ra tốc độ tăng trưởng cao
Thực tế, không phải phân phối không công bằng là điều kiện của tăng trưởng, mà trái lại, chính sự phân phối thu nhập công bằng là một điều kiện để tăng trưởng kinh tế Phân phối thu nhập công bằng có tác dụng như một hình thức kích thích vật chất và tâm lý đối với công chúng tham gia vào quá trình phát triển kinh
tế Mặt khác, thu nhập người nghèo tăng cũng sẽ làm tăng cầu xã hội, từ đó sẽ kích thích sản xuất, tạo điều kiện cho nền kinh tế tăng trưởng nhanh Như vậy, quan hệ giữa hiệu quả và công bằng không phải là quan hệ thay thế lẫn nhau mà có quan hệ tác động qua lại lẫn nhau
Bản chất của xã hội XHCN mà chúng ta đang xây dựng là một xã hội trong
đó con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện Để đạt được điều đó phải có một nền kinh tế phát triển cao, có cơ chế phân
phối thu nhập đảm bảo sự thống nhất giữa hai mặt: hiệu quả và công bằng
Hiệu quả kinh tế luôn là yêu cầu quan trọng hàng đầu trong phát triển kinh tế -
xã hội Nếu không chú ý tới hiệu quả, tách rời nó khỏi mục tiêu phát triển kinh tế thì xã hội sẽ đình trệ, đất nước sẽ lạc hậu Do đó, nâng cao hiệu quả kinh tế là yêu cầu khách quan của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Tuy nhiên, nâng cao hiệu quả kinh tế, tăng thêm của cải xã hội không phải là để thoả mãn nhu cầu của một số ít người mà là để thoả mãn nhu cầu vật chất và tinh thần của toàn thể nhân dân Vì thế, đồng thời với việc nhấn mạnh mục tiêu hiệu quả kinh tế, cần phải thực hiện phân phối thu nhập công bằng để đảm bảo lợi ích cho mọi tầng lớp nhân dân
Sự thống nhất giữa hiệu quả và công bằng trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN là sự thống nhất biện chứng của các mặt đối lập Hiệu quả kinh tế tạo điều kiện vật chất để thực hiện công bằng, chỉ có không ngừng tăng thêm của cải xã hội thì phân phối công bằng mới có điều kiện thực hiện được Nếu hiệu quả kinh tế thấp, vật chất thiếu thốn, thì dù mọi người được chia những phần ngang nhau, sự "công bằng" ấy chỉ là sự "bình quân" nghèo túng, tuyệt nhiên không phải
là tiêu chuẩn công bằng của CNXH
Trang 24Ngược lại, công bằng có tác dụng kích thích gia tăng hiệu quả kinh tế Việc nâng cao hiệu quả kinh tế suy đến cùng phải dựa vào việc phát huy tính tích cực của người lao động Tính tích cực của người lao động có được phát huy đầy đủ hay không tuỳ thuộc vào cảm nhận của họ đối với lợi ích kinh tế của bản thân, hay thu nhập cá nhân có được phân phối công bằng hay không Nếu việc phân phối thu nhập trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN có thể làm cho đại đa số người lao động cảm thấy công bằng thì sẽ khơi dậy tinh thần lao động tích cực và sáng tạo để nâng cao hiệu quả kinh tế, tạo ra ngày càng nhiều của cải cho xã hội
Tuy nhiên, sự phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN trong giai đoạn đầu tất yếu cũng sẽ hình thành khoảng cách thu nhập, đây là vấn đề mang tính quy luật, nhưng khoảng cách thu nhập ấy cần được giữ ở mức vừa phải, hợp lý Chỉ có như vậy mới kích thích việc nâng cao hiệu quả kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Nếu khoảng cách thu nhập quá nhỏ hoặc quá lớn thì sẽ dẫn đến mở rộng mâu thuẫn giữa công bằng và hiệu quả, làm giảm sút hiệu quả kinh tế, không có lợi cho sự tiến bộ và phát triển lực lượng sản xuất xã hội
1.2.3 Những hình thức phân phối thu nhập cá nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN
Nước ta hiện đang tồn tại ba chế độ sở hữu cơ bản là sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân, trên cơ sở ba chế độ sở hữu cơ bản đó, hình thành nhiều hình thức sở hữu và nhiều thành phần kinh tế bao gồm: kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân (cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân), kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo Các thành phần kinh tế đó cùng tồn tại một cách khách quan, là bộ phận hợp thành của nền kinh tế thời kỳ quá độ lên CNXH, hoạt động theo pháp luật và đều bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh Do
đó, chúng ta không chỉ củng cố và phát triển các thành phần kinh tế dựa trên chế độ công hữu là kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể, mà còn phải khuyến khích các thành phần kinh tế dựa trên chế độ tư hữu phát triển để hình thành một nền kinh tế thị trường rộng lớn, đa dạng Tuy nhiên, do chế độ sở hữu về tư liệu sản xuất quyết
Trang 25định quan hệ phân phối thu nhập, vì vậy với mỗi thành phần kinh tế, mỗi hình thức
sở hữu có hình thức phân phối thu nhập tương ứng Chính vì thế Đại hội X của Đảng đã đưa ra quan điểm “thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác
và thông qua phúc lợi xã hội"[10, tr 26]
Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN có những hình thức phân phối TNCN chủ yếu sau:
* Phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế
Chúng ta đang xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, với mục tiêu là thiết lập chế độ sở hữu toàn dân về tư liệu sản xuất, tức là xác định quyền bình đẳng của người lao động đối với tư liệu sản xuất Khi đó, lao động của mỗi người được đo trực tiếp bằng thời gian lao động, thực hiện hình thức phân phối theo lao động trên cơ sở lao động ngang nhau Nền kinh tế nước ta hiện nay còn một yếu tố nữa là thị trường, kết quả lao động được đưa ra trao đổi trên thị trường trên cơ sở trao đổi ngang giá Như vậy, lao động của cá nhân không thể trực tiếp trở thành lao động xã hội cần thiết, trao đổi với nhau mà phải bằng con đường vòng mới chuyển hoá thành lao động xã hội cần thiết Người lao động được phân phối theo lượng lao động mà cá nhân đóng góp, đã được thị trường chấp nhận và tự phát quy đổi Tức là sản phẩm do lao động của mỗi cá nhân làm ra phải được thị trường chấp nhận Trong kinh tế thị trường định hướng XHCN, phân phối theo lao động phải được thị trường đánh giá và chấp nhận
Phân phối theo lao động là đặc trưng bản chất của kinh tế thị trường định hướng XHCN, nó là hình thức thực hiện về mặt kinh tế của chế độ công hữu về tư liệu sản xuất Nó cũng phù hợp với trình độ hiện nay của lực lượng sản xuất và thể hiện bản chất của quan hệ sản xuất XHCN: thực hiện phân phối công bằng và xoá
bỏ bóc lột trên cơ sở thực hiện chế độ công hữu
Phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế là sự vận dụng nguyên tắc phân phối theo lao động trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN Kết quả lao động cụ thể của mỗi người, của một doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh
Trang 26tế chỉ có thể được thừa nhận và có căn cứ để phân phối khi sản phẩm của đơn vị đó được thị trường thừa nhận (hàng hoá bán được), hay giá trị lao động cá biệt của cá nhân đó, doanh nghiệp đó thấp hơn giá trị lao động xã hội Nhờ đó, doanh nghiệp có thể bán sản phẩm với giá cả ngang với mức thị trường chấp nhận, từ đó thu hồi được vốn và có lợi nhuận, những cơ sở để thực hiện phân phối Còn nếu ngược lại, giá trị lao động cá biệt không được thị trường chấp nhận, lao động không đạt được mức hiệu quả tối thiểu cần thiết thì sẽ không có cơ sở kinh tế để thực hiện phân phối Hiệu quả kinh tế được thể hiện ở kết quả của lao động cá nhân và tập thể lao động trong doanh nghiệp Hiệu quả kinh tế càng cao, tức là giá trị cá biệt càng thấp hơn so với giá trị lao động xã hội, điều đó thể hiện năng suất lao động của cá nhân, doanh nghiệp đó càng cao Khi đó lợi nhuận chung của doanh nghiệp sẽ cao và các cá nhân đóng góp công sức cho thành quả đó cũng sẽ được phân phối nhiều hơn Thực hiện phân phối theo lao động và hiệu quả kinh tế đòi hỏi các cá nhân và doanh nghiệp phải luôn đổi mới công nghệ, cải tiến quy trình sản xuất, nâng cao chất lượng lao động Yêu cầu của phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế là trong những điều kiện lao động như nhau, những lao động mang lại kết quả ngang nhau thì được trả công bằng nhau, những lao động mang lại kết quả khác nhau phải được trả công khác nhau
Phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế là nguyên tắc cần thiết
vì chỉ có như vậy, mỗi người lao động mới thực sự quan tâm đến kết quả lao động của mình và quan tâm đến kết quả hoạt động của doanh nghiệp, tạo động lực thúc đẩy sản xuất phát triển
Quá trình phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế được thực hiện thông qua hai khâu (hai cấp) phân phối với các chủ thể tham gia là nhà nước, doanh
nghiệp và người lao động trong doanh nghiệp Đầu tiên, tổng thu nhập của doanh
nghiệp được phân chia giữa nhà nước và doanh nghiệp Nhà nước, trên cơ sở kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, quy định phần thu nhập mà doanh nghiệp phải nộp cho nhà nước, phần còn lại là thu nhập thực của doanh
nghiệp Tiếp đó là phân phối thu nhập trong nội bộ doanh nghiệp do doanh nghiệp,
với tư cách là chủ thể, sau khi dành ra phần để phát triển sản xuất và một phần cho
Trang 27phúc lợi chung, phần còn lại dùng để phân phối thu nhập cá nhân, được tiến hành dựa trên cơ sở kết quả lao động của mỗi người Kết quả đó được xác định dựa trên những quy định cụ thể về chất lượng, hiệu quả công việc và do doanh nghiệp đánh giá Đó là công việc nội bộ của doanh nghiệp
Hai khâu phân phối trên không thể tách rời nhau, sự kết hợp chúng tạo thành
cơ chế phân phối thu nhập của doanh nghiệp TNCN phải thông qua cả sự kiểm nghiệm, đánh giá của cả thị trường lẫn của doanh nghiệp TNCN và hiệu quả kinh
tế của doanh nghiệp có mối liên hệ ràng buộc lẫn nhau Phân phối thu nhập qua hai khâu như trên vừa đảm bảo quyền của chủ sở hữu tài sản vốn tại doanh nghiệp, thực hiện chức năng quản lý của nhà nước, vừa bảo đảm quyền tự chủ của doanh nghiệp trong phân phối thu nhập Phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh
tế được thực hiện dưới hình thức tiền lương, phụ cấp, tiền thưởng và phúc lợi tập thể
Phân phối TNCN theo kết quả lao động được thể hiện dưới các dạng thức cụ thể sau:
- Tiền lương là số tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động sau
khi đã hoàn thành đảm bảo chất lượng và hiệu quả các công việc theo chức năng, nhiệm vụ được thoả thuận trong hợp đồng lao động Về thực chất, tiền lương trong hợp đồng lao động là giá cả của sức lao động, vì thế, giá trị sức lao động là cơ sở của tiền lương Ngoài ra, tiền lương còn chịu ảnh hưởng của tình hình cung - cầu về sức lao động Theo C.Mác, tiền lương ít nhất cũng phải bảo đảm tái sản xuất (khôi phục lại) sức lao động của con người
Mức tiền lương tối thiểu là mức tiền lương dựa trên cung - cầu lao động, khả năng kinh tế và chỉ số giá sinh hoạt, bảo đảm cho người lao động làm công việc giản đơn nhất trong điều kiện lao động bình thường bù đắp được sức lao động giản đơn và một phần tích luỹ tái sản xuất sức lao động mở rộng Nói một cách dễ hiểu hơn, mức lương tối thiểu phải bảo đảm các nhu cầu thiết yếu về ăn, mặc, ở, đi lại, chữa bệnh, học hành, sinh hoạt văn hoá, giao tiếp xã hội… và một phần để nuôi con cái Nó được xây dựng căn cứ vào mức sống tối thiểu và điều kiện kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ Khi chỉ số giá sinh hoạt tăng lên làm thu nhập thực tế của
Trang 28người lao động giảm đi thì chính phủ điều chỉnh mức lương tối thiểu để đảm bảo cuộc sống cho người lao động Việc quy định tiền lương tối thiểu bằng văn bản pháp luật nhằm tạo ra lưới an toàn cho người lao động Ở nước ta, Bộ luật lao động năm 1994 quy định mức lương người sử dụng lao động trả cho người lao động không được thấp hơn mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định
Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, tiền lương có các chức năng sau đây: 1) thước đo giá trị; 2) tái sản xuất sức lao động; 3) kích thích người lao động; 4) tích luỹ để đảm bảo cuộc sống của người lao động khi về già
- Phụ cấp lương là chế độ được hình thành bởi sự thoả thuận giữa người lao
động và người sử dụng lao động trên cơ sở luật lao động Hiện nay Nhà nước ta quy định các loại phụ cấp gồm: phụ cấp thâm niên vượt khung, phụ cấp kiêm nhiệm chức danh lãnh đạo, phụ cấp khu vực, phụ cấp đặc biệt, phụ cấp thu hút, phụ cấp lưu động, phụ cấp độc hại, nguy hiểm, phụ cấp trách nhiệm công việc, phụ cấp đặc thù theo nghề hoặc công việc để người sử dụng lao động dựa vào đó, đồng thời căn cứ vào điều kiện của mình mà xác định phụ cấp cho người lao động
- Tiền thưởng là khoản mà các doanh nghiệp trích từ lợi nhuận sau thuế, phần
kinh phí quản lý hành chính tiết kiệm còn lại sau khi đã thanh toán lương cho cán bộ, công chức đối với cơ quan hành chính sự nghiệp được phân phối nhằm khuyến khích, động viên người lao động hoặc tập thể làm việc tốt, có thành tích đặc biệt Dùng tiền thưởng đối với người lao động có thành tích trong công việc có ý nghĩa quan trọng và đã trở thành phổ biến ở các nước Ở nước ta, Điều 64 Bộ luật lao động năm 1994 ghi rõ "Người sử dụng lao động có trách nhiệm trích từ lợi nhuận hàng năm để thưởng cho người lao động đã làm việc tại doanh nghiệp từ một năm trở lên, theo quy định của Chính phủ phù hợp với đặc điểm của từng loại doanh nghiệp”
- Phúc lợi tập thể cũng là một hình thức làm tăng thêm thu nhập cho người
lao động dựa trên kết quả lao động và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Nó được trích từ lợi nhuận của doanh nghiệp nhưng không được phân phối trực tiếp cho người lao động mà gián tiếp thông qua các hình thức như: xây dựng nhà ở, nhà
ăn, nhà nghỉ mát, nhà điều dưỡng, các công trình văn hoá, thể thao, tài trợ các buổi
Trang 29lễ hội, lập quỹ khuyến học; trợ giúp các đối tượng chính sách xã hội, người nghèo;
tổ chức các hoạt động văn hoá, du lịch, thể thao…
* Phân phối theo mức đóng góp vốn và tài sản
Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, phân phối TNCN theo mức đóng góp vốn và tài sản là một tất yếu và cũng là một nguyên tắc phân phối thu nhập cơ bản Trong thời kỳ quá độ lên CNXH còn tồn tại nhiều hình thức sở hữu,
do đó nền kinh tế gồm nhiều thành phần tương ứng với cơ cấu sở hữu như vậy, và tất nhiên phân phối thu nhập cũng phải thực hiện nhiều hình thức khác nhau Lấy phân phối thu nhập dựa trên kết quả lao động và hiệu quả kinh tế làm chủ yếu, đồng thời cũng phải thừa nhận nguyên tắc phân phối theo mức đóng góp vốn và tài sản, đó không chỉ là tất yếu, mà còn có ý nghĩa thực tế Đây là điều đã được Đảng
ta thừa nhận và thể hiện trong các văn kiện chính thức cũng như được pháp luật bảo
xã hội vào phát triển sản xuất Mặt khác, vốn và tư liệu sản xuất là những yếu tố đầu vào của sản xuất, tuy không tạo ra giá trị mới nhưng đóng vai trò không thể thiếu trong quá trình tạo ra của cải xã hội Với ý nghĩa đó, kết quả sản xuất kinh doanh cần phải được phân phối theo mức đóng góp các yếu tố đó
Như vậy, phân phối thu nhập theo mức đóng góp vốn và tài sản là một tất yếu và có ý nghĩa thực tế, cần xem nó cũng là một trong những nguyên tắc phân phối cơ bản trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN
Trang 30Trong thành phần kinh tế tư bản tư nhân, bộ phận giá trị mới được phân thành: khoản trả công lao động và quản lý, khoản nộp thuế cho nhà nước, còn lại là lợi nhuận của nhà tư bản
Bộ phận giá trị mới trong công ty cổ phần được phân thành khoản trả công lao động và quản lý, khoản nộp thuế cho nhà nước, phần còn lại được chia theo số lượng
cổ phần mà mỗi cổ đông sở hữu dưới hình thức lợi tức cổ phần Như vậy, lợi tức cổ
phần là một phần lợi nhuận của công ty cổ phần, là một hình thức thu nhập dựa vào
sự góp vốn cổ phần Trong hình thức liên doanh, các bên tham gia phân chia lợi nhuận của doanh nghiệp liên doanh dựa trên mức vốn mình góp vào liên doanh
Các đơn vị kinh tế, các tổ chức và cá nhân có những khoản tiền tệ tạm thời
nhàn rỗi, chưa sử dụng, đem gửi vào ngân hàng hoặc cho vay để nhận lợi tức Lợi
tức là hình thức thu nhập dựa trên sở hữu tiền tệ, là hình thức thực hiện về mặt kinh
tế của chủ sở hữu vốn tiền tệ đem cho vay, nó là một phần lợi nhuận mà người đi vay trả cho người cho vay do đã sử dụng vốn tiền tệ này Ngoài ra còn có hình thức khác như cho thuê tài chính, quỹ đầu tư…
Riêng thành phần kinh tế cá thể, tiểu chủ, người lao động dựa vào tư liệu sản xuất và lao động của bản thân cũng như của gia đình để tiến hành sản xuất kinh doanh Vì thế, tổng doanh thu sau khi trừ đi chi phí sản xuất đã bỏ ra và nộp thuế cho Nhà nước chính là thu nhập của họ
* Phân phối thu nhập thông qua phúc lợi xã hội
Phân phối thu nhập thông qua phúc lợi xã hội cũng là một nguyên tắc phân phối trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Đây là quá trình phân phối lại thu nhập trong nền kinh tế quốc dân Sở dĩ phải thực hiện nguyên tắc này là vì trong xã hội ngoài những người có sức lao động và có vốn góp vào quá trình sản xuất kinh doanh, nhờ đó nhận được thu nhập dưới các hình thức tiền lương, lợi nhuận, lợi tức…, còn có những người không có khả năng lao động hoặc hết khả năng lao động, những đối tượng chính sách (người có công với cách mạng, người
bị nhiễm chất độc da cam…) mà xã hội vẫn phải đảm bảo đời sống cho họ Thêm vào đó, không phải mọi tiêu dùng cá nhân chỉ dựa vào thu nhập theo hai nguyên tắc
Trang 31phân phối nói trên, mà vẫn cần nhận được những khoản thu nhập thông qua dịch vụ công cộng về y tế, giáo dục, văn hoá
Quỹ phúc lợi được phân thành hai bộ phận: một bộ phận là thu nhập cá nhân như lương hưu, tiền trợ cấp, một bộ phận khác được tiêu dùng chung như các công trình văn hoá, giáo dục, y tế
Nền kinh tế nước ta phát triển theo định hướng XHCN nên phân phối thu nhập thông qua phúc lợi xã hội có ý nghĩa quan trọng Nó góp phần thực hiện công bằng xã hội, giảm sự chênh lệch về thu nhập giữa các tầng lớp nhân dân; nâng cao mức sống của nhân dân, đặc biệt là những người có thu nhập thấp, giáo dục ý thức cộng đồng và tạo điều kiện cho con người phát triển toàn diện Vì thế cần phải xây dựng và sử dụng hợp lý các quỹ phúc lợi xã hội và tập thể
1.3 Chính sách phân phối thu nhập cá nhân
1.3.1 Vai trò của Nhà nước trong phân phối thu nhập cá nhân
Chức năng kinh tế của Nhà nước, cùng với tổ chức quản lý sản xuất trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân, còn phải tổ chức quản lý việc phân phối, điều tiết thu nhập quốc dân, bao gồm cả TNCN Đặc biệt, do bản chất và tính hơn hẳn của nhà nước XHCN so với các hình thái nhà nước khác trong lịch sử mà vai trò của nhà nước XHCN trong phân phối thu nhập càng được tăng cường Sự can thiệp của Nhà nước vào phân phối thu nhập là cần thiết và hoàn toàn có lợi cho công cuộc xây dựng CNXH
Mục tiêu cơ bản sự điều tiết của Nhà nước XHCN đối với phân phối TNCN
như trên đã trình bày là nhằm thực hiện công bằng Điều tiết phân phối TNCN phải
đảm bảo các nguyên tắc sau: (1) trên cơ sở thừa nhận sự khác biệt về thu nhập của
cá nhân, điều tiết đối với thu nhập phải làm cho sự khác biệt đó ở mức độ vừa phải,
có thể chấp nhận được; (2) phải có tác dụng kích thích nâng cao hiệu quả kinh tế -
xã hội; (3) phải giữ vững được sự ổn định chính trị - xã hội
Phân phối thu nhập công bằng nghĩa là người lao động có thể tham gia vào cạnh tranh trong điều kiện bình đẳng, thu nhập nhiều hay ít tương ứng với sự đóng góp nhiều hay ít Chủ nghĩa bình quân và khoảng cách thu nhập quá xa là hai biểu hiện chủ yếu của phân phối thu nhập không công bằng Cả hai hình thức trên đều
Trang 32làm triệt tiêu động lực phấn đấu của người lao động, gây ra tình trạng trì trệ của nền kinh tế - xã hội, là nguồn gốc của những bất ổn xã hội
Phân phối thu nhập công bằng nhằm duy trì khoảng cách thu nhập trong giới hạn có lợi cho mối quan hệ hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội, đảm bảo thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Do đó, phân phối thu nhập công bằng phải
tiến hành điều tiết theo hai hướng: một là, tăng thu nhập cho những người có thu nhập thấp; hai là, huy động một phần thu nhập của những người có thu nhập cao
vào ngân sách nhà nước để tái phân phối và đầu tư vào các phúc lợi công cộng Để thực hiện phân phối thu nhập công bằng, hợp lý, Nhà nước cần phải:
- Xây dựng kế hoạch tổng thể về phân phối là khâu trung tâm của hệ thống điều hành phân phối thu nhập quốc dân một cách cân bằng và có trật tự Kế hoạch phân phối thu nhập quốc dân sẽ có tác dụng điều tiết vĩ mô đối với phân phối TNCN Duy trì được cân bằng tổng thể của phân phối thu nhập quốc dân, đảm bảo
tỷ lệ hợp lý giữa tích luỹ và tiêu dùng sẽ ảnh hưởng quyết định đến các tỷ lệ chủ yếu của nền kinh tế quốc dân (hướng và quy mô đầu tư, tốc độ tăng trưởng kinh tế, mức sống của nhân dân…) Trên cơ sở kế hoạch tổng thể sẽ đưa ra các quyết sách kinh tế quan trọng như vấn đề tiền lương, trợ cấp tài chính, điều chỉnh giá cả,
- Xây dựng, ban hành và thực thi các chính sách phân phối TNCN Các chính sách này phải phản ánh được yêu cầu chung của phân phối thu nhập trong một thời
kỳ nhất định, tạo thành cơ chế điều tiết tổng hợp đối với phân phối thu nhập quốc dân Chính sách phân phối TNCN bao gồm chính sách tiền lương, chính sách thuế, chính sách BHXH, chính sách phúc lợi xã hội
Nhà nước thông qua sự phối hợp đồng bộ các cơ chế, công cụ chính sách thực hiện điều tiết phân phối TNCN Có hai phương thức điều tiết là điều tiết trực tiếp và điều tiết gián tiếp Điều tiết trực tiếp là phân phối thu nhập theo kế hoạch của Nhà nước, Nhà nước tham gia trực tiếp vào hoạt động phân phối thu nhập của các ngành, các doanh nghiệp Điều tiết gián tiếp được thực hiện chủ yếu thông qua tác dụng điều tiết của chính sách tài chính, thuế, lãi suất, giá cả, để ảnh hưởng đến phân phối và phân phối lại thu nhập
Trang 33Điều hành phân phối thu nhập của Nhà nước phải lấy biện pháp kinh tế là chính, tuy nhiên sự điều tiết bằng luật pháp có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Trước hết, Nhà nước sử dụng các công cụ, các chính sách đòn bẩy kinh tế giúp cho các cá nhân, tổ chức nhận thấy được lợi ích của việc thực hiện các chính sách phân phối thu nhập, từ đó tự nguyện thực hiện nghiêm chỉnh các chính sách trên Khi các đối tượng này không chủ động thực hiện các chính sách phân phối thu nhập, Nhà nước cần dựa vào sức mạnh luật pháp và thông qua các công cụ pháp luật để cưỡng chế
nhằm thực hiện có hiệu quả các chính sách điều tiết phân phối thu nhập
1.3.2 Chính sách phân phối thu nhập cá nhân của Nhà nước
Việc điều tiết phân phối TNCN trong nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN được thực hiện bởi cơ chế hỗn hợp gồm thị trường và Nhà nước Trong cơ
chế đó, thị trường điều tiết phân phối thu nhập bằng giá cả các yếu tố sản xuất thông qua quan hệ cung - cầu Tiền lương, lợi nhuận, lợi tức, tiền thuê đất và các tài sản khác là những thu nhập của các chủ sở hữu sức lao động, vốn và tài sản được điều tiết thông qua cơ chế thị trường
Dưới đây xem xét một số chính sách của Nhà nước có tác động điều tiết phân phối TNCN:
1.3.2.1 Chính sách tiền lương
Chính sách tiền lương là chính sách thu nhập trực tiếp tác động vào thị trường sức lao động, qua đó tác động vào sản xuất kinh doanh Nó là chính sách quan trọng trong hệ thống chính sách kinh tế - xã hội của đất nước, liên quan trực tiếp đến đời sống của hàng chục triệu con người, đến động lực tăng trưởng và phát triển kinh tế
Việc thực hiện chính sách tiền lương có quan hệ mật thiết đến các cân đối trong nền kinh tế, đặc biệt là quan hệ giữa việc làm và thu nhập, giữa cung và cầu lao động; giữa khu vực hành chính sự nghiệp và khu vực sản xuất kinh doanh; giữa các cơ quan đảng, đoàn thể và chính quyền; giữa vấn đề tiền lương và vấn đề tài chính quốc gia
Trang 34Vì tính chất quan trọng và các mối quan hệ đó, Đảng và Nhà nước ta rất coi trọng việc thực hiện chính sách tiền lương Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII nhấn mạnh: Chính sách tiền lương phải quán triệt quan điểm: tiền lương gắn liền với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, trả lương đúng cho người lao động chính là thực hiện đầu tư cho phát triển, góp phần quan trọng làm lành mạnh, trong sạch đội ngũ cán bộ, nâng cao tinh thần trách nhiệm và hiệu suất công tác Bảo đảm giá trị thực của tiền lương và từng bước cải thiện theo
sự phát triển kinh tế - xã hội Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng nêu rõ: "Cải cách cơ bản chế độ tiền lương cán bộ, công chức theo hướng tiền tệ hoá đầy đủ tiền lương; điều chỉnh tiền lương tương ứng với nhịp độ tăng thu nhập trong
xã hội; hệ thống thang bậc lương bảo đảm tương quan hợp lý, khuyến khích người
có tài, người làm việc giỏi" [9, tr 212] Đến Đại hội X, Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Tiếp tục đổi mới chính sách tiền lương, chính sách phân phối thu nhập” [10,
tr 102]
Một trong những nội dung quan trọng nhất trong chính sách tiền lương là phải thực thi chính sách tiền lương tối thiểu có bảo đảm Nội dung cơ bản của chính sách đó là phải làm cho tiền lương thực tế của người hưởng lương không bị giảm xuống khi có sự biến động về giá cả, nền kinh tế có lạm phát Để thực hiện tốt chính sách này, phải vừa đề cao tính tự chủ của các đơn vị cơ sở, vừa tăng cường vai trò quản lý và điều tiết của Nhà nước Ngoài ra còn cần xây dựng được một hệ thống thang lương, bảng lương và chế độ phụ cấp lương công bằng, có tác dụng kích thích người lao động nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả công việc
1.3.2.2 Chính sách điều tiết của Nhà nước đối với thu nhập cá nhân
a Chính sách thuế thu nhập cá nhân
Thuế thu nhập cá nhân là một chính sách nhằm điều tiết huy động sự đóng góp của những người có thu nhập cao Nó được áp dụng rộng rãi ở các nước có nền kinh tế thị trường và được coi là chính sách chủ yếu nhất để điều tiết thu nhập cá nhân, giảm sự phân hoá giàu nghèo, giữ ổn định xã hội
Trang 35Đối tượng của thuế thu nhập cá nhân bao gồm các khoản: thu nhập về tiền lương, tiền thưởng và các khoản thu nhập có tính chất lương khác của người làm công ăn lương, nói chung là các khoản thu nhập từ lao động; thu nhập từ lợi tức cổ phần, lợi tức trái phiếu và tiết kiệm, quà biếu tặng, thừa kế tài sản hay thu nhập từ vốn, tài sản
Phương thức đánh thuế đối với thu nhập cá nhân gồm: thuế luỹ tiến, thuế luỹ thoái và thuế theo tỷ lệ Thuế luỹ tiến là loại thuế được đánh theo nguyên tắc thu nhập càng cao thì tỷ lệ đánh thuế càng cao Thuế luỹ thoái là thuế ngược lại, thu nhập càng cao thì tỷ lệ đánh thuế càng thấp Thuế theo tỷ lệ là thuế đánh theo nguyên tắc tỷ lệ không thay đổi theo mức thu nhập Thông qua các hình thức đánh thuế này, nhà nước điều tiết một phần thu nhập của những người có thu nhập cao, đưa vào ngân sách nhà nước nhằm trợ cấp cho người có thu nhập thấp
Nước ta đã bước đầu thực hiện chính sách điều tiết thu nhập cá nhân bằng thuế thu nhập cá nhân theo Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao Ngày 5-12-2007, Quốc hội đã ban hành Luật thuế thu nhập cá nhân và sẽ có hiệu lực thi hành từ năm 2009 Việc ban hành và thực thi loại thuế này là cần thiết để thực hiện bình đẳng về thu nhập trong xã hội Theo cách đánh thuế này, Nhà nước không hạn chế mức thu nhập cao do sự nỗ lực của mỗi người, nhưng phải điều tiết một phần để thực hiện chính sách xã hội
b Chính sách giải quyết việc làm
Thất nghiệp là nguyên nhân chính dẫn đến nghèo đói và các tệ nạn xã hội khác Đối với người lao động, thiếu hoặc không có việc làm là một nguy cơ dẫn đến thu nhập thấp hoặc không có thu nhập Đây là điều bất hạnh nhất, bởi nó không chỉ tước mất quyền bình đẳng được làm việc để phát huy năng lực của mình, mà còn không có thu nhập đảm bảo cho cuộc sống của bản thân và gia đình Bởi vậy, Nhà nước phải có chính sách giải quyết việc làm, tạo sự bình đẳng về quyền lao động và thu nhập Giải quyết được vấn đề việc làm là bước đầu tiên để thực hiện mục tiêu nâng cao đời sống, thu nhập của người dân Đảng ta cũng khẳng định bảo đảm công ăn, việc làm cho dân là một mục tiêu xã hội hàng đầu
Trang 36Để thực hiện chính sách này, Nhà nước phải ban hành các thể chế pháp luật
về vấn đề việc làm, lập quỹ hỗ trợ giải quyết việc làm, phát triển các dịch vụ việc làm như tổ chức các cơ sở đào tạo nghề, trung tâm giới thiệu và môi giới việc làm, dịch vụ xuất khẩu lao động
c Chính sách xóa đói giảm nghèo
Tình trạng đói nghèo, hố ngăn cách giàu nghèo gia tăng có nhiều nguyên nhân, nhưng một trong những nguyên nhân quan trọng nhất là do chính sách phân phối thu nhập cá nhân không hợp lý, hoặc hoạt động kém hiệu quả Chính vì vậy, xoá đói giảm nghèo là một trong những chính sách xã hội được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm nhằm đảm bảo thực hiện công bằng trong phân phối thu nhập Đảng ta luôn chủ trương khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với xoá đói giảm nghèo Các Đại hội Đảng đều xác định xoá đói giảm nghèo là một trong những chương trình phát triển kinh tế - xã hội vừa cấp bách trước mắt, vừa cơ bản lâu dài
Để chính sách xóa đói giảm nghèo hoạt động hiệu quả, Nhà nước phải ban hành đồng bộ một loạt các chính sách như tạo việc làm, dạy nghề, tín dụng ưu đãi, định hướng thị trường cho người nghèo; đầu tư cho cơ sở hạ tầng các vùng khó khăn
d Chính sách bảo đảm xã hội
Bảo đảm xã hội là chính sách điều tiết thu nhập nhằm cải thiện điều kiện sống của những người có hoàn cảnh khó khăn Nó là công cụ phân phối lại thu nhập giữa các cá nhân để giảm mức chênh lệch giàu nghèo
Xuất phát từ bản chất của xã hội ta, Đảng và Nhà nước luôn luôn quan tâm đến chính sách bảo đảm xã hội Nội dung của chính sách bảo đảm xã hội bao gồm:
- Chính sách bảo hiểm xã hội Đây là chính sách nhằm giúp đỡ về vật chất
cho người lao động khi họ tạm thời hoặc vĩnh viễn mất cơ hội lao động Nó được coi là hình thức đóng góp dần của chính bản thân người lao động để được nhận lại
Trang 37từ quỹ bảo hiểm đảm bảo cuộc sống khi về già, mất sức, mất việc làm, sinh đẻ, tai nạn, ốm đau
Chính sách BHXH bao gồm một loạt các chính sách như: chính sách bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, trách nhiệm của người sử dụng lao động đối với người
bị tai nạn lao động
- Chính sách cứu trợ xã hội Chính sách này thể hiện ở sự giúp đỡ bằng tiền,
hiện vật hoặc các điều kiện sinh sống khác mà Nhà nước cũng như các cá nhân và
tổ chức kinh tế - xã hội dành cho những người đang gặp phải những khó khăn, rủi
ro, bất hạnh trong cuộc sống, giúp họ vượt qua khó khăn, ổn định cuộc sống để sớm hoà nhập vào cộng đồng Nhà nước và các cấp chính quyền là chủ thể chính thực thi việc cứu trợ xã hội, cũng như phải ban hành đầy đủ chính sách cứu trợ xã hội Qua đó, huy động được nguồn lực từ ngân sách nhà nước cũng như các nguồn đóng góp tự nguyện của các cá nhân, các tổ chức kinh tế - xã hội trong và ngoài nước vào việc thực hiện chính sách cứu trợ xã hội
1.4 Kinh nghiệm thực hiện chớnh sỏch phõn phối thu nhập cỏ nhõn của một số quốc gia và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam
1.4.1 Kinh nghiệm cỏc nước chuyển đổi ở Đụng Âu
Quỏ trỡnh chuyển đổi nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường đó mang lại cho các nước chuyển đổi ở Đông Âu những cơ hội chưa từng có
và cả những thách thức to lớn Không cũn đảm bảo 100% công ăn việc làm và hưu trí như trước đây, mặc dù nhiều người được hưởng lợi từ các cuộc cải cách song nhỡn chung mức sống trung bỡnh vẫn suy giảm, nghèo đói và thất nghiệp gia tăng Mỗi người dân phải tự đối mặt với những rủi ro của cuộc sống, thu nhập không ổn định Chính vỡ vậy, chớnh sỏch phõn phối thu nhập ở cỏc nước có nền kinh tế chuyển đổi giữ vai trũ quan trọng trong việc phỏt triển kinh tế và đảm bảo công bằng xó hội
1.4.1.1 Chớnh sỏch xó hội
Chớnh sỏch xó hội của cỏc nước chuyển đổi tập trung vào các mặt sau:
Trang 38- Chính sách trên thị trường lao động: phần lớn các nước chuyển đổi đó
chỳ trọng tới việc phỏt triển một thị trường lao động hiệu quả thay cho cách sử dụng lao động không hợp lý trước đây Trước hết là nới lỏng các quy định về lương bổng và chỗ làm, đồng thời đầu tư cho phát triển sức khoẻ và năng lực con người
Để tăng tính linh hoạt của thị trường lao động, chính phủ các nước đó thực hiện một số biện phỏp như: hỗ trợ cho các doanh nghiệp thực hiện tái cơ cấu; xây dựng hệ thống luật lao động linh hoạt hơn; thực hiện chính sách lương tối thiểu thấp và; xây dựng môi trường luật pháp công bằng
Thực trạng ở các nước chuyển đổi cho thấy, thất nghiệp cao là phổ biến, thất nghiệp cao và thường xuyên có thể phá hoại nghiêm trọng sự quá độ sang nền kinh
tế thị trường Đồng thời, nó cũng là nguồn gốc chính của đói nghèo, bất bình đẳng, lãng phí nguồn nhân lực Để góp phần giải quyết nạn thất nghiệp, chính phủ các nước đó cú cỏc chương trỡnh hỗ trợ như: Bảo hiểm thất nghiệp; trợ giúp thất nghiệp; chương trỡnh khuyến khớch thị trường lao động
- Hệ thống lương hưu: quỏ trỡnh chuyển đổi kinh tế gắn liền với gia tăng
thất nghiệp đó gõy nờn những khó khăn về tài chính cho hệ thống chi trả lương hưu Nguồn thu của quỹ lương hưu giảm mạnh do tỡnh trạng trốn thuế, di chuyển lao động, về hưu sớm của người lao động Thất nghiệp cùng số người về hưu tăng càng làm tăng các khoản chi của quỹ lương hưu
Đứng trước thực trạng này, các nước chuyển đổi đó buộc phải thực hiện cải
cỏch hệ thống lương hưu, thực hiện qua hai bước: Một là, thắt chặt sự cân đối giữa mức đóng góp với mức được thụ hưởng; Hai là, tăng mức độ ổn định của các hệ
thống lương hưu
- Trợ cấp xó hội: Trợ cấp vốn là một cơ chế hỗ trợ thu nhập của các nước
chuyển đổi trước đây Vào cuối những năm 1980, đầu những năm 1990, ở Liên Xô
cũ, các hộ gia đỡnh được nhận trợ cấp nhằm giảm nhẹ cú sốc khi thực hiện tự do hoá giá cả Một số nước khác cũng đồng thời trợ cấp nhằm bảo vệ nhóm dân cư nhạy cảm khi tăng giá nhà ở và năng lượng Hiện nay, chính phủ Nga cũng đó nhỡn nhận lại cỏc chớnh sỏch xó hội của mỡnh và đề ra các mục tiêu chú trọng hơn tới
Trang 39việc đảm bảo công bằng xó hội Chỉ tiờu của chớnh phủ Nga là đảm bảo công bằng
xó hội và giảm tỷ lệ người dân có thu nhập dưới mức sống tối thiểu
1.4.1.2 Cải cỏch phõn phối qua thuế
Hệ thống thuế đóng một vai trũ quan trọng trong phõn phối thu nhập Chớnh phủ cỏc nước chuyển đổi cũng đó thực hiện nhiều bước cải cách hệ thống thuế và các sắc thuế nhằm khuyến khích các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh cho phát triển kinh tế và giảm sự mất công bằng xó hội
Ví dụ, Ba Lan đó cú một chớnh sỏch hợp lý vừa khuyến khớch được phát triển kinh tế mà vẫn đảm bảo được nhiệm vụ đảm bảo công bằng xó hội Một chương trỡnh trọn gúi nhằm vào mục tiờu tăng trưởng kinh tế ổn định, trong đó, thu nhập từ vốn được miễn thuế Nhờ đó, trong giai đoạn 1993-1997, việc tiết kiệm của các hộ gia đỡnh tăng làm tổng tiết kiệm toàn dân đó tăng lên 4% GDP Đồng thời, chính phủ cũng đó giảm thuế cụng ty và thuế thu nhập cỏ nhõn cho tất cả cỏc nhúm thu nhập khỏc nhau Những bước cải cách trên đó tăng khả năng đầu tư của các doanh nghiệp về dài hạn cũng như tăng sức cạnh tranh của nền kinh tế quốc dõn
1.4.2 Kinh nghiệm của Trung Quốc
Thay đổi lớn nhất và cần nói tới trước tiên trong chính sách phân phối của Trung Quốc là đó thay thế quan điểm phân phối bỡnh quõn chủ nghĩa trước kia
bằng quan niệm "cùng tham dự, cùng chia hưởng, ưu tiên hiệu quả, chú ý công
bằng, khuyến khích đầy đủ, hạn chế chờnh lệch, nõng cao phổ biến và cựng giàu cú" Đây được coi là kim chỉ nam cho chiến lược phân phối của Trung Quốc
trong những năm cải cách mở cửa và trong thời gian tới Những quan điểm cơ bản trên đây của Trung Quốc trong từng thời kỳ có những ưu tiên khác nhau, điều này thể hiện rất rừ trong chớnh sỏch phõn phối của Trung Quốc trong cỏc giai đoạn cải cách mở cửa
1.4.2.1 Cải cách chế độ thuế
Việc cải cách chế độ thuế lần đầu ở Trung Quốc bắt đầu từ năm 1979 đến năm 1994 gồm nhiều nội dung, trong đó liên quan trực tiếp đến phân phối thu nhập gồm các cải cách chủ yếu sau:
Trang 40- Cải cách chế độ thuế thu nhập doanh nghiệp Áp dụng thuế thu nhập
doanh nghiệp thống nhất đối với các doanh nghiệp trong nước, xóa bỏ việc căn cứ vào chế độ sở hữu để phân biệt áp dụng thu các loại thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế điều tiết DNNN, thuế thu nhập doanh nghiệp tập thể và thuế thu nhập doanh nghiệp tư nhân Đồng thời, các DNNN không được thực hiện biện pháp khoán thuế thu nhập doanh nghiệp
- Cải cách chế độ thuế thu nhập cá nhân Nguyên tắc cải cách cơ bản là
điều tiết sự chênh lệnh trong thu nhập cá nhân, giải quyết mâu thuẫn phân phối xó hội khụng cụng bằng Vỡ vậy, thuế thu nhập cỏ nhõn chủ yếu ỏp dụng thu đối với những người có thu nhập tương đối cao, thu ít hoặc không thu đối với những người
có thu nhập trung bỡnh hoặc thu nhập thấp Nội dung cải cỏch chủ yếu là hợp nhất cỏc loại thuế trước kia như thuế thu nhập cá nhân, thuế điều tiết thu nhập cá nhân, thuế thu nhập đối với hộ công thương cá thể ở thành thị và nông thôn thành một loại thuế thu nhập cá nhân mới
1.4.2.2 Chớnh sỏch chi ngõn sỏch và chuyển giao tài chớnh
Về chi tài chớnh, nhỡn vào cơ cấu chi tài chính của Trung Quốc trong hơn 20
năm cải cách mở cửa có thể nhận thấy: tỷ trọng chi phỏt triển kinh tế hạ thấp dần,
tỷ trọng về chi mang tớnh chất dịch vụ xó hội lờn cao dần:
- Chi xây dựng kinh tế đến nay tuy có hạ xuống nhưng vẫn chiếm tỉ trọng cao nhất trong các hạng mục chi, đạt tới khoảng 40% Có thể thấy, nền kinh
tế Trung Quốc đang từng bước thị trường hóa, chính phủ đang từng bước nhường chỗ cho các lĩnh vực cạnh tranh, bù lỗ cho các lĩnh vực dịch vụ xó hội
- Chi văn hóa, giáo dục, xó hội trong tổng chi ở Trung Quốc cú xu thế tăng lên, đặc biệt là vào cuối những năm 1990 Điều này cho thấy Trung Quốc ngày càng chú trọng tới vấn đề công bằng xó hội
Về chi chuyển giao tài chớnh, để hạn chế sự chênh lệch phát triển giữa các
vùng miền, đồng thời khuyến khích tính tích cực của các địa phương, Trung Quốc thực hiện chớnh sỏch chi chuyển giao tài chớnh, với cỏc nội dung sau: