1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá tình hình quản lý chất thải nguy hại ở Việt Nam và đề xuất giải pháp phù hợp để hoàn thiện về thể chế chính sách quản lý chất thải nguy hại ở Việt Nam

67 1,3K 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 1,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tổng quan về tình hình xử lý và các loại hình công nghệ xử lý chất thải nguy hại hiện đang áp dụng tại Việt Nam .... Thực tiễn đã xảy ra nhiều vấn đề nóng, bức xúc tại các địa phương về

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

-

LÊ THỊ BÍCH THỦY

ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH QUẢN LÝ CHẤT THẢI NGUY HẠI Ở VIỆT NAM VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP ĐỂ HOÀN THIỆN VỀ THỂ CHẾ CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ CHẤT THẢI

NGUY HẠI Ở VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG

Hà Nội - 2012

Trang 2

TÊN ĐỀ TÀI LUẬN VĂN

Đánh giá tình hình quản lý chất thải nguy hại ở Việt Nam

và đề xuất giải pháp phù hợp để hoàn thiện về thể chế chính sách

quản lý chất thải nguy hại ở Việt Nam Chuyên ngành: Môi trường trong phát triển bền vững

(Chương trình đào tạo thí điểm)

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS Trần Yêm

Hà Nội, năm 2012

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 5

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 7

1.1 Tổng quan về chất thải nguy hại 7

1.1.1 Khái niệm về chất thải và chất thải nguy hại 7

1.1.2 Các tính chất và thành phần nguy hại của CTNH 8

1.1.3 Phân loại CTNH 9

1.2 Quản lý Chất thải nguy hại 10

1.2.1 Khái niệm quản lý chất thải và quản lý CTNH 10

1.2.2 Các giải pháp quản lý CTNH 11

1.2.3 Một số mô hình quản lý chất thải nguy hại 12

1.2.4 Một số mô hình quản lý chất thải nguy hại hiện có ở Việt Nam 17

1.3 Tổng quan về tình hình xử lý và các loại hình công nghệ xử lý chất thải nguy hại hiện đang áp dụng tại Việt Nam 18

CHƯƠNG II ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30

2.1 Địa điểm nghiên cứu 30

2.2 Thời gian nghiên cứu 30

2.3 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 30

CHƯƠNG III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 32

3.1 Tình hình phát sinh chất thải nguy hại tại Việt Nam 32

3.2 Tình hình thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải nguy hại 46

3.3 Tình hình xử lý chất thải nguy hại tại Việt Nam 51

3.4 Tình hình quản lý chất thải nguy hại tại Việt Nam 52

3.4.1 Khung pháp lý trong quản lý chất thải nguy hại tại Việt Nam 53

3.4.2 Khung thể chế trong việc quản lý chất thải nguy hại tại Việt Nam 56

3.4.3 Về công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát 60

3.4.4 Các vấn đề khác 60

3.4.5 Các thuận lợi, khó khăn trong công tác quản lý chất thải nguy hại: 61

3.5 Đề xuất giải pháp quản lý để hoàn thiện thể chế và chính sách quản lý chất thải nguy hại ở Việt Nam 62

3.5.1 Nghiên cứu chỉnh sửa Luật Bảo vệ môi trường (đối với phần quản lý chất thải nguy hại) 62

3.5.2 Xây dựng hệ thống thông tin quản lý tích hợp chất thải nguy hại 64

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 65

TÀI LIỆU THAM KHẢO Error! Bookmark not defined.

Trang 4

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BTNMT : Bộ Tài nguyên và Môi trường

BVMT : Bảo vệ môi trường

CTNH : Chất thải nguy hại

QLCTNH : Quản lý chất thải nguy hại

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết của đề tài

Quản lý chất thải nguy hại (CTNH) là một vấn đề tương đối bức xúc trong công tác bảo vệ môi trường tại Việt Nam Theo Báo cáo hiện trạng môi trường năm 2010,

tổng lượng CTNH phát sinh hàng năm của Việt Nam trong năm 2010 vào khoảng 840

ngàn tấn Tuy nhiên, theo ước tính sơ bộ của Bộ Tài nguyên và Môi trường tại 45 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, năm 2011 lượng CTNH đã vượt con số này Theo một điều tra khảo sát của JICA, tổng lượng chất thải phát sinh tại Việt Nam năm 2010

là trên 31,5 triệu tấn, trong đó chất thải công nghiệp là 5,5 triệu tấn và CTNH là 0,86 triệu tấn Theo dự báo, tổng lượng chất thải phát sinh năm 2015 sẽ khoảng 43.6 triệu tấn (1,55 triệu tấn CTNH); dự báo lên đến 67,6 triệu tấn năm 2020 (2,8 triệu tấn CTNH); và khoảng 91 triệu tấn năm 2025 (27,8 triệu tấn chất thải công nghiệp) Do lượng phát sinh CTNH ngày càng gia tăng, nếu không có các biện pháp quản lý phù hợp sẽ dẫn đến nguy cơ gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng bắt nguồn từ các hoạt động không kiểm soát như vận chuyển trái phép hoặc xử lý không an toàn về môi trường

Mặc dù bắt đầu được quan tâm từ năm 1999 với sự ra đời của Quy chế quản lý CTNH ban hành kèm theo Quyết định số 155/1999/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, tuy nhiên phải đến năm 2006, công tác quản lý CTNH mới được thực sự triển khai có hiệu quả trong thực tế, cùng với sự ra đời của Luật Bảo vệ môi trường (sửa đổi) năm 2005 và các văn bản dưới Luật, đặc biệt là Thông tư số 12/2006/TT-BTNMT (hướng dẫn điều kiện hành nghề và thủ tục lập hồ sơ, đăng ký, cấp phép hành nghề và

mã số quản lý CTNH), Quyết định số 23/2006/QĐ-BTNMT (ban hành Danh mục CTNH) của Bộ Tài nguyên và Môi trường và Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về ngưỡng chất thải nguy hại QCVN 07: 2009/BTNMT và mới đây nhất là Thông tư số 12/2011/TT-BTNMT có hiệu lực thi hành từ 01 tháng 6 năm 2011 Tuy nhiên, việc thực hiện các quy định pháp luật này tại các địa phương còn nhiều khi gặp khó khăn, chưa có sự thống nhất và còn thiếu sót nhất định

Hơn nữa, thực tế là sau 5 năm thực hiện Thông tư số 12/2006/TT-BTNMT chưa

có báo cáo đánh giá tình hình thực tế về công tác cấp Sổ đăng ký chủ nguồn thải, cấp phép và quản lý nhà nước về CTNH của các địa phương để tổng kết, đánh giá những thuận lợi, khó khăn trong việc thực hiện và đưa ra giải pháp phù hợp

Hiện nay, tổng công suất xử lý của các chủ hành nghề quản lý CTNH chỉ đáp ứng một phần lượng CTNH phát sinh Một số đơn vị còn thiếu hiểu biết hoặc chưa cập nhật đối với các quy định về phương tiện vận chuyển CTNH chuyên dụng, các loại hình công nghệ xử lý chất thải ở trong và ngoài nước, rất khó khăn cho việc lựa chọn công nghệ thích hợp để lắp đặt tại cơ sở xử lý Ngoài ra, các đối tượng hành nghề này chưa có các hướng dẫn kỹ thuật đầy đủ liên quan đến các phương tiện, thiết bị chuyên

Trang 6

dụng cho việc hành nghề vận chuyển và xử lý CTNH Đồng thời các quy định/quy chuẩn kỹ thuật liên quan đến hoạt động hành nghề vận chuyển và xử lý CTNH tuy đã được ban hành nhưng còn thiếu và chưa đầy đủ

Thực tiễn đã xảy ra nhiều vấn đề nóng, bức xúc tại các địa phương về CTNH, Bộ Tài nguyên và Môi trường phải trả lời trước Quốc hội, Chính phủ, báo chí … và phải

có trách nhiệm đôn đốc nhưng không có đầy đủ thông tin, số liệu về công tác quản lý CTNH của các địa phương và các doanh nghiệp, ví dụ như Tổng cục Môi trường hiện không có đầy đủ thông tin về tình hình thu phí quản lý chất thải rắn của các địa phương

Từ những nhu cầu thực tiễn nêu trên, cho thấy đề tài “Đánh giá tình hình quản lý chất thải nguy hại ở Việt Nam và đề xuất giải pháp phù hợp để hoàn thiện về thể chế chính sách quản lý chất thải nguy hại ở Việt Nam” là nghiên cứu cần thiết sẽ đưa ra cái nhìn toàn diện về tình hình quản lý chất thải nguy hại tại Việt Nam

2 Mục tiêu của đề tài

Đà Nẵng, Tp Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình Dương

+ Nghiên cứu, phân tích các mô hình quản lý CTNH hiện có trên thế giới và khả năng áp dụng tại Việt Nam

+ Đề xuất các giải pháp quản lý phù hợp, bao gồm cả nội dung xây dựng, sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật

Luận văn được trình bày theo các chương, phần như sau:

- Chương 1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu;

- Chương 2 Địa điểm, thời gian, phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu;

- Chương 3 Kết quả nghiên cứu;

- Kết luận và kiến nghị;

- Tài liệu tham khảo

Trang 7

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Tổng quan về chất thải nguy hại

1.1.1 Khái niệm về chất thải và chất thải nguy hại

a Chất thải là gì?

Theo định nghĩa của Công ước Basel về Kiểm soát Chất thải Xuyên biên giới và

việc Tiêu hủy chúng (gọi tắt là Công ước Basel): chất thải là “Những chất hoặc vật thể

bị thải bỏ, hoặc chuẩn bị bị thải bỏ hoặc bị các điều khoản của luật pháp quốc gia yêu cầu phải thải bỏ”

Cơ quan Thống kê Liên hợp Quốc (United Nations Statistics Division – UNSD,

1997) đưa ra một định nghĩa đầy đủ và chi tiết hơn: “Chất thải là những vật chất

không phải là sản phẩm chính yếu (tức là không phải sản phẩm sản xuất dành cho thị trường) mà người phát sinh ra chúng không có bất kỳ một mục đích sử dụng nào khi sản xuất, chuyển hóa hoặc sử dụng chúng, và người đó muốn thải bỏ/tiêu hủy chúng Chất thải có thể phát sinh từ quá trình khai thác nguyên liệu thô, chế biến nguyên liệu thô thành sản phẩm trung gian và sản phẩm cuối cùng, tiêu thụ sản phẩm cuối cùng,

và các hoạt động khác của con người Những chất dư thừa được tái chế hoặc tái sử dụng ngay tại nơi phát sinh thì không tính là chất thải”

Theo Cộng đồng châu Âu (EU), chất thải được định nghĩa là vật mà người nắm giữ chúng thải bỏ, có ý thải bỏ hoặc được yêu cầu phải thải bỏ Khi một chất hoặc một vật đã trở thành chất thải, nó sẽ vẫn là chất thải cho đến khi được thu hồi hoàn toàn và không còn gây bất cứ một mối nguy hại tiềm tàng nào đối với môi trường và sức khỏe con người

Theo Luật Bảo vệ môi trường (BVMT) năm 2005, “Chất thải là vật chất ở thể

rắn, lỏng, khí được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác”

b Chất thải nguy hại là gì?

Công ước Basel không đưa ra định nghĩa cụ thể về CTNH mà đưa ra các phụ lục trong Công ước, trong đó xác định những chất thuộc Phụ lục I và có ít nhất một thuộc tính trong Phụ lục III, hoặc các chất do nước sở tại quy định trong luật pháp của nước

đó, được coi là CTNH

Cục Bảo vệ Môi trường Mỹ đưa ra định nghĩa CTNH là “Chất thải có tính chất nguy hiểm hoặc nguy hiểm tiềm tàng đối với môi trường và sức khỏe con người Chất thải nguy hại có thể ở dạng rắn, lỏng, khí hoặc bùn Chúng có thể là sản phẩm thương mại bị thải bỏ như dung dịch tẩy rửa hoặc thuốc bảo vệ thực vật (BVTV), hoặc là phụ phẩm của quá trình sản xuất”

Trang 8

Theo Luật BVMT 2005: “Chất thải nguy hại là chất thải chứa yếu tố độc hại,

phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn, dễ lây nhiễm, gây ngộ độc hoặc đặc tính nguy hại khác”

Định nghĩa về CTNH trong Luật BVMT 2005 nhìn chung là đầy đủ và đã cụ thể hoá định nghĩa này trong Thông tư số 12/2011/TT-BTNMT bằng danh mục các CTNH theo nguồn thải

1.1.2 Các tính chất và thành phần nguy hại của CTNH

Định nghĩa của Luật BVMT 2005 đã nêu lên đầy đủ các tính chất của CTNH, đó

là “độc hại, phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn, dễ lây nhiễm, gây ngộ độc hoặc đặc tính nguy hại khác” Tại Thông tư số 12/2011/TT-BTNMT ngày 14 tháng 4 năm 2011 của Bộ Tài nguyên và Môi trường Quy định về Quản lý Chất thải nguy hại, các tính chất nguy hại chính được tóm tắt như sau (tại Phụ lục 8):

Dễ nổ (N): Các chất thải ở thể rắn hoặc lỏng mà bản thân chúng có thể nổ do kết quả của phản ứng hoá học (tiếp xúc với ngọn lửa, bị va đập hoặc ma sát), tạo ra các loại khí ở nhiệt độ, áp suất và tốc độ gây thiệt hại cho môi trường xung quanh

Ăn mòn (AM): Các chất thải, thông qua phản ứng hoá học, sẽ gây tổn thương nghiêm trọng các mô sống khi tiếp xúc, hoặc trong trường hợp rò rỉ sẽ phá huỷ các loại vật liệu, hàng hoá và phương tiện vận chuyển Thông thường đó là các chất hoặc hỗn hợp các chất có tính axit mạnh (pH nhỏ hơn hoặc bằng 2), hoặc kiềm mạnh (pH lớn hơn hoặc bằng 12,5)

Oxi hoá (OH): Các chất thải có khả năng nhanh chóng thực hiện phản ứng oxy hoá toả nhiệt mạnh khi tiếp xúc với các chất khác, có thể gây ra hoặc góp phần đốt cháy các chất đó

Gây nhiễm trùng (NT): Các chất thải chứa các vi sinh vật hoặc độc tố được cho

là gây bệnh cho con người và động vật

Có độc tính (Đ): Bao gồm:

Độc tính cấp: Các chất thải có thể gây tử vong, tổn thương nghiêm trọng hoặc có hại cho sức khoẻ qua đường ăn uống, hô hấp hoặc qua da

Trang 9

Độc tính từ từ hoặc mãn tính: Các chất thải có thể gây ra các ảnh hưởng từ từ hoặc mãn tính, kể cả gây ung thư, do ăn phải, hít thở phải hoặc ngấm qua da

Có độc tính sinh thái (ĐS): Các chất thải có thể gây ra các tác hại ngay lập tức hoặc từ từ đối với môi trường, thông qua tích luỹ sinh học và/ hoặc tác hại đến các hệ sinh vật

Những tính chất được liệt kê ở đây cũng tương đồng với những tính chất được liệt kê ở Phụ lục III của Công ước Basel

Tại Hoa Kỳ, CTNH được phân thành các loại sau (US EPA, 2010):

CTNH đã được đưa vào danh mục: những chất thải đã được EPA xác định là CTNH, được đưa vào danh mục và công bố rộng rãi Các danh mục bao gồm:

Danh mục F (CTNH từ những nguồn không đặc thù): danh mục này nhằm giúp xác định CTNH từ các quá trình công nghiệp và sản xuất thông thường, ví dụ như dung môi đã sử dụng để tẩy rửa hoặc khử dầu mỡ Do các quá trình làm phát sinh ra các chất thải này có thể diễn ra trong nhiều ngành khác nhau nên các CTNH thuộc danh mục F còn được gọi là chất thải từ những nguồn không đặc thù

Danh mục K (CTNH từ những nguồn đặc thù): danh mục này nhằm giúp xác định CTNH từ các ngành công nghiệp đặc thù như lọc dầu hoặc sản xuất thuốc BVTV CTNH thuộc danh mục này có thể là một số loại bùn và nước thải từ các quá trình sản xuất và xử lý thuộc các ngành công nghiệp đặc thù này

Danh mục U (các sản phẩm hóa chất thương mại bị thải bỏ): danh mục này bao gồm các sản phẩm hóa chất thương mại đặc thù khi được đưa vào tình trạng không sử dụng Một số loại thuốc BVTV hoặc dược phẩm có thể trở nên nguy hại khi bị thải bỏ CTNH đặc tính: các chất thải không nằm trong các danh sách nêu trên nhưng thể hiện một hoặc hơn một tính chất nguy hại như là dễ cháy, ăn mòn, phản ứng hoặc độc CTNH được công nhận rộng rãi: ắc quy, thuốc BVTV, thiết bị chứa thủy ngân (như nhiệt kế) và các loại bóng đèn (như là đèn huỳnh quang)

CTNH hỗn hợp: những chất thải vừa có tính phóng xạ vừa có các tính chất nguy hại

Đối với EU, việc phân loại CTNH được dựa trên Catalô Chất thải châu Âu, được chỉnh sửa mới nhất vào năm 2009 (European Waste Catalogue – EWC, 2009), trong

đó chất thải (và CTNH) được chia thành các nhóm ký hiệu từ 01 đến 20 dựa theo

Trang 10

nguồn phát sinh Đây là cách tiếp cận được Việt Nam áp dụng để xây dựng danh mục CTNH (ban hành theo Thông tư số 12/2011/TT-BTNMT), trong đó CTNH có thể phân loại thành các nhóm như sau:

01 Chất thải từ ngành thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản, dầu khí và than

02 Chất thải từ ngành sản xuất hoá chất vô cơ

03 Chất thải từ ngành sản xuất hoá chất hữu cơ

04 Chất thải từ nhà máy nhiệt điện và các quá trình nhiệt khác

05 Chất thải từ quá trình luyện kim

06 Chất thải từ quá trình sản xuất thuỷ tinh và vật liệu xây dựng

07 Chất thải từ quá trình xử lý, che phủ bề mặt, tạo hình kim loại và các vật liệu khác

08 Chất thải từ quá trình sản xuất, điều chế, cung ứng và sử dụng các sản phẩm che phủ (sơn, véc ni, men thuỷ tinh), keo, chất bịt kín và mực in

09 Chất thải từ ngành chế biến gỗ, sản xuất các sản phẩm gỗ, giấy và bột giấy

10 Chất thải từ ngành da, lông và dệt nhuộm

11 Chất thải xây dựng và phá dỡ (kể cả đất đào từ các khu vực bị ô nhiễm)

12 Chất thải từ các cơ sở quản lý chất thải, xử lý nước thải tập trung, xử lý nước cấp sinh hoạt và công nghiệp

13 Chất thải từ ngành y tế và thú y

14 Chất thải từ các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản

15 Chất thải từ hoạt động phá dỡ thiết bị, phương tiện giao thông vận tải đã hết hạn sử dụng

16 Chất thải hộ gia đình và chất thải sinh hoạt từ các nguồn khác

17 Dầu thải, chất thải từ nhiên liệu lỏng, chất thải dung môi hữu cơ, môi chất lạnh và chất đẩy

18 Các loại chất thải bao bì, chất hấp thụ, giẻ lau, vật liệu lọc và vải bảo vệ

19 Các loại chất thải khác

Theo các danh mục này, còn có thể tiếp tục phân CTNH ra thành các nhóm phụ

từ các nhóm nêu trên

1.2 Quản lý Chất thải nguy hại

1.2.1 Khái niệm quản lý chất thải và quản lý CTNH

Quản lý chất thải là quá trình bao gồm thu gom, vận chuyển, xử lý, tái chế hoặc tiêu hủy, và quan trắc các loại chất thải Mục đích của quản lý chất thải là nhằm làm

Trang 11

giảm các nguy cơ, tác động của chất thải tới sức khỏe con người và môi trường Theo

Luật BVMT 2005, quản lý chất thải là hoạt động phân loại, thu gom, vận chuyển,

giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế, xử lý, tiêu hủy, thải loại chất thải Cụ thể hơn, đối với chất thải rắn, theo Nghị định số 59/2007/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý chất thải

rắn, hoạt động quản lý chất thải rắn bao gồm các hoạt động quy hoạch quản lý, đầu tư

xây dựng cơ sở quản lý chất thải rắn, các hoạt động phân loại, thu gom, lưu giữ, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế và xử lý chất thải rắn nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu những tác động có hại đối với môi trường và sức khoẻ con người

Phương thức quản lý chất thải rất đa dạng, và có sự khác biệt đáng kể giữa các nước phát triển với các nước đang phát triển, giữa thành thị và nông thôn, giữa chất thải sinh hoạt và công nghiệp Trách nhiệm quản lý các loại chất thải sinh hoạt thông thường ở các đô thị lớn thường thuộc về chính quyền sở tại, trong khi đó, đối với chất thải công nghiệp thông thường, trách nhiệm thuộc về các cơ sở tạo ra chất thải

Quá trình quản lý CTNH cũng bao gồm các bước cơ bản tương tự như đã nêu trên Tuy nhiên, do các tính chất nguy hại và các rủi ro có thể gây ra cho con người và môi trường, CTNH được quản lý một cách chặt chẽ hơn, với những yêu cầu nghiêm ngặt hơn, bởi chỉ cần một lượng nhỏ CTNH không được quản lý thích hợp cũng có thể gây ra hậu quả khôn lường Do những yêu cầu nghiêm ngặt hơn, CTNH được quản lý,

xử lý riêng biệt, với những biện pháp kỹ thuật, công nghệ và pháp lý có phần khác biệt

so với chất thải thông thường, trong đó, yếu tố an toàn được đặt lên hàng đầu Theo Thông tư số 12/2011/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường Quy định về

Quản lý chất thải nguy hại, quản lý CTNH là các hoạt động liên quan đến việc phòng

ngừa, giảm thiểu, phân định, phân loại, tái sử dụng trực tiếp, lưu giữ tạm thời, vận chuyển và xử lý CTNH

kế sản phẩm, tăng cường tuổi thọ sản phẩm Đối với các hộ gia đình, các giải pháp chủ yếu bao gồm tái sử dụng chất thải (như giấy, vải), giảm sử dụng các loại bao bì, sử dụng điện nước tiết kiệm

Trang 12

Thu gom, lưu trữ và vận chuyển: là một quá trình nhằm thu nhặt các loại chất thải từ các nguồn khác nhau và vận chuyển các chất thải đến các vị trí (các trạm trung chuyển, lưu giữ) mà các xe thu gom có thể đến mang chất thải đi đến nơi xử lý

Tái sử dụng: sử dụng lại chất thải mà không cần phải xử lý hay chế biến lại, có thể là với cùng chức năng như trước khi bị thải bỏ, hoặc với chức năng khác so với trước khi bị thải bỏ

Tái chế: xử lý, chế biến chất thải thành các sản phẩm mới nhằm giảm tiêu thụ nguyên liệu thô, giảm tiêu thụ năng lượng, nói một cách khác là giảm ô nhiễm môi trường thông qua việc giảm sử dụng các biện pháp xử lý/tiêu hủy chất thải “truyền thống”

Xử lý: các hoạt động, biện pháp (ngoài các hoạt động đã nêu trên) nhằm đảm bảo chất thải sẽ gây ít tác động nhất có thể đến môi trường và sức khỏe con người Bao gồm rất nhiều biện pháp kỹ thuật cụ thể đối với từng loại hình chất thải (chất thải rắn, nước thải, khí thải)

Chôn lấp: đây là biện pháp được xếp cuối cùng về ưu tiên trong hệ thống quản lý chất thải, tuy nhiên cũng là biện pháp lâu đời nhất và hiện nay vẫn đang là biện pháp phổ biến nhất ở rất nhiều nơi trên thế giới

1.2.2.2 Yêu cầu về an toàn trong quản lý CTNH

Đối với CTNH, chỉ cần một lượng nhỏ phát sinh ra ngoài môi trường mà không được quản lý thích hợp là đủ để gây ra những hậu quả không thể lường trước được Chính vì vậy, các yêu cầu về an toàn trong quản lý CTNH là đặt biệt nghiêm ngặt, và đây cũng là điểm khác biệt chính giữa hệ thống quản lý CTNH so với hệ thống quản lý chất thải thông thường Khía cạnh an toàn trong quản lý CTNH thường bao gồm một

số vấn đề sau:

Đóng gói CTNH;

Dán nhãn CTNH;

Yêu cầu về kho lưu trữ CTNH;

Yêu cầu về thao tác vận hành trong kho lưu trữ;

An toàn trong vận chuyển và bốc dỡ CTNH

1.2.3 Một số mô hình quản lý chất thải nguy hại

Quản lý chất thải nguy hại là sự kết hợp với những yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, đồng thời phải tuân thủ được các quy định của pháp luật về chất thải nói chung

và CTNH nói riêng

1.2.3.1 Một số mô hình quản lý chất thải cơ bản

Trang 13

a Mô hình vòng đời dựa vào việc đánh giá vòng đời của một sản phẩm từ quan

điểm sản xuất và tiêu thụ (xem hình 1) Việc giảm thiểu tiêu thụ và tận dụng các sản phẩm bị thải bỏ trong hệ thống sản xuất (để làm nguồn nguyên liệu thay thế) có thể giúp làm giảm phát sinh lượng chất thải cuối vòng đời , do đó sẽ giúp giảm bớt được công sức và tài nguyên để tiêu hủy chất thải

Hình 1: Hệ thống quản lý chất thải tổng hợp dựa trên vòng đời (Nguồn: UNEP, 2009)

Mô hình thứ nhất tập trung vào việc giảm thiểu phát sinh chất thải, tiết kiệm tài nguyên và năng lượng Đây là mô hình có thể coi là lý tưởng nhất vì nó nhắm tới cấp cao nhất trong hệ thống cấp bậc ưu tiên của quản lý chất thải Tuy nhiên, để thực hiện

mô hình này thì sẽ đòi hỏi phải có cải tiến công nghệ sản xuất một cách triệt để, toàn diện, một quá trình sẽ rất tốn kém và không phù hợp với điều kiện công nghệ cũng như kinh tế của Việt Nam hiện nay (thậm chí các nước phát triển tiên tiến trên thế giới cũng chưa thể hoàn toàn đạt đến mô hình này)

Mô hình dựa trên nguồn phát sinh tức là dựa vào sự phát sinh chất thải từ các

nguồn khác nhau bao gồm sinh hoạt, công nghiệp, nông nghiệp, thương mại Chất thải

sẽ được phân loại thành nguy hại và không nguy hại (hình 2) Chất thải sẽ được phân loại tại nguồn và được thu gom, xử lý theo đúng những quy định nghiêm ngặt Cách tiếp cận 3R có thể được áp dụng ngay tại nguồn phát sinh hoặc các khác nhau trong chuỗi quản lý (thu gom, vận chuyển, xử lý và tiêu hủy)

Trang 14

Hình 2: Hệ thống quản lý chất thải dựa trên nguồn phát sinh (Nguồn: UNEP, 2009)

Trọng tâm của mô hình thứ hai là việc phân loại chất thải tại nguồn, để giúp cho việc quản lý chất thải đạt hiệu quả cao và tiết kiệm Đây dường như là mô hình lý tưởng nhất để áp dụng cho hệ thống quản lý CTNH Nhưng cần nhận thấy rằng vấn đề phân loại chất thải tại nguồn không chỉ đòi hỏi phải có công nghệ tiên tiến mà còn đặc biệt yêu cầu phải có sự chuyển biến nhận thức sâu rộng trong toàn xã hội, để cho phân loại chất thải trở thành một thói quen trong cả sản xuất lẫn sinh hoạt, tiêu dùng Quá trình chuyển biến này sẽ đòi hỏi một thời gian dài và cũng chưa thể khẳng định được chính xác khi nào có thể đạt được hiệu quả cần thiết Như vậy, mô hình này cũng chưa thể áp dụng ngay với tình hình của Việt Nam Nếu áp dụng mô hình này cho quản lý CTNH thì cũng cần lưu ý rằng một số biện pháp xử lý sẽ không thực hiện được như với chất thải thông thường, ví dụ như làm biogas/compost

Mô hình dựa trên quản lý là sự tổng hợp của các quy định, thể chế, cơ chế tài

chính, công nghệ và cơ sở hạ tầng, cùng với vai trò của nhiều bên liên quan khác nhau trong chu trình quản lý chất thải (xem hình 3)

Trang 15

Hình 3: Hệ thống quản lý chất thải dựa trên quản lý (Nguồn: UNEP, 2009)

Mô hình này bao gồm 3 nhóm đối tượng: quy trình quản lý (từ phát sinh đến tiêu hủy sau cùng), chủ thể của quá trình quản lý (người phát sinh, cơ quan quản lý, các nhà cung cấp dịch vụ quản lý và xử lý), công cụ (quy định, tiêu chuẩn, cải tiến công nghệ)

Mô hình dựa trên quản lý tập trung vào các biện pháp tổng hợp (chủ yếu về mặt quản lý, pháp luật, cơ chế) để thực hiện tốt từng bước trong chuỗi quy trình quản lý chất thải Mô hình này không thực sự đòi hỏi phải có sự cải tiến nào về công nghệ cũng như nhận thức, mà tận dụng hệ thống pháp luật, quản lý, công nghệ và kỹ thuật sẵn có Đây là mô hình rất phù hợp với Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

1.2.3.2 Mô hình quản lý chất thải bền vững

Xuất phát từ các mô hình quản lý chất thải cơ bản, một số tổ chức đã xây dựng một cách tiếp cận khác đối với quản lý chất thải nói chung và quản lý CTNH nói riêng,

đó là quản lý chất thải tổng hợp bền vững (ISWM – Integrated Sustainable Waste Management) Trong đó, quản lý chất thải là một quá trình tổng hợp gồm các bên liên quan trong quá trình quản lý chất thải; các yếu tố (thực tiễn và kỹ thuật) và các khía cạnh bền vững trong bối cảnh thực tiễn mà cần phải xem xét khi đánh giá và quy hoạch hệ thống quản lý chất thải

Các bên liên quan

Bên liên quan là cá nhân hay tổ chức có vai trò, trách nhiệm, lợi ích trong quản

lý chất thải bao gồm:

Trang 16

Chính quyền: địa phương và trung ương;

Các bên phát sinh chất thải: các ngành công nghiệp, thương mại, dịch vụ…; Nhà cung cấp dịch vụ (thu gom, xử lý, tái chế, tiêu hủy);

Cộng đồng, các đoàn thể, tổ chức xã hội, các nhóm tôn giáo, các thể chế, tổ chức cấp quốc gia, vùng hay địa phương như trường học, bệnh viện, công đoàn, quân đội,

cơ quan chính phủ, công viên quốc gia, hiệp hội du lịch…

Đối với quản lý chất thải nói chung, và quản lý CTNH nói riêng ở Việt Nam, các bên liên quan khá đa dạng, bao gồm: chính quyền các cấp, các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ (cả tư nhân lẫn nhà nước) Tuy nhiên vai trò của cộng đồng, các tổ chức, đoàn thể xã hội còn mờ nhạt

Các yếu tố kỹ thuật

Các yếu tố của bản thân hệ thống chất thải đôi khi còn được gọi là thành phần kỹ thuật của quản lý chất thải Hầu hết các yếu tố này đều là các giai đoạn trong vòng đời của các chất/sản phẩm Chu trình vòng đời này bắt đầu từ khi khai thác tài nguyên thiên nhiên, tiếp tục đến các giai đoạn chế biến, sản xuất và tiêu thụ, và cuối cùng kết thúc tại giai đoạn xử lý và tiêu hủy sau cùng Các khía cạnh kỹ thuật cơ bản của hệ thống chất thải bao gồm:

Ngăn ngừa và giảm thiểu chất thải;

Tái sử dụng;

Thu gom;

Vận chuyển;

Tái chế, hay thu hồi nguyên liệu;

Thu hồi năng lượng;

Tiêu hủy an toàn

Ở Việt Nam, các khía cạnh liên quan đến dịch vụ quản lý CTNH (thu gom, vận chuyển, tái chế, xử lý, tiêu hủy, thu hồi năng lượng) đã được quy định cụ thể và thực hiện một cách tương đối nghiêm chỉnh và hiệu quả Tuy nhiên, khía cạnh liên quan đến bên phát sinh chất thải, tức là ngăn ngừa và giảm thiểu chất thải, vẫn chưa đạt được hiệu quả rõ rệt Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng này, bên cạnh trình độ công nghệ còn lạc hậu, thì chủ yếu vẫn là do ý thức của các doanh nghiệp sản xuất, dịch vụ còn chưa cao, việc áp dụng các biện pháp nhằm giảm thiểu và ngăn ngừa phát sinh chất thải hoàn toàn phụ thuộc vào sự tự giác tự nguyện của họ, chưa có các quy định

cụ thể cũng như các biện pháp khuyến khích liên quan đến vấn đề này

Các khía cạnh bền vững

Các khía cạnh bền vững bao gồm:

Trang 17

Khía chính sách và luật pháp: ở nước ta đã có những văn bản quy định cụ thể về quản lý CTNH, thể hiện được sự quan tâm đúng mức của nhà nước đối với lĩnh vực này

Khía cạnh thể chế và tổ chức: Việt Nam cũng đã có các cơ quan chuyên trách ở cấp trung ương về quản lý CTNH

Khía cạnh văn hóa và xã hội: một điểm còn thiếu sót và chưa được quan tâm trong lĩnh vực quản lý CTNH Nhìn chung ý thức của người dân cũng như doanh nghiệp về việc giảm thiểu chất thải, phân loại chất thải tại nguồn còn chưa cao (mặc dù

đã có một số chiến dịch tuyên truyền về vấn đề này) Nếu khía cạnh này được cải thiện, tăng cường thì sẽ đem lại chuyển biến đáng kể trong công tác quản lý CTNH Khía cạnh tài chính/kinh tế: ngành dịch vụ xử lý, thu gom, tái chế CTNH ở Việt Nam rất tiềm năng và có lợi ích kinh tế đáng quan tâm (đặc biệt là từ việc tái chế chất thải), hiện đang có nhiều doanh nghiệp đang và sẽ tham gia đầu tư vào thị trường này Hiện nay đã có hỗ trợ cho hoạt động quản lý chất thải rắn nói chung (Thông tư 121/2008/TT-BTC), đồng thời Quỹ BVMT Việt Nam cũng có các hình thức tài trợ hoặc cho vay với lãi suất ưu đãi cho các dự án xử lý chất thải, tuy nhiên chưa có các quy định hỗ trợ đặc thù dành cho ngành quản lý CTNH Mặc khác, cũng như chưa có khuyến khích tài chính để các doanh nghiệp sản xuất, dịch vụ áp dụng các biện pháp ngăn ngừa, giảm thiểu phát sinh chất thải

Khía cạnh công nghệ và kỹ thuật: các công nghệ, thiết bị phục vụ xử lý, tiêu hủy, tái chế CTNH đang sử dụng tại Việt Nam là tương đối hiện đại, có khả năng đáp ứng được các quy định, tiêu chuẩn về quản lý CTNH tại Việt Nam

Khía cạnh môi trường/sức khỏe: vấn đề BVMT, sức khỏe đang ngày nhận được

sự quan tâm đúng mức của nhà nước và xã hội, đã được lồng nghép vào nhiều lĩnh vực của đời sống Đây là một thuận lợi cho công tác BVMT nói chung và quản lý CTNH nói riêng tại Việt Nam

1.2.4 Một số mô hình quản lý chất thải nguy hại hiện có ở Việt Nam

1.2.4.1 Mô hình do Nhà nước quản lý

Mô hình này là Các công ty Môi trường đô thị hoạt động dưới hình thức các đơn

vị sự nghiệp có thu hoặc Công ty TNHH Nhà nước một thành viên trực thuộc UBND thành phố Tiền lương cho cán bộ công nhân viên chức, các loại phương tiện, trang bị ban đầu do Nhà nước đầu tư lấy từ nguồn vốn ngân sách, nguồn thu từ hoạt động thu gom Công ty Môi trường đô thị của các tỉnh, thành phố là đơn vị trực tiếp đảm nhận công tác quản lý vệ sinh môi trường và các công trình đô thị nói chung, đồng thời là đơn vị tổ chức thực hiện công tác thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn sinh hoạt cũng như CTNH Nguồn vốn hoạt động của các Công ty này lấy từ ngân sách hỗ trợ của Nhà nước và nguồn thu từ các dịch vụ vệ sinh môi trường

Trang 18

1.2.4.2 Mô hình do các Công ty tư nhân hoạt động dưới hình thức các đơn vị hành nghề quản lý chất thải nguy hại

Tại một số tỉnh, thành phố hiện nay, công tác thu gom, vận chuyển và xử lý CTNH được thực hiện bởi các tổ chức tư nhân dưới hình thức các Công ty thương mại

và Dịch vụ xử lý môi trường Các Công ty này phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện hành nghề quản lý CTNH theo quy định tại Thông tư số 12/TT-BTNMT và được Cơ quan quản lý nhà nước về môi trường có thẩm quyền cấp Giấy phép hành nghề QLCTNH Dưới góc độ quản lý nhà nước các Công ty này đã đóng góp phần lớn trong việc xử lý CTNH phát sinh từ các nguồn khác nhau, thông qua các báo cáo định kỳ theo quy định các cơ quan quản lý luôn có thể kiểm soát được lượng CTNH phát sinh, thu gom và xử

lý Bên cạnh đó về mặt thương mại các Công ty này cũng đóng góp không nhỏ vào tổng thu nhập quốc dân cũng như giải quyết công ăn việc làm cho một bộ phận người lao động Theo số liệu thống kê, hiện nay có khoảng 100 Doanh nghiệp được Tổng cục Môi trường cấp giấy phép hành nghề quản lý CTNH và khối lượng CTNH các đơn vị này thu gom xử lý chiếm tới 80% tổng lượng CTNH được xử lý Nhìn chung, đây là

mô hình quản lý CTNH hiệu quả nhất hiện nay

1.3 Tổng quan về tình hình xử lý và các loại hình công nghệ xử lý chất thải nguy hại hiện đang áp dụng tại Việt Nam

1.3.1 Xử lý và tiêu hủy chất thải rắn nguy hại

Xử lý chất thải công nghiệp nguy hại

Hiện nay ở Việt Nam có khoảng hơn 80 doanh nghiệp hành nghề quản lý chất thải nguy hại Các doanh nghiệp này được Bộ TN&MT hoặc Sở TN&MT cấp tỉnh cấp giấy phép hoạt động Hầu hềt các doanh nghiệp thu gom và xử lý chất thải đều tập trung ở phía Nam

Số lượng các đơn vị hành nghề vận chuyển và xử lý CTNH được Bộ TN&MT cấp phép gia tăng hàng năm Tính đến tháng 6 năm 2011, Bộ TN&MT đã cấp được 80 Giấy phép hành nghề vận chuyển CTNH và 43 Giấy phép hành nghề xử lý CTNH cho các cá nhân, tổ chức đăng ký

Trang 19

từ 85.264 lên đến 129.688 tấn/năm (tăng 34%)

Khối lượng CTNH được xử lý hàng năm

85.264

99.236

129.688

0 20.000 40.000 60.000 80.000 100.000 120.000 140.000

Trang 20

rác với công suất 20 tấn/ngày là một trong những công trình xử lý chất thải công nghiệp lớn nhất tại vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc đang trong quá trình vận hành thử nghiệm để cấp phép

Nhìn chung, các công nghệ hiện có còn chưa thực sự hiện đại, sử dụng các công nghệ đa dụng cho nhiều loại CTNH và thường ở quy mô nhỏ, nhưng đã đáp ứng được phần nào nhu cầu xử lý CTNH của Việt Nam

Các công nghệ điển hình và phổ biến để xử lý CTNH hiện nay được tóm tắt trong bảng dưới đây

8 Phá dỡ, tái chế ắc quy chì thải 9 9 0,5 – 200 tấn/ngày

phuy/ngày

12 Tận thu kim loại (xử lý xỉ

kẽm, tận thu muối kim loại) 4 10 0,1 – 1 tấn/h

a) Lò đốt tĩnh hai cấp

Đây là loại công nghệ phổ biến được sử dụng nhiều ở Việt Nam với tổng số 28

lò đốt, chiếm 23/43 số cơ sở xử lý CTNH do Tổng cục Môi trường cấp phép Công suất của các lò đốt dao động từ 50-1000 kg/h, giá thành từ vài trăm triệu đến khoảng chục tỷ đồng tuỳ theo công suất và cấu trúc của lò đốt

Các lò đốt này đều sử dụng quy trình công nghệ dạng buồng đốt tĩnh theo mẻ và thiêu đốt hai cấp Lò thường cấu tạo 2 buồng đốt gồm: buồng đốt sơ cấp để đốt cháy các chất thải cần tiêu hủy hoặc hóa hơi chất độc ở nhiệt độ 400-800oC; buồng đốt thứ cấp để tiếp tục đốt cháy hơi khí độc phát sinh từ buồng đốt sơ cấp ở nhiệt độ trên

Trang 21

1100oC Một số lò có thêm buồng đốt bổ sung sau buồng đốt thứ cấp để tăng cường hiệu quả đốt các khí độc Đa số các lò không có biện pháp lấy tro trong quá trình đốt Các lò đốt đều trang bị hệ thống xử lý khí thải và trao đổi nhiệt (hạ nhiệt bằng không khí hoặc nước); hấp thụ (phun sương hoặc sục dung dịch kiềm) và có thể có hấp phụ (than hoạt tính)

Ưu điểm của công nghệ lò đốt tĩnh hai cấp là công nghệ đơn giản, sẵn có (nhập khẩu hoặc chế tạo trong nước), chi phí đầu tư hợp lý, dễ vận hành phù hợp điều kiện Việt Nam Lò đốt cũng là công nghệ chủ lực trong các cơ sở xử lý CTNH do có dải CTNH xử lý rộng (bao gồm cả chất thải y tế)

Tuy nhiên, việc đốt theo mẻ dẫn đến công suất không cao do mất thời gian khi khởi động và dừng lò, hoặc khi tro đã đầy phải lấy ra đối với các lò không lấy tro giữa quá trình đốt Quy trình kiểm soát, vận hành còn thủ công hoặc chưa tự động hoá cao nên khó có thể đốt các CTNH đặc biệt độc hại như các chất có chứa halogen (ví dụ PCB, thuốc bảo vệ thực vật có nhóm cơ clo) Bên cạnh đó, lò đốt tĩnh thường không đốt được hoặc đốt không hiệu quả đối với các loại chất thải khó cháy và có độ kết dính cao như bùn thải Nhiều lò đốt, đặc biệt các lò giá rẻ thường hay bị trục trặc hệ thống béc đốt hoặc hệ thống xử lý khí thải (như bị thủng ống khói do hơi axit)

Hình 4: Hệ thống xử lý khí thải lò đốt CTNH

b) Đồng xử lý trong lò nung xi măng

Công nghệ này được áp dụng tại hai cơ sở sản xuất xi măng ở Kiên Giang và Hải Dương Do đặc thù của công nghệ sản xuất xi măng lò quay, có thể sử dụng CTNH làm nguyên liệu, nhiên liệu bổ sung cho quá trình sản xuất xi măng, chất thải được thiêu huỷ đồng thời trong lò nung xi măng ở nhiệt độ cao (trên 1300o

C) Lò nung clinke có hình trụ quay quanh trục để đảo trộn các vật liệu khi nung Do quá trình nung

xi măng thường phát sinh nhiều khí độc và bụi nên các nhà máy sản xuất xi măng thường đầu tư hệ thống xử lý khí thải hiện đại Hệ thống xử lý khí thải nhà máy xi măng bao gồm các công đoạn như: lọc bụi thô bằng xyclon, lọc bụi tinh bằng tĩnh điện

Trang 22

hoặc túi vải, sau đó sử dụng phương pháp hấp thụ các khí độc bằng dung dịch kiềm dưới dạng phun sương

Đồng xử lý CTNH trong lò nung xi măng có nhiều ưu điểm lớn như hiệu suất tiêu huỷ cao, xử lý được nhiều loại CTNH với khối lượng lớn, kể cả các chất thải có chứa halogen Đặc biệt là hiệu quả kinh tế do tiết kiệm được nguyên liệu, nhiên liệu đầu vào do việc tuyển lựa các loại CTNH có đặc tính dễ cháy, góp phần cung cấp nhiệt lượng và có thành phần phù hợp với nguyên liệu sản xuất xi măng Bên cạnh đó, đồng

xử lý tận dụng hệ thống sản xuất xi măng sẵn có nên tiết kiệm được chi phí đầu tư về

cơ sở hạ tầng

Tuy nhiên, đồng xử lý CTNH trong lò nung xi măng đòi hỏi công nghệ sản xuất

xi măng hiện đại là lò quay khô, có tiền nung, cần nghiên cứu kỹ quá trình nạp chất thải vào lò để không ảnh hưởng đến quá trình sản xuất xi măng cũng như đảm bảo hiệu quả xử lý CTNH Ngoài ra, một lý do mà các nhà máy xi măng ở Việt Nam chưa mặn

mà với việc đồng xử lý là vì nỗi lo ảnh hưởng đến vấn đề thị trường như định kiến của khách hàng về chất lượng sản phẩm xi măng hoặc việc nghiên cứu triển khai đồng xử

lý gây xao lãng trong cuộc đua giành thị phần xi măng

Ưu điểm của hầm chôn lấp CTNH có khả năng cô lập các CTNH chưa có khả năng xử lý bằng công nghệ khác, công suất lớn và giá thành xử lý khá rẻ so với nhiều phương pháp tiêu huỷ khác như đốt Các hầm chôn lấp đều có mái che kín trong quá trình vận hành nên biện pháp này có tính chất là đóng kén hơn là chôn lấp, không có khả năng phát sinh nước rò rỉ nhưng vẫn có hệ thống thu gom nước rò rỉ

Trang 23

Tuy nhiên phương pháp này khá tốn diện tích CTNH không được xử lý triệt để, mối nguy cơ rò rỉ vẫn còn nên cần giám sát lâu dài sau khi đóng hầm Một lý do khiến loại hình chôn lấp CTNH chưa được triển khai rộng do phải đảm bảo các điều kiện ngặt nghèo về khoảng cách với các khu dân cư theo TCXDVN 320:2004

Hình 6: Hầm chôn lấp CTNH

d) Hóa rắn (bê tông hóa)

Công nghệ này được sử dụng phổ biến ở 19/43 cơ sở hành nghề xử lý CTNH do Tổng cục Môi trường cấp phép với công suất trung bình từ 1 – 5 m3/h

Đặc điểm của công nghệ là sử dụng CTNH kết hợp với xi măng, cát, sỏi, nước

để đóng rắn CTNH dạng trơ, vô cơ như tro xỉ, tránh phát tán các thành phần nguy hại

ra môi trường Hiện nay đang phổ biến hai công nghệ là hoá rắn có nén ép cưỡng bức (sử dụng máy ép thuỷ lực để ép chặt cốt liệu bê tông như sản xuất gạch block) và hoá rắn thông thường (đổ bê tông tự nhiên) Cấu tạo của hệ thống hoá rắn thường rất đơn giản, gồm có máy trộn bê tông và máy ép khuôn hoặc các khuôn đúc

Công nghệ hóa rắn có ưu điểm là thiết bị, công nghệ đơn giản, sẵn có (có thể tự lắp đặt, chế tạo), dễ vận hành, có hiệu quả kinh tế vì có thể tận dụng sản xuất vật liệu xây dựng (gạch block, tấm đan…) Tuy nhiên công nghệ hóa rắn chỉ xử lý an toàn đối với CTNH trơ, có thành phần vô cơ Khả năng ổn định CTNH trong khối rắn thay đổi theo từng loại CTNH nên cần phải nghiên cứu kỹ quá trình cấp phối bê tông Cần giám sát sản phẩm đầu ra để đảm bảo không vượt ngưỡng CTNH theo quy định tại QCVN 07: 2009/BTNMT

Hình 7: Máy trộn bê tông và máy ép gạch block để hoá rắn CTNH

Trang 24

đ) Tái chế dầu thải

Hiện tại, có 20/43 cơ sở hành nghề xử lý do Tổng cục Môi trường cấp phép đầu

tư công nghệ tái chế dầu, gồm các loại: chưng cất cracking dầu (chưng phân đoạn hay còn gọi chưng nhiều bậc và chưng đơn giản hay chưng một bậc); phân ly dầu nước bằng phương pháp cơ học (ly tâm) và bằng nhiệt

Trong thực tế, phần lớn các cơ sở sử dụng công nghệ chưng đơn giản để thu hồi các cấu tử dầu (nguyên lý là sử dụng nhiệt để làm bay hơi và cắt mạch, sau đó ngưng

tụ để thu hồi các cấu tử dầu, cặn rắn được tách ra ở đáy nồi chưng) Hiện nay có một

số cơ sở đang đầu tư công nghệ chưng phân đoạn (chưng nhiều bậc) để tái chế dầu, đây là công nghệ hiện đại sử dụng để thu hồi các sản phẩm xăng dầu từ dầu thải Về cơ bản chưng nhiều bậc giống với chưng đơn giản, khác ở chỗ dựa vào nhiệt độ sôi khác nhau của các hydro cacbon có trong dầu thải, kết hợp tuần hoàn (hồi lưu) dòng sản phẩm lỏng khi đó sẽ tách triệt để các cấu tử hydro cacbon có nhiệt độ sôi khác nhau và thu được các phân đoạn sản phẩm dầu có chất lượng cao như: xăng, dầu diezen,

Về cấu tạo của công nghệ chưng đơn giản gồm có lò gia nhiệt (đốt cấp nhiệt trực tiếp cho nồi chưng), nồi chưng (nồi chứa dầu thải), hệ thống ngưng tụ hơi dầu và

hệ thống xử lý khí thải Cấu tạo của công nghệ chưng nhiều bậc gồm hệ thống cấp nhiệt (lò hơi sử dụng hơi nước để cấp nhiệt cho tháp chưng cất), tháp chưng cất dạng đĩa lỗ có ống chảy truyền hoặc tháp đĩa chóp, hệ thống hồi lưu dòng sản phẩm lỏng và

hệ thống xử lý khí thải lò hơi

Nhìn chung đối với công nghệ chưng đơn giản có ưu điểm trang thiết bị đơn giản (có thể tự chế tạo, lắp đặt), dễ vận hành, đầu tư thấp, nhưng việc vận hành và kiểm soát khá thủ công, đòi hỏi kinh nghiệm và kỹ năng của người vận hành Công nghệ chưng đơn giản phù hợp với các cơ sở nhỏ có lượng dầu thải đầu vào thấp, biến động

Công nghệ chưng phân đoạn có hệ thống kiểm soát hiện đại, chất lượng sản phẩm đầu ra ổn định nhưng chi phí đầu tư lớn, vận hành phức tạp, đòi hỏi nguồn dầu thải lớn và ổn định trong khi nguồn dầu thải ở Việt Nam thường nhỏ lẻ, biến động

Hình 8: Hệ thống chưng dầu thải phân đoạn (trái) và chưng đơn giản (phải)

Trang 25

e) Xử lý bóng đèn huỳnh quang thải

Hiện nay có 10/43 cơ sở hành nghề xử lý CTNH do Tổng cục Môi trường cấp phép có hệ thống xử lý bóng đèn thải

Trong bóng đèn có chứa nhiều loại chất thải khác nhau như bột huỳnh quang, hơi thủy ngân, thủy tinh, kim loại Cấu tạo của hệ thống xử lý bóng đèn thải gồm có bộ phận nghiền bóng đèn trong môi trường kín, kèm theo thiết bị hấp thụ hơi thuỷ ngân (bằng than hoạt tính hoặc lưu huỳnh), có thể kèm theo biện pháp tách thu hồi thuỷ tinh

và bột huỳnh quang

Công nghệ này có ưu điểm là chi phí đầu tư hợp lý, dễ vận hành, sau khi phân tách riêng bột huỳnh quang, thủy tinh có thể dùng làm nguyên liệu trong sản xuất xi măng hoặc tái sử dụng thủy tinh sạch Tuy nhiên, sau khi xử lý bóng đèn thải, quá trình hấp thụ hơi thuỷ ngân có trong bóng đèn thải sẽ tạo ra chất thải mới cần xử lý là muối thuỷ ngân

Các thiết bị này được đầu tư chủ yếu để đáp ứng yêu cầu có đủ khả năng để xử

lý nhiều loại mã CTNH của các chủ nguồn thải chứ chưa có hiệu quả kinh tế do thực tế loại CTNH này có số lượng không nhiều Do vậy, giải pháp hoá rắn toàn bộ sản phẩm của quá trình nghiền là một giải pháp hiệu quả

Hình 9: Thiết bị xử lý bóng đèn thải

g) Xử lý chất thải điện tử

Hiện nay chỉ có 6/43 cơ sở hành nghề xử lý CTNH do Tổng cục Môi trường cấp phép đầu tư công nghệ chuyên xử lý chất thải điện tử với công suất trung bình từ 0,5 – 5 tấn/ngày

Các hệ thống này chủ yếu thực hiện biện pháp phá dỡ thủ công (như bàn phá dỡ đơn giản) hoặc cơ giới (máy nghiền) để phân tách từng thành phần cho các công đoạn

xử lý tiếp theo như thu hồi phế liệu (kim loại, nhựa), đốt, hoá rắn

Đối với các cơ sở có lượng chất thải điện tử nhỏ thì việc phá dỡ thủ công là phù hợp, chủ yếu để đáp ứng đủ mã CTNH xử lý trong dịch vụ Tuy nhiên, công đoạn phá

Trang 26

dỡ thủ công có thể ảnh hưởng sức khỏe của công nhân do phải tiếp xúc trực tiếp với chất thải

Công nghệ cơ giới hóa phù hợp với đầu vào lớn, đặc biệt là trong tương lai khi lượng chất thải điện tử phát sinh tăng đột biến Hơn nữa, công nghệ hiện đại có thể tận thu được nhiều sản phẩm, đặc biệt là các kim loại quý

Hình 10: Dây chuyền nghiền bản mạch điện tử (trái) và bàn phá dỡ đơn giản (phải)

h) Phá dỡ, tái chế ắc quy chì thải

Hiện nay, có 9/43 cơ sở hành nghề xử lý CTNH do Tổng cục Môi trường cấp phép đầu tư công nghệ tái chế ắc quy chì thải với công suất trung bình 0,5 – 200 tấn/ngày

Nguyên lý của công nghệ tái chế ắc quy chì thải là trung hòa dung dịch chất điện phân (dung dịch axit), sau đó phá dỡ phân loại riêng bản cực chì và vỏ (nhựa PP) Việc phá dỡ được thực hiện thủ công hoặc cơ giới hoá Chì và nhựa được nấu tái chế tại chỗ hoặc chuyển cho các đơn vị tái chế

Hiện nay có một số đơn vị đã đầu tư và đưa vào sử dụng công nghệ hiện đại để tái chế ắc quy Toàn bộ quy trình xử lý được cơ giới hóa với nguyên lý hoạt động như sau: bình ắc quy (có cả dung dịch axit) được đưa vào máy nghiền đồng thời có bổ sung dung dịch kiềm (sô đa) để trung hòa, sau đó hỗn hợp sau nghiền được đưa tới hệ thống phân tách bằng nước, nhựa có tỷ trọng bé nổi lên trên, còn chì có tỷ trọng lớn chìm xuống dưới và được vớt ra bởi gàu chuyên dụng Hệ thống cơ giới hoá có công suất rất lớn do vậy nếu không có đủ nguyên liệu đầu vào thì sẽ không đảm bảo hiệu quả kinh

tế

Nhiều cơ sở áp dụng hệ thống thủ công hoặc bán thủ công dựa trên bàn phá dỡ bằng sức lao động, công suất tuy thấp nhưng giảm chi phí đầu tư và đáp ứng được lượng đầu vào thấp Tuy nhiên phải lưu ý vấn đề bảo hộ lao động để tránh rủi ro phơi nhiễm axit và các hơi độc

Trang 27

Hình 11: Dây chuyền phá dỡ ắc quy chì thải cơ giới hoá

Ngoài các công nghệ trên, hiện nay các cơ sở xử lý CTNH tại Việt Nam còn sử dụng các loại công nghệ khác đối với từng loại CTNH đặc thù khác như công nghệ súc rửa và tái chế thùng phuy, công nghệ tái chế dung môi thải, công nghệ kết tủa thu hồi kim loại

1.3.2 Xử lý chất thải nông nghiệp nguy hại

Ngày 22 tháng 4 năm 2003, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 64/2003/QĐ-TTg về việc phê duyệt Kế hoạch xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng Cho đến nay đã có 12/15 kho thuốc bảo vệ thực vật tồn đọng đã được xử lý không còn gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, chiếm 80%; 03 kho thuốc bảo vệ thực vật đang triển khai xử lý ô nhiễm triệt để, chiếm 20% Tuy nhiên trên thực tế cho thấy nhiều kho chứa thuốc bảo vệ thực vật tuy đã được xử lý, xây hầm

bê tông chôn thuốc tồn lưu, nhưng nhiều điểm có hiện tượng lún sụt, mùi thuốc bảo vệ thực vật bốc lên khi thời tiết thay đổi gây ô nhiễm môi trường Số lượng các kho thuốc bảo vệ thực vật được xử lý chỉ chiếm 5% trong tổng số 240 điểm hóa chất tồn lưu cần được ưu tiên xử lý từ nay tới năm 2015, nếu không sẽ tiếp tục phát tác ô nhiễm nặng

nề tới môi trường sống và sức khỏe của người dân Tại Tuyên Quang, để xử lý thuốc DDT, 666 gây ô nhiễm nghiêm trọng tại làng Ải, xã Trung Môn, huyện Yên Sơn, tỉnh

đã chi ngân sách 1,5 tỷ đồng thực hiện dự án và đã xử lý được gần 700 m3

đất nhiễm hóa chất Các khu vực ô nhiễm hiện đang được cải tạo bằng cách trồng cỏ, ngũ gia bì, keo tai tượng để xử lý Nhưng thực tế cũng cho thấy công tác xử lý các điểm tồn lưu hóa chất bảo vệ thực vật gặp rất nhiều khó khăn do công nghệ xử lý rất phức tạp, trong khi kinh phí cấp còn hạn hẹp, nhiều điểm ô nhiễm nằm trong các khu dân cư, trụ sở

UBND xã, HTX nên khó khăn trong các khâu giải phóng mặt bằng…

"Kế hoạch xử lý, phòng ngừa ô nhiễm môi trường do hóa chất bảo vệ thực vật tồn lưu trên phạm vi cả nước giai đoạn 2010 - 2015" đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định 1946 ngày 21/10/2010 Theo danh mục ban hành kèm theo Quyết định 1946 của Thủ tướng Chính phủ, có tới 28 điểm tồn lưu hóa chất cần được hoàn tất xử lý trong năm 2013 Đặc biệt, có 1 điểm phải xử lý ngay trong năm 2011-

2012 (Nông trường Vực Rồng xã Tân Long, huyện Tân Kỳ) và một điểm phải xử lý trong năm 2012 (xóm 1, 2 xã nghĩa Trung, huyện Nghĩa Đàn), đều thuộc tỉnh Nghệ

Trang 28

An Thực hiện trách nhiệm kiểm tra, giám sát, đôn đốc, hướng dẫn việc triển khai kế hoạch tới các bộ, ngành, UBND các tỉnh thành phố, định kỳ tổng hợp kết quả thực hiện báo cáo Thủ tướng Chính phủ, Tổng cục Môi trường đang khẩn trương tổ chức bộ phận chuyên môn quản lý, theo dõi, triển khai thực hiện kế hoạch; đồng thời, bắt tay vào việc xây dựng, ban hành hướng dẫn kỹ thuật và quy trình xử lý, cải tạo và phục hồi môi trường các khu vực tồn lưu hóa chất bảo vệ thực vật gây ô nhiễm; xây dựng thông tư hướng dẫn định mức kinh tế- kỹ thuật cho các hoạt động điều tra, xử lý, cải tạo và phục hồi môi trường tại các khu vực bị ô nhiễm Công tác tiếp tục điều tra, thống kê toàn bộ điểm tồn lưu thuốc bảo vệ thực trên phạm vi cả nước cũng được xác định là nhiệm vụ ưu tiên Đến năm 2015, Tổng cục môi trường là đầu mối tổ chức cho các Bộ, ngành, địa phương tập trung xử lý, cải tạo và phục hồi môi trường tại các điểm tồn lưu hóa chất bảo vệ thực vật gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng

1.3.3 Xử lý chất thải y tế nguy hại

Theo thống kê có 73,3% bệnh viện xử lý chất thải rắn y tế nguy hại bằng phương pháp thiêu đốt trong các lò đốt chuyên dụng, còn lại 26,7% bệnh viện thiêu đốt thủ công ở ngoài trời hoặc thực hiện phương pháp chôn lấp

Hiện nay, tại Việt Nam tồn tại một số mô hình xử lý chất thải rắn y tế nguy hại như sau:

Thiêu đốt: Chất thải được thiêu đốt ngoài trời hoặc trong lò đốt công suất vừa và nhỏ phục vụ cho việc xử lý chất thải y tế của một bệnh viện hay cụm bệnh viện

Chôn lấp: Khi chất thải y tế không có điều kiện để xử lý hoặc tiêu hủy bằng phương pháp khác thì được chôn lấp tại khu vực riêng dành cho chất thải y tế nguy hại trong bãi chôn lấp chất thải của địa phương Một số bệnh viện ở vùng sâu, vùng xa thực hiện việc chôn lấp chất thải ngay trong khuôn viên bệnh viện

Chôn lấp sau khi đóng gói: Phương pháp này áp dụng đối với vật sắc nhọn, hóa chất, thuốc Chất thải được cho vào thùng kim loại hoặc thùng nhựa đầy đến ¾ thể tích rồi cho thêm bọt nhựa, vữa xi măng hoặc đất sét Khi đã khô, gắn kín thùng và tiến hành chôn lấp nhằm hạn chế sự tiếp xúc

Hóa rắn: Dùng máy nghiền nát chất thải rồi trộn thêm hỗn hợp nước vôi và xi măng Để khô, tiến hành lưu giữ hoặc chôn lấp tại bãi chôn lấp chất thải của địa phương Phương pháp này áp dụng đối với chất thải hóa học, dược phẩm thải và tro lò đốt

Công nghệ phổ biến để xử lý chất thải rắn y tế nguy hại tại Việt Nam là thiêu đốt Có khoảng 73,3% bệnh viện tuyến tỉnh, huyện đã xử lý chất thải bằng lò đốt tại chỗ hoặc lò đốt tập trung cho cụm bệnh viện hoặc cả thành phố Tuy nhiên chỉ có 42,7% bệnh viện có lò đốt 2 buồng đạt tiêu chuẩn về kỹ thuật và môi trường

Trang 29

Tại các thành phố lớn đã xây dựng lò đốt chất thải rắn y tế tập trung như sau: Tại Hà Nội: Sử dụng lò đốt chất thải y tế DEL-MONEGO công suất 200 kg/h ở Cầu Diễn do Công ty TNHH Nhà nước Một thành viên Môi trường đô thị (URENCO) quản lý để xử lý chất thải y tế trong địa bàn Hà Nội

Tại Đà Nẵng: Sử dụng lò đốt HOVAL công suất 200 kg/h ở Khu xử lý chất thải rắn Khánh Sơn do Công ty Môi trường đô thị quản lý để xử lý chất thải y tế trong địa bàn thành phố (CITENCO)

Tại thành phố Hồ Chí Minh: Sử dụng hai lò đốt HOVAL công suất 150 kg/h và

300 kg/h đặt tại Nhà máy xử lý chất thải rắn y tế và công nghiệp do Công ty Môi trường thành phố quản lý để xử lý chất thải y tế nguy hại cho các cơ sở y tế trong và ngoài thành phố

Theo thống kê, cả nước có hơn 500 lò đốt đã được lắp đặt để xử lý chất thải y tế, nhưng do chi phí vận hành cao và năng lực bảo dưỡng thiết bị hạn chế đã khiến hơn 1/3 số lò đốt không thể hoạt động

Ngoài các lò đốt công suất lớn đặt tại các khu xử lý tập trung và một số lò đốt HOVAL đặt tại các bệnh viện lớn, các lò đốt còn lại đều có công suất nhỏ dưới 100 kg/h (chiếm khoảng 80,7% lò đốt hiện có) Nhìn chung các cơ sở xử lý được lắp đặt lò đốt thông qua các nguồn tài trợ, vốn vay hoặc đầu tư của các tỉnh, thành phố Một nửa các lò đốt trên sử dụng dưới 50% công suất và phần lớn các lò đốt chưa đầu tư hệ thống xử lý khí thải hoàn chỉnh Khối lượng chất thải rắn y tế nguy hại xử lý đạt tiêu chuẩn chiếm 68% tổng lượng phát sinh chất thải rắn y tế nguy hại trên toàn quốc Chất thải y tế xử lý không đạt chuẩn (32%) là nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường và sức khỏe cộng đồng Theo báo cáo khảo sát của Viện Trang thiết bị và Công trình y tế (2008), có nhiều lò đốt gây ô nhiễm môi trường không khí xung quanh do thiếu thiết bị kiểm soát khí thải hoặc do vận hành và bảo dưỡng kém Chi phí xử lý chất thải y tế nguy hại bằng lò đốt khoảng từ 10.000-55.000 đ/kg cũng là một trong số các nguyên nhân gây khó khăn cho các bệnh viện trong việc duy trì hiệu quả hoạt động của các lò đốt hiện có

Dựa trên tính toán của các chuyên gia, với cơ sở vật chất của hệ thống xử lý như hiện nay thì khối lượng chất thải rắn y tế nguy hại không được xử lý đạt tiêu chuẩn đến năm 2015 sẽ là 16 tấn/ngày và đến năm 2025 là 29,5 tấn/ngày

Trang 30

CHƯƠNG II ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Địa điểm nghiên cứu

Nghiên cứu thực hiện trên phạm vi toàn quốc, tập trung chủ yếu vào một số thành phố lớn, kinh tế phát triển như Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Tp Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình Dương

2.2 Thời gian nghiên cứu

Thời gian nghiên cứu từ tháng 3 đến tháng 10 năm 2012

2.3 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Phương pháp luận: quản lý chất thải nguy hại là kiểm soát ô nhiễm môi trường

với nguyên tắc chủ đạo là phòng ngừa ô nhiễm, khắc phục và phục hồi môi trường bị ô nhiễm, do đó bất kỳ đối tượng nào cũng cần tuân thủ các nguyên tắc :

- Đảm bảo sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững;

- Đảm bảo tính phối hợp liên nghành, lồng ghép các khu vực, các đối tượng kiểm soát;

- Giảm thiểu tính độc hại của chất thải nguy hại tại nguồn;

- Phân loại chất thải nguy hại;

- Xử lý chất thải nguy hại;

- Tái chế, tái sử dụng

Quy trình quản lý chất thải nguy hại gồm các bước sau:

Kiểm soát có hiệu quả quá trình phát sinh, lưu giữ, vận chuyển, xử lý, tái chế tái

sử dụng CTNH có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình bảo vệ sức khỏe con người, môi trường chuẩn mực cũng như bảo vệ tài nguyên thiên nhiên bền vững Quy trình quản lý chất thải nguy hại gồm 5 bước;

- Quá trình phát sinh

- Quá trình thu gom và vận chuyển

- Quá trình xử lý trung gian

- Quá trình xử lý/ tái chế tái sử dung

- Quá trình thải bỏ (chôn lấp)

Trang 31

-

2.3.2 Phương pháp nghiên cứu:

2.3.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu: thu thập, tổng hợp và phân tích các tài liệu sẵn có trong nước và quốc tế về CTNH để xây dựng cơ sở lý luận và đánh giá tình hình thực tế;

2.3.2 Phương pháp điều tra - khảo sát: điều tra qua hình thức văn bản hành chính, khảo sát thực địa tại các chủ nguồn thải, các chủ vận chuyển, chủ xử lý CTNH, các điểm ô nhiễm môi trường đất, các cơ quan quản lý địa phương, các đơn vị phân tích để lấy thông tin, số liệu cho việc đánh giá (sử dụng phiếu điều tra, phỏng vấn và lấy mẫu phân tích); Các phương pháp nghiên cứu thực địa nhằm so sánh, đối chiếu các đơn vị khác nhau; kiểm định và khẳng định những kết quả đạt được từ quá trình thu thập, thống kê và phân tích số liệu, tài liệu sẵn có; thu thập, đo đạc

bổ sung các số liệu, tài liệu thực tế tại cái khu vực thiếu số liệu hay các vùng trọng điểm;

2.3.3 Phương pháp thống kê: Thống kê là phương pháp xử lý số liệu một cách định lượng Ở giai đoạn đầu, tiến hành thống kê, thu thập các số liệu, các kết quả nghiên cứu của các chương trình, dự án đã được thực hiện có liên quan Nhiệm vụ này

sẽ tiến hành thu thập, thống kê dựa trên các hồ sơ đăng ký hành nghề quản lý CTNH

và báo cáo quản lý CTNH định kỳ của các đơn vị hành nghề quản lý CTNH đã được cấp phép, các báo cáo quản lý CTNH của các địa phương, các nguồn tài liệu, tư liệu và

số liệu thông tin trong và ngoài nước

2.3.4 Phương pháp chuyên gia: tham vấn ý kiến của các chuyên gia, các nhà quản lý, các nhà khoa học trong lĩnh vực môi trường nói chung và quản lý CTNH nói riêng Hiện nay, phương pháp chuyên gia được coi là một phương pháp quan trọng và hiệu quả Phương pháp này huy động được kinh nghiệm và hiểu biết của nhóm chuyên gia liên ngành về lĩnh vực nghiên cứu, từ đó sẽ cho các kết quả có tính thực tiễn và khoa học cao, tránh được những trùng lặp với những nghiên cứu đã có, đồng thời kế thừa các thành quả nghiên cứu đã đạt được

2.3.5 Phương pháp kế thừa: Phương pháp này được thực hiện trên cơ sở kế thừa, phân tích và tổng hợp các nguồn tài liệu, tư liệu, số liệu thông tin có liên quan một cách có chọn lọc, từ đó đánh giá chúng theo yêu cầu và mục đích nghiên cứu

Trang 32

CHƯƠNG III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Tình hình phát sinh chất thải nguy hại tại Việt Nam

1.3.1 Các nguồn phát sinh chất thải nguy hại

a Nguồn thải từ hoạt động công nghiệp

Chất thải công nghiệp tại Việt Nam chiếm khoảng 13% đến 20% tổng lượng chất thải Phần trăm chất thải công nghiệp nguy hại vào năm 2008 là khoảng 18% trong tổng số chất thải công nghiệp Việc phát sinh chất thải công nghiệp tập trung chủ yếu tại các khu công nghiệp và ở miền Nam Gần một nửa số chất thải công nghiệp phát sinh ở các vùng kinh tế trọng điểm phía Nam là thành phố Hồ Chí Minh, Biên Hòa, Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình Dương

Chất thải công nghiệp phát sinh tại các vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc (Hà Nội, Hải Phòng) chiếm tỉ lệ 30% Các vùng kinh tế trọng điểm phía Nam chiếm hơn 70% lượng chất thải công nghiệp nguy hại phát sinh tại Việt Nam

Nguồn phát sinh chất thải chứa PCB

Trước năm 1990, tất cả các máy biến thế của Việt Nam đều nhập từ Trung Quốc, Liên Xô cũ, là loại máy sử dụng dầu PCB Sau năm 1990, Việt Nam đã ngừng nhập các loại máy trên, nhưng các kho chứa dầu cũ vẫn còn và đến nay vẫn chưa có phương pháp chuẩn để xử lý Hiện nay, lượng PCB (PolyChlorinated Biphenyl) ở Việt Nam là rất lớn, theo một số cuộc điều tra thì có thể lên tới 20.000 tấn Thống kê ban đầu cho thấy, Tổng Công ty Điện lực Việt Nam hiện đang quản lý trên 60% tổng lượng PCB tại Việt Nam Cụ thể, ngoài 9.000 tấn dầu PCB đã biết chắc chắn, còn khoảng 1.000 tấn dầu nghi ngờ có chứa PCB trong các hệ thống điện Ngoài ra, còn tồn tại một lượng PCB trong các thiết bị công nghiệp nằm ngoài ngành điện hiện chưa được xác định chính xác

Việc quản lý PCB ở Việt Nam hiện còn rất bất cập: không có hệ thống theo dõi lượng PCB sử dụng, không có hệ thống hoặc thiết bị đúng chức năng để vận chuyển, lưu giữ các nguyên liệu chứa PCB, chưa thực hiện được việc xử lý và tiêu huỷ PCB an toàn theo đúng yêu cầu kỹ thuật, chưa quan trắc ô nhiễm môi trường do PCB một cách

hệ thống

Nguồn phát sinh chất thải công nghiệp nguy hại của một số tỉnh, thành phố

Bảng: Chất thải công nghiệp phát sinh tại một số khu vực nghiên cứu

Tỉnh/thành phố Chất thải công nghiệp

không nguy hại (tấn/ngày)

Chất thải công nghiệp nguy hại (tấn/ngày)

Trang 33

bì đựng thuốc nhuộm… Lượng rác thải nguy hại phát sinh hàng năm khoảng 1.378 tấn/năm Toàn tỉnh đã có 80 cơ sở được cấp Sổ đăng ký chủ nguồn thải CTNH

Chất thải rắn nguy hại (CTRNH) phát sinh trên địa bàn tỉnh được phân ra thành 3 nguồn phát sinh chính là ngành y tế, sản xuất công nghiệp, hoạt động sinh hoạt của người dân

Trên địa bàn tỉnh có 12 bệnh viện, 9 phòng khám đa khoa khu vực, 117 trạm y tế

xã, phường với tổng số giường bệnh là 2.390 giường Lượng rác thải y tế nguy hại phát sinh trong năm 2008 là 290 tấn/năm Thành phần rác thải nguy hại trong ngành y

tế gồm: chất thải chứa các chất lây nhiễm, pin, ăc quy, chất hàn răng Almagam thải, chất thải chứa bạc từ quá trình rửa phim, các loại dược phẩm thải chứa thành phần nguy hại, dung dịch hãm thải hiện ảnh, bóng đèn huỳnh quang, nhiệt kế vỡ

Chất thải rắn nguy hại phát sinh từ hoạt động sinh hoạt của người dân với thành phần: pin, ắc quy, bóng đèn tuýp, mỹ phẩm, thuốc quá hạn Lượng rác thải phát sinh hàng năm vào khoảng 2.000tấn/năm

Chất thải rắn nguy hại phát sinh từ các hoạt động sản xuất công nghiệp rất đa dạng, chứa đựng nhiều chất nguy hại, tiềm ẩn khả năng gây ô nhiễm môi trường rất lớn Chất thải rắn nguy hại từ sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh với các thành phần sau: dầu mỡ, giẻ lau nhiễm dầu mỡ, bùn thải, chất bảo quản hết hạn sử dụng, mực in, lô chứa mực in, cặn sơn, dung môi, hoá chất nhuộm, thuốc nhuộm, bao bì

Ngày đăng: 26/03/2015, 08:39

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Hệ thống quản lý chất thải tổng hợp dựa trên vòng đời (Nguồn: UNEP, 2009) - Đánh giá tình hình quản lý chất thải nguy hại ở Việt Nam và đề xuất giải pháp phù hợp để hoàn thiện về thể chế chính sách quản lý chất thải nguy hại ở Việt Nam
Hình 1 Hệ thống quản lý chất thải tổng hợp dựa trên vòng đời (Nguồn: UNEP, 2009) (Trang 13)
Hình 2: Hệ thống quản lý chất thải dựa trên nguồn phát sinh (Nguồn: UNEP, 2009) - Đánh giá tình hình quản lý chất thải nguy hại ở Việt Nam và đề xuất giải pháp phù hợp để hoàn thiện về thể chế chính sách quản lý chất thải nguy hại ở Việt Nam
Hình 2 Hệ thống quản lý chất thải dựa trên nguồn phát sinh (Nguồn: UNEP, 2009) (Trang 14)
Hình 3: Hệ thống quản lý chất thải dựa trên quản lý (Nguồn: UNEP, 2009) - Đánh giá tình hình quản lý chất thải nguy hại ở Việt Nam và đề xuất giải pháp phù hợp để hoàn thiện về thể chế chính sách quản lý chất thải nguy hại ở Việt Nam
Hình 3 Hệ thống quản lý chất thải dựa trên quản lý (Nguồn: UNEP, 2009) (Trang 15)
Hình 4: Hệ thống xử lý khí thải lò đốt CTNH - Đánh giá tình hình quản lý chất thải nguy hại ở Việt Nam và đề xuất giải pháp phù hợp để hoàn thiện về thể chế chính sách quản lý chất thải nguy hại ở Việt Nam
Hình 4 Hệ thống xử lý khí thải lò đốt CTNH (Trang 21)
Hình 5: Hệ thống lò nung xi măng và bộ phận nạp CTNH dạng lỏng - Đánh giá tình hình quản lý chất thải nguy hại ở Việt Nam và đề xuất giải pháp phù hợp để hoàn thiện về thể chế chính sách quản lý chất thải nguy hại ở Việt Nam
Hình 5 Hệ thống lò nung xi măng và bộ phận nạp CTNH dạng lỏng (Trang 22)
Hình 7: Máy trộn bê tông và máy ép gạch block để hoá rắn CTNH - Đánh giá tình hình quản lý chất thải nguy hại ở Việt Nam và đề xuất giải pháp phù hợp để hoàn thiện về thể chế chính sách quản lý chất thải nguy hại ở Việt Nam
Hình 7 Máy trộn bê tông và máy ép gạch block để hoá rắn CTNH (Trang 23)
Hình 6: Hầm chôn lấp CTNH - Đánh giá tình hình quản lý chất thải nguy hại ở Việt Nam và đề xuất giải pháp phù hợp để hoàn thiện về thể chế chính sách quản lý chất thải nguy hại ở Việt Nam
Hình 6 Hầm chôn lấp CTNH (Trang 23)
Hình 8: Hệ thống chưng dầu thải phân đoạn (trái) và chưng đơn giản (phải) - Đánh giá tình hình quản lý chất thải nguy hại ở Việt Nam và đề xuất giải pháp phù hợp để hoàn thiện về thể chế chính sách quản lý chất thải nguy hại ở Việt Nam
Hình 8 Hệ thống chưng dầu thải phân đoạn (trái) và chưng đơn giản (phải) (Trang 24)
Hình 9: Thiết bị xử lý bóng đèn thải - Đánh giá tình hình quản lý chất thải nguy hại ở Việt Nam và đề xuất giải pháp phù hợp để hoàn thiện về thể chế chính sách quản lý chất thải nguy hại ở Việt Nam
Hình 9 Thiết bị xử lý bóng đèn thải (Trang 25)
Hình 10: Dây chuyền nghiền bản mạch điện tử (trái) và bàn phá dỡ đơn giản (phải) - Đánh giá tình hình quản lý chất thải nguy hại ở Việt Nam và đề xuất giải pháp phù hợp để hoàn thiện về thể chế chính sách quản lý chất thải nguy hại ở Việt Nam
Hình 10 Dây chuyền nghiền bản mạch điện tử (trái) và bàn phá dỡ đơn giản (phải) (Trang 26)
Hình 11: Dây chuyền phá dỡ ắc quy chì thải cơ giới hoá - Đánh giá tình hình quản lý chất thải nguy hại ở Việt Nam và đề xuất giải pháp phù hợp để hoàn thiện về thể chế chính sách quản lý chất thải nguy hại ở Việt Nam
Hình 11 Dây chuyền phá dỡ ắc quy chì thải cơ giới hoá (Trang 27)
Bảng 1: Tổng lƣợng CTNH của Hà Nội từ 2003-2008 - Đánh giá tình hình quản lý chất thải nguy hại ở Việt Nam và đề xuất giải pháp phù hợp để hoàn thiện về thể chế chính sách quản lý chất thải nguy hại ở Việt Nam
Bảng 1 Tổng lƣợng CTNH của Hà Nội từ 2003-2008 (Trang 37)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w