7. Kết cấu của luận văn
1.2. Vai trò, nguyên tắc và các hình thức phân phối thu nhập cá nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
1.2.1. Vai trò của phân phối TNCN trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN
Phát triển kinh tế là mục tiêu của mọi quốc gia trên thế giới. Tuy nhiên, mỗi nước lại thu được những kết quả phát triển kinh tế rất khác nhau. Có nước phát triển thịnh vượng, nhưng có nước lại chìm trong nghèo đói. Bên cạnh những nguyên nhân về chính trị, xã hội, tôn giáo…, một trong những nguyên nhân quan
trọng nhất là động lực kinh tế khác nhau giữa các quốc gia. Chế độ phân phối thu nhập chính là yếu tố quan trọng nhất tạo nên động lực kinh tế. Nói cách khác, những nước có chế độ phân phối phù hợp sẽ tạo ra động lực kinh tế to lớn đối với người dân, khuyến khích người dân đầu tư phát triển sản xuất, nhờ đó nền kinh tế quốc gia ngày một thịnh vượng. Những nước mà ở đó chế độ phân phối không khuyến khích người dân lao động sẽ chỉ có một nền kinh tế đình trệ, kém phát triển.
Chế độ phân phối thể hiện sự kết hợp của ba loại lợi ích: lợi ích của người lao động, lợi ích của tập thể nơi cá nhân trực tiếp lao động (doanh nghiệp, tổ chức,…) và lợi ích chung toàn xã hội. Khi các lợi ích trên có sự thống nhất cao sẽ tạo ra sự thống nhất về ý chí và hành động của các cá nhân, làm tăng động lực phát triển kinh tế.
Ngƣợc lại, khi các lợi ích trên thiếu sự thống nhất, hay bị vi phạm thì sẽ làm giảm động lực phát triển. Mặt khác, nhƣ trên đã trình bày, theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, phân phối là một bộ phận của tái sản xuất xã hội, sản xuất là quyết định nhƣng phân phối cũng có vai trò quan trọng, tác động trở lại sản xuất. Tác động này thể hiện ở khả năng làm gia tăng hay triệt tiêu động lực của sản xuất.
Cũng giống nhƣ tất cả các nền kinh tế khác, vấn đề phân phối TNCN nhận đƣợc sự quan tâm rất lớn của các nhà lý luận cũng nhƣ các nhà hoạch định chính sách kinh tế của nước ta trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Giải quyết tốt vấn đề này chính là tìm được lời giải cho bài toán tạo động lực phát triển cho nền kinh tế quốc dân, tiến tới thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.
1.2.2. Nguyên tắc phân phối TNCN trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN
Lý luận kinh tế về phân phối thu nhập của CNTB cho rằng giữa công bằng và hiệu quả tồn tại quan hệ thay thế và thường chọn hiệu quả là mục tiêu ưu tiên.
Khi phân tích các mô hình tăng trưởng trong quá khứ của các nước phát triển, các nhà kinh tế học tư bản cho rằng trong giai đoạn đầu của tăng trưởng kinh tế, tình hình phân phối thu nhập thường xấu đi, nhưng nó sẽ tốt lên ở giai đoạn sau. Một số
nhà lý luận thậm chí còn cho rằng phân phối không công bằng là điều kiện cần thiết để tạo ra tốc độ tăng trưởng cao.
Thực tế, không phải phân phối không công bằng là điều kiện của tăng trưởng, mà trái lại, chính sự phân phối thu nhập công bằng là một điều kiện để tăng trưởng kinh tế. Phân phối thu nhập công bằng có tác dụng như một hình thức kích thích vật chất và tâm lý đối với công chúng tham gia vào quá trình phát triển kinh tế. Mặt khác, thu nhập người nghèo tăng cũng sẽ làm tăng cầu xã hội, từ đó sẽ kích thích sản xuất, tạo điều kiện cho nền kinh tế tăng trưởng nhanh. Như vậy, quan hệ giữa hiệu quả và công bằng không phải là quan hệ thay thế lẫn nhau mà có quan hệ tác động qua lại lẫn nhau.
Bản chất của xã hội XHCN mà chúng ta đang xây dựng là một xã hội trong đó con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện. Để đạt đƣợc điều đó phải có một nền kinh tế phát triển cao, có cơ chế phân phối thu nhập đảm bảo sự thống nhất giữa hai mặt: hiệu quả và công bằng.
Hiệu quả kinh tế luôn là yêu cầu quan trọng hàng đầu trong phát triển kinh tế - xã hội. Nếu không chú ý tới hiệu quả, tách rời nó khỏi mục tiêu phát triển kinh tế thì xã hội sẽ đình trệ, đất nước sẽ lạc hậu. Do đó, nâng cao hiệu quả kinh tế là yêu cầu khách quan của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Tuy nhiên, nâng cao hiệu quả kinh tế, tăng thêm của cải xã hội không phải là để thoả mãn nhu cầu của một số ít người mà là để thoả mãn nhu cầu vật chất và tinh thần của toàn thể nhân dân. Vì thế, đồng thời với việc nhấn mạnh mục tiêu hiệu quả kinh tế, cần phải thực hiện phân phối thu nhập công bằng để đảm bảo lợi ích cho mọi tầng lớp nhân dân.
Sự thống nhất giữa hiệu quả và công bằng trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN là sự thống nhất biện chứng của các mặt đối lập. Hiệu quả kinh tế tạo điều kiện vật chất để thực hiện công bằng, chỉ có không ngừng tăng thêm của cải xã hội thì phân phối công bằng mới có điều kiện thực hiện đƣợc. Nếu hiệu quả kinh tế thấp, vật chất thiếu thốn, thì dù mọi người được chia những phần ngang nhau, sự "công bằng" ấy chỉ là sự "bình quân" nghèo túng, tuyệt nhiên không phải là tiêu chuẩn công bằng của CNXH.
Ngƣợc lại, công bằng có tác dụng kích thích gia tăng hiệu quả kinh tế. Việc nâng cao hiệu quả kinh tế suy đến cùng phải dựa vào việc phát huy tính tích cực của người lao động. Tính tích cực của người lao động có được phát huy đầy đủ hay không tuỳ thuộc vào cảm nhận của họ đối với lợi ích kinh tế của bản thân, hay thu nhập cá nhân có đƣợc phân phối công bằng hay không. Nếu việc phân phối thu nhập trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN có thể làm cho đại đa số người lao động cảm thấy công bằng thì sẽ khơi dậy tinh thần lao động tích cực và sáng tạo để nâng cao hiệu quả kinh tế, tạo ra ngày càng nhiều của cải cho xã hội.
Tuy nhiên, sự phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN trong giai đoạn đầu tất yếu cũng sẽ hình thành khoảng cách thu nhập, đây là vấn đề mang tính quy luật, nhƣng khoảng cách thu nhập ấy cần đƣợc giữ ở mức vừa phải, hợp lý.
Chỉ có như vậy mới kích thích việc nâng cao hiệu quả kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Nếu khoảng cách thu nhập quá nhỏ hoặc quá lớn thì sẽ dẫn đến mở rộng mâu thuẫn giữa công bằng và hiệu quả, làm giảm sút hiệu quả kinh tế, không có lợi cho sự tiến bộ và phát triển lực lƣợng sản xuất xã hội.
1.2.3. Những hình thức phân phối thu nhập cá nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN
Nước ta hiện đang tồn tại ba chế độ sở hữu cơ bản là sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể và sở hữu tƣ nhân, trên cơ sở ba chế độ sở hữu cơ bản đó, hình thành nhiều hình thức sở hữu và nhiều thành phần kinh tế bao gồm: kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân (cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân), kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo.
Các thành phần kinh tế đó cùng tồn tại một cách khách quan, là bộ phận hợp thành của nền kinh tế thời kỳ quá độ lên CNXH, hoạt động theo pháp luật và đều bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh. Do đó, chúng ta không chỉ củng cố và phát triển các thành phần kinh tế dựa trên chế độ công hữu là kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể, mà còn phải khuyến khích các thành phần kinh tế dựa trên chế độ tƣ hữu phát triển để hình thành một nền kinh tế thị trường rộng lớn, đa dạng. Tuy nhiên, do chế độ sở hữu về tư liệu sản xuất quyết
định quan hệ phân phối thu nhập, vì vậy với mỗi thành phần kinh tế, mỗi hình thức sở hữu có hình thức phân phối thu nhập tương ứng. Chính vì thế Đại hội X của Đảng đã đƣa ra quan điểm “thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và thông qua phúc lợi xã hội"[10, tr. 26].
Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN có những hình thức phân phối TNCN chủ yếu sau:
* Phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế
Chúng ta đang xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, với mục tiêu là thiết lập chế độ sở hữu toàn dân về tƣ liệu sản xuất, tức là xác định quyền bình đẳng của người lao động đối với tư liệu sản xuất. Khi đó, lao động của mỗi người được đo trực tiếp bằng thời gian lao động, thực hiện hình thức phân phối theo lao động trên cơ sở lao động ngang nhau. Nền kinh tế nước ta hiện nay còn một yếu tố nữa là thị trường, kết quả lao động được đưa ra trao đổi trên thị trường trên cơ sở trao đổi ngang giá. Nhƣ vậy, lao động của cá nhân không thể trực tiếp trở thành lao động xã hội cần thiết, trao đổi với nhau mà phải bằng con đường vòng mới chuyển hoá thành lao động xã hội cần thiết. Người lao động được phân phối theo lượng lao động mà cá nhân đóng góp, đã được thị trường chấp nhận và tự phát quy đổi. Tức là sản phẩm do lao động của mỗi cá nhân làm ra phải được thị trường chấp nhận. Trong kinh tế thị trường định hướng XHCN, phân phối theo lao động phải được thị trường đánh giá và chấp nhận.
Phân phối theo lao động là đặc trưng bản chất của kinh tế thị trường định hướng XHCN, nó là hình thức thực hiện về mặt kinh tế của chế độ công hữu về tư liệu sản xuất. Nó cũng phù hợp với trình độ hiện nay của lực lƣợng sản xuất và thể hiện bản chất của quan hệ sản xuất XHCN: thực hiện phân phối công bằng và xoá bỏ bóc lột trên cơ sở thực hiện chế độ công hữu.
Phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế là sự vận dụng nguyên tắc phân phối theo lao động trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN. Kết quả lao động cụ thể của mỗi người, của một doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh
tế chỉ có thể đƣợc thừa nhận và có căn cứ để phân phối khi sản phẩm của đơn vị đó được thị trường thừa nhận (hàng hoá bán được), hay giá trị lao động cá biệt của cá nhân đó, doanh nghiệp đó thấp hơn giá trị lao động xã hội. Nhờ đó, doanh nghiệp có thể bán sản phẩm với giá cả ngang với mức thị trường chấp nhận, từ đó thu hồi được vốn và có lợi nhuận, những cơ sở để thực hiện phân phối. Còn nếu ngƣợc lại, giá trị lao động cá biệt không được thị trường chấp nhận, lao động không đạt được mức hiệu quả tối thiểu cần thiết thì sẽ không có cơ sở kinh tế để thực hiện phân phối. Hiệu quả kinh tế đƣợc thể hiện ở kết quả của lao động cá nhân và tập thể lao động trong doanh nghiệp. Hiệu quả kinh tế càng cao, tức là giá trị cá biệt càng thấp hơn so với giá trị lao động xã hội, điều đó thể hiện năng suất lao động của cá nhân, doanh nghiệp đó càng cao. Khi đó lợi nhuận chung của doanh nghiệp sẽ cao và các cá nhân đóng góp công sức cho thành quả đó cũng sẽ đƣợc phân phối nhiều hơn. Thực hiện phân phối theo lao động và hiệu quả kinh tế đòi hỏi các cá nhân và doanh nghiệp phải luôn đổi mới công nghệ, cải tiến quy trình sản xuất, nâng cao chất lƣợng lao động. Yêu cầu của phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế là trong những điều kiện lao động nhƣ nhau, những lao động mang lại kết quả ngang nhau thì đƣợc trả công bằng nhau, những lao động mang lại kết quả khác nhau phải đƣợc trả công khác nhau.
Phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế là nguyên tắc cần thiết vì chỉ có như vậy, mỗi người lao động mới thực sự quan tâm đến kết quả lao động của mình và quan tâm đến kết quả hoạt động của doanh nghiệp, tạo động lực thúc đẩy sản xuất phát triển.
Quá trình phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế đƣợc thực hiện thông qua hai khâu (hai cấp) phân phối với các chủ thể tham gia là nhà nước, doanh nghiệp và người lao động trong doanh nghiệp. Đầu tiên, tổng thu nhập của doanh nghiệp được phân chia giữa nhà nước và doanh nghiệp. Nhà nước, trên cơ sở kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, quy định phần thu nhập mà doanh nghiệp phải nộp cho nhà nước, phần còn lại là thu nhập thực của doanh nghiệp. Tiếp đó là phân phối thu nhập trong nội bộ doanh nghiệp do doanh nghiệp, với tƣ cách là chủ thể, sau khi dành ra phần để phát triển sản xuất và một phần cho
phúc lợi chung, phần còn lại dùng để phân phối thu nhập cá nhân, đƣợc tiến hành dựa trên cơ sở kết quả lao động của mỗi người. Kết quả đó được xác định dựa trên những quy định cụ thể về chất lƣợng, hiệu quả công việc và do doanh nghiệp đánh giá. Đó là công việc nội bộ của doanh nghiệp.
Hai khâu phân phối trên không thể tách rời nhau, sự kết hợp chúng tạo thành cơ chế phân phối thu nhập của doanh nghiệp. TNCN phải thông qua cả sự kiểm nghiệm, đánh giá của cả thị trường lẫn của doanh nghiệp. TNCN và hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp có mối liên hệ ràng buộc lẫn nhau. Phân phối thu nhập qua hai khâu nhƣ trên vừa đảm bảo quyền của chủ sở hữu tài sản vốn tại doanh nghiệp, thực hiện chức năng quản lý của nhà nước, vừa bảo đảm quyền tự chủ của doanh nghiệp trong phân phối thu nhập. Phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế được thực hiện dưới hình thức tiền lương, phụ cấp, tiền thưởng và phúc lợi tập thể.
Phân phối TNCN theo kết quả lao động được thể hiện dưới các dạng thức cụ thể sau:
- Tiền lương là số tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động sau khi đã hoàn thành đảm bảo chất lƣợng và hiệu quả các công việc theo chức năng, nhiệm vụ được thoả thuận trong hợp đồng lao động. Về thực chất, tiền lương trong hợp đồng lao động là giá cả của sức lao động, vì thế, giá trị sức lao động là cơ sở của tiền lương. Ngoài ra, tiền lương còn chịu ảnh hưởng của tình hình cung - cầu về sức lao động. Theo C.Mác, tiền lương ít nhất cũng phải bảo đảm tái sản xuất (khôi phục lại) sức lao động của con người.
Mức tiền lương tối thiểu là mức tiền lương dựa trên cung - cầu lao động, khả năng kinh tế và chỉ số giá sinh hoạt, bảo đảm cho người lao động làm công việc giản đơn nhất trong điều kiện lao động bình thường bù đắp được sức lao động giản đơn và một phần tích luỹ tái sản xuất sức lao động mở rộng. Nói một cách dễ hiểu hơn, mức lương tối thiểu phải bảo đảm các nhu cầu thiết yếu về ăn, mặc, ở, đi lại, chữa bệnh, học hành, sinh hoạt văn hoá, giao tiếp xã hội… và một phần để nuôi con cái. Nó đƣợc xây dựng căn cứ vào mức sống tối thiểu và điều kiện kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ. Khi chỉ số giá sinh hoạt tăng lên làm thu nhập thực tế của
người lao động giảm đi thì chính phủ điều chỉnh mức lương tối thiểu để đảm bảo cuộc sống cho người lao động. Việc quy định tiền lương tối thiểu bằng văn bản pháp luật nhằm tạo ra lưới an toàn cho người lao động. Ở nước ta, Bộ luật lao động năm 1994 quy định mức lương người sử dụng lao động trả cho người lao động không được thấp hơn mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định.
Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, tiền lương có các chức năng sau đây: 1) thước đo giá trị; 2) tái sản xuất sức lao động; 3) kích thích người lao động; 4) tích luỹ để đảm bảo cuộc sống của người lao động khi về già.
- Phụ cấp lương là chế độ được hình thành bởi sự thoả thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động trên cơ sở luật lao động. Hiện nay Nhà nước ta quy định các loại phụ cấp gồm: phụ cấp thâm niên vƣợt khung, phụ cấp kiêm nhiệm chức danh lãnh đạo, phụ cấp khu vực, phụ cấp đặc biệt, phụ cấp thu hút, phụ cấp lưu động, phụ cấp độc hại, nguy hiểm, phụ cấp trách nhiệm công việc, phụ cấp đặc thù theo nghề hoặc công việc để người sử dụng lao động dựa vào đó, đồng thời căn cứ vào điều kiện của mình mà xác định phụ cấp cho người lao động.
- Tiền thưởng là khoản mà các doanh nghiệp trích từ lợi nhuận sau thuế, phần kinh phí quản lý hành chính tiết kiệm còn lại sau khi đã thanh toán lương cho cán bộ, công chức đối với cơ quan hành chính sự nghiệp đƣợc phân phối nhằm khuyến khích, động viên người lao động hoặc tập thể làm việc tốt, có thành tích đặc biệt.
Dùng tiền thưởng đối với người lao động có thành tích trong công việc có ý nghĩa quan trọng và đã trở thành phổ biến ở các nước. Ở nước ta, Điều 64 Bộ luật lao động năm 1994 ghi rõ "Người sử dụng lao động có trách nhiệm trích từ lợi nhuận hàng năm để thưởng cho người lao động đã làm việc tại doanh nghiệp từ một năm trở lên, theo quy định của Chính phủ phù hợp với đặc điểm của từng loại doanh nghiệp”.
- Phúc lợi tập thể cũng là một hình thức làm tăng thêm thu nhập cho người lao động dựa trên kết quả lao động và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Nó đƣợc trích từ lợi nhuận của doanh nghiệp nhƣng không đƣợc phân phối trực tiếp cho người lao động mà gián tiếp thông qua các hình thức như: xây dựng nhà ở, nhà ăn, nhà nghỉ mát, nhà điều dƣỡng, các công trình văn hoá, thể thao, tài trợ các buổi