7. Kết cấu của luận văn
1.3. Chính sách phân phối thu nhập cá nhân
1.3.1. Vai trò của Nhà nước trong phân phối thu nhập cá nhân
Chức năng kinh tế của Nhà nước, cùng với tổ chức quản lý sản xuất trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân, còn phải tổ chức quản lý việc phân phối, điều tiết thu nhập quốc dân, bao gồm cả TNCN. Đặc biệt, do bản chất và tính hơn hẳn của nhà nước XHCN so với các hình thái nhà nước khác trong lịch sử mà vai trò của nhà nước XHCN trong phân phối thu nhập càng được tăng cường. Sự can thiệp của Nhà nước vào phân phối thu nhập là cần thiết và hoàn toàn có lợi cho công cuộc xây dựng CNXH.
Mục tiêu cơ bản sự điều tiết của Nhà nước XHCN đối với phân phối TNCN nhƣ trên đã trình bày là nhằm thực hiện công bằng. Điều tiết phân phối TNCN phải đảm bảo các nguyên tắc sau: (1) trên cơ sở thừa nhận sự khác biệt về thu nhập của cá nhân, điều tiết đối với thu nhập phải làm cho sự khác biệt đó ở mức độ vừa phải, có thể chấp nhận đƣợc; (2) phải có tác dụng kích thích nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội; (3) phải giữ vững đƣợc sự ổn định chính trị - xã hội.
Phân phối thu nhập công bằng nghĩa là người lao động có thể tham gia vào cạnh tranh trong điều kiện bình đẳng, thu nhập nhiều hay ít tương ứng với sự đóng góp nhiều hay ít. Chủ nghĩa bình quân và khoảng cách thu nhập quá xa là hai biểu hiện chủ yếu của phân phối thu nhập không công bằng. Cả hai hình thức trên đều
làm triệt tiêu động lực phấn đấu của người lao động, gây ra tình trạng trì trệ của nền kinh tế - xã hội, là nguồn gốc của những bất ổn xã hội.
Phân phối thu nhập công bằng nhằm duy trì khoảng cách thu nhập trong giới hạn có lợi cho mối quan hệ hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội, đảm bảo thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Do đó, phân phối thu nhập công bằng phải tiến hành điều tiết theo hai hướng: một là, tăng thu nhập cho những người có thu nhập thấp; hai là, huy động một phần thu nhập của những người có thu nhập cao vào ngân sách nhà nước để tái phân phối và đầu tư vào các phúc lợi công cộng. Để thực hiện phân phối thu nhập công bằng, hợp lý, Nhà nước cần phải:
- Xây dựng kế hoạch tổng thể về phân phối là khâu trung tâm của hệ thống điều hành phân phối thu nhập quốc dân một cách cân bằng và có trật tự. Kế hoạch phân phối thu nhập quốc dân sẽ có tác dụng điều tiết vĩ mô đối với phân phối TNCN. Duy trì đƣợc cân bằng tổng thể của phân phối thu nhập quốc dân, đảm bảo tỷ lệ hợp lý giữa tích luỹ và tiêu dùng sẽ ảnh hưởng quyết định đến các tỷ lệ chủ yếu của nền kinh tế quốc dân (hướng và quy mô đầu tư, tốc độ tăng trưởng kinh tế, mức sống của nhân dân…). Trên cơ sở kế hoạch tổng thể sẽ đƣa ra các quyết sách kinh tế quan trọng như vấn đề tiền lương, trợ cấp tài chính, điều chỉnh giá cả,...
- Xây dựng, ban hành và thực thi các chính sách phân phối TNCN. Các chính sách này phải phản ánh đƣợc yêu cầu chung của phân phối thu nhập trong một thời kỳ nhất định, tạo thành cơ chế điều tiết tổng hợp đối với phân phối thu nhập quốc dân. Chính sách phân phối TNCN bao gồm chính sách tiền lương, chính sách thuế, chính sách BHXH, chính sách phúc lợi xã hội.
Nhà nước thông qua sự phối hợp đồng bộ các cơ chế, công cụ chính sách thực hiện điều tiết phân phối TNCN. Có hai phương thức điều tiết là điều tiết trực tiếp và điều tiết gián tiếp. Điều tiết trực tiếp là phân phối thu nhập theo kế hoạch của Nhà nước, Nhà nước tham gia trực tiếp vào hoạt động phân phối thu nhập của các ngành, các doanh nghiệp. Điều tiết gián tiếp đƣợc thực hiện chủ yếu thông qua tác dụng điều tiết của chính sách tài chính, thuế, lãi suất, giá cả,... để ảnh hưởng đến phân phối và phân phối lại thu nhập.
Điều hành phân phối thu nhập của Nhà nước phải lấy biện pháp kinh tế là chính, tuy nhiên sự điều tiết bằng luật pháp có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Trước hết, Nhà nước sử dụng các công cụ, các chính sách đòn bẩy kinh tế giúp cho các cá nhân, tổ chức nhận thấy đƣợc lợi ích của việc thực hiện các chính sách phân phối thu nhập, từ đó tự nguyện thực hiện nghiêm chỉnh các chính sách trên. Khi các đối tượng này không chủ động thực hiện các chính sách phân phối thu nhập, Nhà nước cần dựa vào sức mạnh luật pháp và thông qua các công cụ pháp luật để cƣỡng chế nhằm thực hiện có hiệu quả các chính sách điều tiết phân phối thu nhập.
1.3.2. Chính sách phân phối thu nhập cá nhân của Nhà nước
Việc điều tiết phân phối TNCN trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN đƣợc thực hiện bởi cơ chế hỗn hợp gồm thị trường và Nhà nước. Trong cơ chế đó, thị trường điều tiết phân phối thu nhập bằng giá cả các yếu tố sản xuất thông qua quan hệ cung - cầu. Tiền lương, lợi nhuận, lợi tức, tiền thuê đất và các tài sản khác là những thu nhập của các chủ sở hữu sức lao động, vốn và tài sản đƣợc điều tiết thông qua cơ chế thị trường.
Dưới đây xem xét một số chính sách của Nhà nước có tác động điều tiết phân phối TNCN:
1.3.2.1. Chính sách tiền lương
Chính sách tiền lương là chính sách thu nhập trực tiếp tác động vào thị trường sức lao động, qua đó tác động vào sản xuất kinh doanh. Nó là chính sách quan trọng trong hệ thống chính sách kinh tế - xã hội của đất nước, liên quan trực tiếp đến đời sống của hàng chục triệu con người, đến động lực tăng trưởng và phát triển kinh tế.
Việc thực hiện chính sách tiền lương có quan hệ mật thiết đến các cân đối trong nền kinh tế, đặc biệt là quan hệ giữa việc làm và thu nhập, giữa cung và cầu lao động; giữa khu vực hành chính sự nghiệp và khu vực sản xuất kinh doanh; giữa các cơ quan đảng, đoàn thể và chính quyền; giữa vấn đề tiền lương và vấn đề tài chính quốc gia...
Vì tính chất quan trọng và các mối quan hệ đó, Đảng và Nhà nước ta rất coi trọng việc thực hiện chính sách tiền lương. Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII nhấn mạnh: Chính sách tiền lương phải quán triệt quan điểm: tiền lương gắn liền với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, trả lương đúng cho người lao động chính là thực hiện đầu tư cho phát triển, góp phần quan trọng làm lành mạnh, trong sạch đội ngũ cán bộ, nâng cao tinh thần trách nhiệm và hiệu suất công tác. Bảo đảm giá trị thực của tiền lương và từng bước cải thiện theo sự phát triển kinh tế - xã hội. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng nêu rõ: "Cải cách cơ bản chế độ tiền lương cán bộ, công chức theo hướng tiền tệ hoá đầy đủ tiền lương; điều chỉnh tiền lương tương ứng với nhịp độ tăng thu nhập trong xã hội; hệ thống thang bậc lương bảo đảm tương quan hợp lý, khuyến khích người có tài, người làm việc giỏi" [9, tr. 212]. Đến Đại hội X, Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Tiếp tục đổi mới chính sách tiền lương, chính sách phân phối thu nhập” [10, tr. 102].
Một trong những nội dung quan trọng nhất trong chính sách tiền lương là phải thực thi chính sách tiền lương tối thiểu có bảo đảm. Nội dung cơ bản của chính sách đó là phải làm cho tiền lương thực tế của người hưởng lương không bị giảm xuống khi có sự biến động về giá cả, nền kinh tế có lạm phát. Để thực hiện tốt chính sách này, phải vừa đề cao tính tự chủ của các đơn vị cơ sở, vừa tăng cường vai trò quản lý và điều tiết của Nhà nước. Ngoài ra còn cần xây dựng được một hệ thống thang lương, bảng lương và chế độ phụ cấp lương công bằng, có tác dụng kích thích người lao động nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả công việc.
1.3.2.2. Chính sách điều tiết của Nhà nước đối với thu nhập cá nhân a. Chính sách thuế thu nhập cá nhân
Thuế thu nhập cá nhân là một chính sách nhằm điều tiết huy động sự đóng góp của những người có thu nhập cao. Nó được áp dụng rộng rãi ở các nước có nền kinh tế thị trường và được coi là chính sách chủ yếu nhất để điều tiết thu nhập cá nhân, giảm sự phân hoá giàu nghèo, giữ ổn định xã hội.
Đối tƣợng của thuế thu nhập cá nhân bao gồm các khoản: thu nhập về tiền lương, tiền thưởng và các khoản thu nhập có tính chất lương khác của người làm công ăn lương, nói chung là các khoản thu nhập từ lao động; thu nhập từ lợi tức cổ phần, lợi tức trái phiếu và tiết kiệm, quà biếu tặng, thừa kế tài sản... hay thu nhập từ vốn, tài sản.
Phương thức đánh thuế đối với thu nhập cá nhân gồm: thuế luỹ tiến, thuế luỹ thoái và thuế theo tỷ lệ. Thuế luỹ tiến là loại thuế đƣợc đánh theo nguyên tắc thu nhập càng cao thì tỷ lệ đánh thuế càng cao. Thuế luỹ thoái là thuế ngƣợc lại, thu nhập càng cao thì tỷ lệ đánh thuế càng thấp. Thuế theo tỷ lệ là thuế đánh theo nguyên tắc tỷ lệ không thay đổi theo mức thu nhập. Thông qua các hình thức đánh thuế này, nhà nước điều tiết một phần thu nhập của những người có thu nhập cao, đưa vào ngân sách nhà nước nhằm trợ cấp cho người có thu nhập thấp.
Nước ta đã bước đầu thực hiện chính sách điều tiết thu nhập cá nhân bằng thuế thu nhập cá nhân theo Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao.
Ngày 5-12-2007, Quốc hội đã ban hành Luật thuế thu nhập cá nhân và sẽ có hiệu lực thi hành từ năm 2009. Việc ban hành và thực thi loại thuế này là cần thiết để thực hiện bình đẳng về thu nhập trong xã hội. Theo cách đánh thuế này, Nhà nước không hạn chế mức thu nhập cao do sự nỗ lực của mỗi người, nhưng phải điều tiết một phần để thực hiện chính sách xã hội.
b. Chính sách giải quyết việc làm
Thất nghiệp là nguyên nhân chính dẫn đến nghèo đói và các tệ nạn xã hội khác. Đối với người lao động, thiếu hoặc không có việc làm là một nguy cơ dẫn đến thu nhập thấp hoặc không có thu nhập. Đây là điều bất hạnh nhất, bởi nó không chỉ tước mất quyền bình đẳng được làm việc để phát huy năng lực của mình, mà còn không có thu nhập đảm bảo cho cuộc sống của bản thân và gia đình. Bởi vậy, Nhà nước phải có chính sách giải quyết việc làm, tạo sự bình đẳng về quyền lao động và thu nhập. Giải quyết được vấn đề việc làm là bước đầu tiên để thực hiện mục tiêu nâng cao đời sống, thu nhập của người dân. Đảng ta cũng khẳng định bảo đảm công ăn, việc làm cho dân là một mục tiêu xã hội hàng đầu.
Để thực hiện chính sách này, Nhà nước phải ban hành các thể chế pháp luật về vấn đề việc làm, lập quỹ hỗ trợ giải quyết việc làm, phát triển các dịch vụ việc làm nhƣ tổ chức các cơ sở đào tạo nghề, trung tâm giới thiệu và môi giới việc làm, dịch vụ xuất khẩu lao động...
c. Chính sách xóa đói giảm nghèo
Tình trạng đói nghèo, hố ngăn cách giàu nghèo gia tăng có nhiều nguyên nhân, nhƣng một trong những nguyên nhân quan trọng nhất là do chính sách phân phối thu nhập cá nhân không hợp lý, hoặc hoạt động kém hiệu quả. Chính vì vậy, xoá đói giảm nghèo là một trong những chính sách xã hội được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm nhằm đảm bảo thực hiện công bằng trong phân phối thu nhập.
Đảng ta luôn chủ trương khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với xoá đói giảm nghèo. Các Đại hội Đảng đều xác định xoá đói giảm nghèo là một trong những chương trình phát triển kinh tế - xã hội vừa cấp bách trước mắt, vừa cơ bản lâu dài.
Để chính sách xóa đói giảm nghèo hoạt động hiệu quả, Nhà nước phải ban hành đồng bộ một loạt các chính sách nhƣ tạo việc làm, dạy nghề, tín dụng ƣu đãi, định hướng thị trường cho người nghèo; đầu tư cho cơ sở hạ tầng các vùng khó khăn...
d. Chính sách bảo đảm xã hội
Bảo đảm xã hội là chính sách điều tiết thu nhập nhằm cải thiện điều kiện sống của những người có hoàn cảnh khó khăn. Nó là công cụ phân phối lại thu nhập giữa các cá nhân để giảm mức chênh lệch giàu nghèo.
Xuất phát từ bản chất của xã hội ta, Đảng và Nhà nước luôn luôn quan tâm đến chính sách bảo đảm xã hội. Nội dung của chính sách bảo đảm xã hội bao gồm:
- Chính sách bảo hiểm xã hội. Đây là chính sách nhằm giúp đỡ về vật chất cho người lao động khi họ tạm thời hoặc vĩnh viễn mất cơ hội lao động. Nó được coi là hình thức đóng góp dần của chính bản thân người lao động để được nhận lại
từ quỹ bảo hiểm đảm bảo cuộc sống khi về già, mất sức, mất việc làm, sinh đẻ, tai nạn, ốm đau...
Chính sách BHXH bao gồm một loạt các chính sách nhƣ: chính sách bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, trách nhiệm của người sử dụng lao động đối với người bị tai nạn lao động...
- Chính sách cứu trợ xã hội. Chính sách này thể hiện ở sự giúp đỡ bằng tiền, hiện vật hoặc các điều kiện sinh sống khác mà Nhà nước cũng như các cá nhân và tổ chức kinh tế - xã hội dành cho những người đang gặp phải những khó khăn, rủi ro, bất hạnh trong cuộc sống, giúp họ vƣợt qua khó khăn, ổn định cuộc sống để sớm hoà nhập vào cộng đồng. Nhà nước và các cấp chính quyền là chủ thể chính thực thi việc cứu trợ xã hội, cũng nhƣ phải ban hành đầy đủ chính sách cứu trợ xã hội. Qua đó, huy động được nguồn lực từ ngân sách nhà nước cũng như các nguồn đóng góp tự nguyện của các cá nhân, các tổ chức kinh tế - xã hội trong và ngoài nước vào việc thực hiện chính sách cứu trợ xã hội.