Kinh nghiệm thực hiện chớnh sỏch phõn phối thu nhập cỏ nhõn của một số quốc gia và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Một phần của tài liệu Chính sách phân phối thu nhập cá nhân ở Việt Nam (Trang 37 - 46)

7. Kết cấu của luận văn

1.4. Kinh nghiệm thực hiện chớnh sỏch phõn phối thu nhập cỏ nhõn của một số quốc gia và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

1.4.1. Kinh nghiệm cỏc nước chuyển đổi ở Đụng Âu

Quỏ trỡnh chuyển đổi nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường đó mang lại cho các nước chuyển đổi ở Đông Âu những cơ hội chưa từng có và cả những thách thức to lớn. Không cũn đảm bảo 100% công ăn việc làm và hưu trí như trước đây, mặc dù nhiều người được hưởng lợi từ các cuộc cải cách song nhỡn chung mức sống trung bỡnh vẫn suy giảm, nghèo đói và thất nghiệp gia tăng.

Mỗi người dân phải tự đối mặt với những rủi ro của cuộc sống, thu nhập không ổn định. Chính vỡ vậy, chớnh sỏch phõn phối thu nhập ở cỏc nước có nền kinh tế chuyển đổi giữ vai trũ quan trọng trong việc phỏt triển kinh tế và đảm bảo công bằng xó hội.

1.4.1.1. Chớnh sỏch xó hội

Chớnh sỏch xó hội của cỏc nước chuyển đổi tập trung vào các mặt sau:

- Chính sách trên thị trường lao động: phần lớn các nước chuyển đổi đó chỳ trọng tới việc phỏt triển một thị trường lao động hiệu quả thay cho cách sử dụng lao động không hợp lý trước đây. Trước hết là nới lỏng các quy định về lương bổng và chỗ làm, đồng thời đầu tư cho phát triển sức khoẻ và năng lực con người.

Để tăng tính linh hoạt của thị trường lao động, chính phủ các nước đó thực hiện một số biện phỏp nhƣ: hỗ trợ cho các doanh nghiệp thực hiện tái cơ cấu; xây dựng hệ thống luật lao động linh hoạt hơn; thực hiện chính sách lương tối thiểu thấp và; xây dựng môi trường luật pháp công bằng.

Thực trạng ở các nước chuyển đổi cho thấy, thất nghiệp cao là phổ biến, thất nghiệp cao và thường xuyên có thể phá hoại nghiêm trọng sự quá độ sang nền kinh tế thị trường. Đồng thời, nó cũng là nguồn gốc chính của đói nghèo, bất bình đẳng, lãng phí nguồn nhân lực. Để góp phần giải quyết nạn thất nghiệp, chính phủ các nước đó cú cỏc chương trỡnh hỗ trợ như: Bảo hiểm thất nghiệp; trợ giúp thất nghiệp; chương trỡnh khuyến khớch thị trường lao động.

- Hệ thống lương hưu: quỏ trỡnh chuyển đổi kinh tế gắn liền với gia tăng thất nghiệp đó gõy nờn những khó khăn về tài chính cho hệ thống chi trả lương hưu. Nguồn thu của quỹ lương hưu giảm mạnh do tỡnh trạng trốn thuế, di chuyển lao động, về hưu sớm của người lao động. Thất nghiệp cùng số người về hưu tăng càng làm tăng các khoản chi của quỹ lương hưu.

Đứng trước thực trạng này, các nước chuyển đổi đó buộc phải thực hiện cải cỏch hệ thống lương hưu, thực hiện qua hai bước: Một là, thắt chặt sự cân đối giữa mức đóng góp với mức được thụ hưởng; Hai là, tăng mức độ ổn định của các hệ thống lương hưu.

- Trợ cấp xó hội: Trợ cấp vốn là một cơ chế hỗ trợ thu nhập của các nước chuyển đổi trước đây. Vào cuối những năm 1980, đầu những năm 1990, ở Liên Xô cũ, các hộ gia đỡnh đƣợc nhận trợ cấp nhằm giảm nhẹ cú sốc khi thực hiện tự do hoá giá cả. Một số nước khác cũng đồng thời trợ cấp nhằm bảo vệ nhóm dân cư nhạy cảm khi tăng giá nhà ở và năng lƣợng. Hiện nay, chính phủ Nga cũng đó nhỡn nhận lại cỏc chớnh sỏch xó hội của mỡnh và đề ra các mục tiêu chú trọng hơn tới

việc đảm bảo công bằng xó hội. Chỉ tiờu của chớnh phủ Nga là đảm bảo công bằng xó hội và giảm tỷ lệ người dân có thu nhập dưới mức sống tối thiểu.

1.4.1.2. Cải cỏch phõn phối qua thuế

Hệ thống thuế đóng một vai trũ quan trọng trong phõn phối thu nhập. Chớnh phủ cỏc nước chuyển đổi cũng đó thực hiện nhiều bước cải cách hệ thống thuế và các sắc thuế nhằm khuyến khích các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh cho phát triển kinh tế và giảm sự mất công bằng xó hội.

Ví dụ, Ba Lan đó cú một chớnh sỏch hợp lý vừa khuyến khớch đƣợc phát triển kinh tế mà vẫn đảm bảo được nhiệm vụ đảm bảo công bằng xó hội. Một chương trỡnh trọn gúi nhằm vào mục tiờu tăng trưởng kinh tế ổn định, trong đó, thu nhập từ vốn đƣợc miễn thuế. Nhờ đó, trong giai đoạn 1993-1997, việc tiết kiệm của các hộ gia đỡnh tăng làm tổng tiết kiệm toàn dân đó tăng lên 4% GDP. Đồng thời, chính phủ cũng đó giảm thuế cụng ty và thuế thu nhập cỏ nhõn cho tất cả cỏc nhúm thu nhập khỏc nhau. Những bước cải cách trên đó tăng khả năng đầu tư của các doanh nghiệp về dài hạn cũng nhƣ tăng sức cạnh tranh của nền kinh tế quốc dõn.

1.4.2. Kinh nghiệm của Trung Quốc

Thay đổi lớn nhất và cần nói tới trước tiên trong chính sách phân phối của Trung Quốc là đó thay thế quan điểm phân phối bỡnh quõn chủ nghĩa trước kia bằng quan niệm "cùng tham dự, cùng chia hưởng, ưu tiên hiệu quả, chú ý công bằng, khuyến khích đầy đủ, hạn chế chờnh lệch, nõng cao phổ biến và cựng giàu cú". Đây đƣợc coi là kim chỉ nam cho chiến lƣợc phân phối của Trung Quốc trong những năm cải cách mở cửa và trong thời gian tới. Những quan điểm cơ bản trên đây của Trung Quốc trong từng thời kỳ có những ƣu tiên khác nhau, điều này thể hiện rất rừ trong chớnh sỏch phõn phối của Trung Quốc trong cỏc giai đoạn cải cách mở cửa.

1.4.2.1. Cải cách chế độ thuế

Việc cải cách chế độ thuế lần đầu ở Trung Quốc bắt đầu từ năm 1979 đến năm 1994 gồm nhiều nội dung, trong đó liên quan trực tiếp đến phân phối thu nhập gồm các cải cách chủ yếu sau:

- Cải cách chế độ thuế thu nhập doanh nghiệp. Áp dụng thuế thu nhập doanh nghiệp thống nhất đối với các doanh nghiệp trong nước, xóa bỏ việc căn cứ vào chế độ sở hữu để phân biệt áp dụng thu các loại thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế điều tiết DNNN, thuế thu nhập doanh nghiệp tập thể và thuế thu nhập doanh nghiệp tƣ nhân. Đồng thời, các DNNN không đƣợc thực hiện biện pháp khoán thuế thu nhập doanh nghiệp.

- Cải cách chế độ thuế thu nhập cá nhân. Nguyên tắc cải cách cơ bản là điều tiết sự chênh lệnh trong thu nhập cá nhân, giải quyết mâu thuẫn phân phối xó hội khụng cụng bằng. Vỡ vậy, thuế thu nhập cỏ nhõn chủ yếu ỏp dụng thu đối với những người có thu nhập tương đối cao, thu ít hoặc không thu đối với những người có thu nhập trung bỡnh hoặc thu nhập thấp. Nội dung cải cỏch chủ yếu là hợp nhất cỏc loại thuế trước kia như thuế thu nhập cá nhân, thuế điều tiết thu nhập cá nhân, thuế thu nhập đối với hộ công thương cá thể ở thành thị và nông thôn thành một loại thuế thu nhập cá nhân mới.

1.4.2.2. Chớnh sỏch chi ngõn sỏch và chuyển giao tài chớnh

Về chi tài chớnh, nhỡn vào cơ cấu chi tài chính của Trung Quốc trong hơn 20 năm cải cách mở cửa có thể nhận thấy: tỷ trọng chi phỏt triển kinh tế hạ thấp dần, tỷ trọng về chi mang tớnh chất dịch vụ xó hội lờn cao dần:

- Chi xây dựng kinh tế đến nay tuy có hạ xuống nhƣng vẫn chiếm tỉ trọng cao nhất trong các hạng mục chi, đạt tới khoảng 40%. Có thể thấy, nền kinh tế Trung Quốc đang từng bước thị trường hóa, chính phủ đang từng bước nhường chỗ cho các lĩnh vực cạnh tranh, bù lỗ cho các lĩnh vực dịch vụ xó hội.

- Chi văn hóa, giáo dục, xó hội trong tổng chi ở Trung Quốc cú xu thế tăng lên, đặc biệt là vào cuối những năm 1990. Điều này cho thấy Trung Quốc ngày càng chú trọng tới vấn đề công bằng xó hội.

Về chi chuyển giao tài chớnh, để hạn chế sự chênh lệch phát triển giữa các vùng miền, đồng thời khuyến khích tính tích cực của các địa phương, Trung Quốc thực hiện chớnh sỏch chi chuyển giao tài chớnh, với cỏc nội dung sau:

- Xác định số hoàn trả thuế của tài chính trung ương cho địa phương.

Đây là một loại chuyển giao tài chính vô điều kiện. Từ năm 1994, phần thu nhập mà các tỉnh đƣợc giữ lại đƣợc sử dụng nhƣ số liệu cơ sở để tính toán phần thu hoàn trả. Một phần thu nhập của các địa phương được chuyển thành thu nhập của trung ƣơng nhƣ đó quy định và thông qua hệ thống phân chia thuế đƣợc hoàn trả đầy đủ cho các tỉnh.

- Phần chuyển giao từ chính quyền trung ƣơng. Có hai cách chuyển giao tài chính giữa các cấp chính quyền. Phần chuyển giao giữa trung ƣơng và tỉnh là những khoản trợ cấp cố định tới các tỉnh nghèo và các khu tự trị; phần chuyển giao giữa các địa phương là khoản tiền chuyển bởi các tỉnh giàu cho các tỉnh nghèo.

Khoản tiền chuyển giao đƣợc quyết định thông qua thỏa thuận.

- Phần trợ cấp cho những mục đích đặc biệt. Ban đầu, khoản tiền này chủ yếu đƣợc dùng để ủng hộ cho các vùng bị thiên tai và trợ cấp cho các vùng nghèo đói. Sau đó, số lượng các chương trỡnh và số lượng các khoản tiền tăng lên.

Hiện nay có hàng loạt các chương trỡnh trợ cấp đặc biệt như: trợ cấp giáo dục, trợ cấp cho công trỡnh quan trọng hay chương trỡnh di dõn, trợ cấp bảo vệ mụi trường...

Qua chớnh sỏch chi tài chớnh và chuyển giao tài chớnh, Trung Quốc đang cố gắng giải quyết vấn đề công bằng trong xó hội và vấn đề chênh lệch khoảng cách giàu nghèo giữa các tỉnh.

1.4.2.3. Chớnh sỏch bảo hiểm

* Bảo hiểm xó hội

Theo Luật Lao động của Trung Quốc thỡ Trung Quốc cú 5 chế độ bảo hiểm xó hội là: nghỉ hưu (dưỡng lóo), bệnh tật, tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp và sinh đẻ. Về nguyên tắc, mỗi chế độ có một quỹ riêng. Nguồn quỹ gồm 2 khoản, một khoản do người sử dụng lao động - chủ doanh nghiệp nộp, một khoản do người lao động đóng. Riêng quỹ bảo hiểm tai nạn lao động và quỹ bảo hiểm sinh đẻ thỡ chỉ cú chủ doanh nghiệp phải đóng. Chỉ khi nào mất cân đối thu

chi do các nguyên nhân bất khả kháng thỡ nhà nước mới hỗ trợ từ ngân sách cho các quỹ.

* Bảo hiểm y tế

Từ năm 1993 đến nay, Trung Quốc đó nhiều lần cải cỏch chế độ bảo hiểm y tế, nội dung của chế độ bảo hiểm y tế hiện hành là:

- Mọi loại hỡnh doanh nghiệp, mọi cơ quan nhà nước, các hiệp hội, các tổ chức phi chính phủ trong khu vực thành thị phải tham gia vào hệ thống bảo hiểm y tế.

- Người sử dụng lao động đóng góp khoảng 6% quỹ lương của người tham gia bảo hiểm, cũn người lao động đóng góp 2% lương của mỡnh.

- Người lao động có thể tới khám và chữa bệnh ở bất cứ bệnh viện nào của nhà nước hay của tư nhân ở bất cứ nơi nào.

* Bảo hiểm thất nghiệp

Người lao động trong các loại hỡnh doanh nghiệp và trong cỏc cơ quan tại thành thị đều đƣợc tham gia vào hệ thống bảo hiểm thất nghiệp. Chủ doanh nghiệp phải nộp 2% tiền lương của người lao động, người lao động đóng 1% tiền lương của mỡnh. Cứ mỗi năm đóng bảo hiểm thất nghiệp khi thất nghiệp, người lao động được hưởng 1 tháng trợ cấp nhưng tối đa không quá 24 tháng. Tuy nhiên, phương châm quán triệt của Trung Quốc là phải tạo cho đƣợc việc làm mới, bất đắc dĩ mới cho hưởng trợ cấp thất nghiệp. Về mặt tổ chức, ở Trung Quốc, bảo hiểm thất nghiệp và giải quyết việc làm là một cơ quan. Quỹ giải quyết việc làm cho người lao động thất nghiệp gồm 3 phần: doanh nghiệp đóng 1/3, ngân sách nhà nước đảm bảo 1/3 và quỹ thất nghiệp đảm bảo 1/3.

Đối với công nhân viên chức có việc làm, có 3 chế độ để đảm bảo đời sống gồm: mức lương tối thiểu; mức sinh hoạt phí cơ bản và sinh hoạt phí tối thiểu. Đối với công nhân viên chức bị mất việc làm, bị thất nghiệp đó đóng bảo hiểm thất nghiệp, trước hết họ được hưởng sinh hoạt phí cơ bản, được học nghề, được tạo việc làm mới bằng kinh phí của quỹ việc làm. Sau 3 năm không tạo đƣợc việc làm thỡ khụng được hưởng mức sinh hoạt phí cơ bản mà chuyển sang hưởng trợ cấp

thất nghiệp. Đối với công nhân viên chức bị thất nghiệp không đóng bảo hiểm thất nghiệp, Nhà nước Trung Quốc chủ trương tỡm cỏch sử dụng vốn cứu tế xó hội để giải quyết đời sống công nhân viên thất nghiệp. Trong các doanh nghiệp phá sản, mức lương tối thiểu được trích từ số tiền bán đấu giá tài sản doanh nghiệp. Số tiền bán đấu giá tài sản doanh nghiệp đƣợc ƣu tiên trả cho công nhân viên theo tiêu chuẩn bằng 3 lần lương công nhân viên chức bỡnh quõn năm trước, theo mức mà công nhân viên chức ở các doanh nghiệp tại các thành phố thí điểm doanh nghiệp phá sản được hưởng.

Ngoài ra Trung Quốc cũng có hệ thống bảo hiểm tai nạn lao động và bảo hiểm thai sản do chủ lao động đóng. Do người lao động không phải đóng góp nên tuyệt đại đa số người lao động ở Trung Quốc tham gia 2 loại hỡnh bảo hiểm xó hội này.

1.4.3. Một số bài học kinh nghiệm cú thể ỏp dụng với Việt Nam

Thứ nhất, giải phúng sức sản xuất xó hội tạo ra sự tăng trưởng kinh tế phải gắn với việc từng bước nâng cao đời sống, tạo dựng cơ hội việc làm và phúc lợi cho đại bộ phận nhân dân lao động.

Thông qua chính sách phân phối lần đầu, Trung Quốc đó từng bước giải phóng sức sản xuất cho doanh nghiệp, khuyến khích tính tự chủ của địa phương một cách tối đa. Từ đó, tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế liên tục, góp phần cải thiện đời sống của người lao động.

Bờn cạnh việc điều chỉnh chính sách phân phối lần đầu nhƣ chính sách phát triển các quỹ trong doanh nghiệp, Trung Quốc cũng đang liên tục điều chỉnh chính sách thuế, hệ thống bảo hiểm xó hội v.v. nhằm giải phúng, kớch thớch đƣợc sức sản xuất của doanh nghiệp, từng bước tách doanh nghiệp ra khỏi các gánh nặng xó hội. Đồng thời, Trung Quốc cũng đang tạo mọi điều kiện cho các doanh nghiệp thuộc các ngành nghề, các hỡnh thức sở hữu khỏc nhau đƣợc phát triển trong môi trường cạnh tranh công bằng và thông thoáng.

Nhờ thực hiện giải phúng sức sản xuất của xó hội, Trung Quốc đó thành cụng trong việc nõng cao dần từng bước đời sống của đại bộ phận người lao động.

Trong suốt những năm cải cách mở cửa, mặc dù có sự chênh lệnh giữa các vùng, miền, các ngành nghề, lĩnh vực trong thu nhập, song thu nhập bỡnh quõn của người lao động trong toàn xó hội ở Trung Quốc vẫn tăng lên không ngừng qua từng năm.

Có những thời điểm ở Trung Quốc, tốc độ tăng lương bỡnh quõn của người lao động cũn cao hơn tốc độ tăng GDP. Đây là nhân tố đảm bảo cho những cải cách của Trung Quốc thành công và đƣợc đông đảo nhân dân ủng hộ.

Thứ hai, vai trũ của ngõn sỏch nhà nước được đề cao trong việc hỗ trợ phát triển kinh tế vùng, miền và địa phương.

Để việc đảm bảo công bằng trong phân phối thu nhập ở một nền kinh tế thị trường, hệ thống ngân sách nhà nước đóng vai trũ đặc biệt quan trọng.

Kinh nghiệm các nước chỉ ra rằng, phần lớn việc tái phân phối thu nhập phải thực hiện thông qua hệ thống ngân sách, những nước có hệ thống ngân sách phát triển với phần tái phân phối thông qua ngân sách lớn thường có mức độ bất bỡnh đẳng thấp hơn. Để giảm thấp sự bất bỡnh đẳng thỡ ngõn sỏch nhà nước giữ vai trũ quan trọng trong việc hỗ trợ phỏt triển kinh tế cỏc vựng, miền và địa phương. Kinh nghiệm của các nước chuyển đổi là một bài học điển hỡnh.

Một trong những nước điển hỡnh về lĩnh vực này là Liờn bang Nga. Cỏc hỡnh thức chi viện của nhà nước có chọn lọc đối với các địa phương, được thực hiện dưới nhiều hỡnh thức đa dạng, phù hợp với từng địa phương cũng như đối với từng điều kiện kinh tế cụ thể. Các hỡnh thức chi viện này đó gúp phần giải quyết nhiều vấn đề khu vực, góp phần tăng tiềm lực sản xuất của một số vùng, giảm nhẹ ảnh hưởng tiêu cực của các vấn đề khu vực tới nền kinh tế khu vực nói riêng và cả nước nói chung.

Tuy nhiên, trong một số trường hợp, các khoản chi viện đôi khi chưa đánh giá đƣợc một cách trực tiếp và đầy đủ. Bài học đặt ra là cần có thông tin đầy đủ về cơ cấu vùng lónh thổ, làm rừ nhu cầu thực tế của cỏc địa phương, đồng thời thống nhất các văn bản pháp quy về lựa chọn các vấn đề tỡnh thế trong chi viện cho cỏc địa phương. Mặt khác, cần chú trọng tới việc tiêu chuẩn hoá cấp ngân sách cho các địa phương, nâng cao tính tự cân đối ngân sách của các khu vực, tránh tỡnh trạng trụng chờ vào ngõn sỏch trung ương của các địa phương.

Một phần của tài liệu Chính sách phân phối thu nhập cá nhân ở Việt Nam (Trang 37 - 46)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(128 trang)