QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH PHÂN PHỐI THU NHẬP CÁ NHÂN Ở VIỆT NAM
3.2. Những giải pháp hoàn thiện chính sách phân phối thu nhập cá nhân trong thời gian tới
3.2.1. Cải cách chính sách tiền lương
Chính sách tiền lương có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong phân phối thu nhập cá nhân. Chúng ta đã biết tiền lương là nguồn thu nhập thường xuyên để đảm
bảo các nhu cầu chi tiêu cá nhân, nó tác động trực tiếp và ngay lập tức đến cuộc sống của mọi cá nhân. Chính vì vậy, cải cách chính sách phân phối thu nhập cá nhân ở bất cứ quốc gia nào thì chính sách tiền lương luôn được quan tâm đầu tiên.
Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ.
Trong tiến trình cải cách chính sách tiền lương, cần quán triệt các quan điểm sau:
- Cải cách chính sách tiền lương phải gắn với sự phát triển, sự ổn định kinh tế - chính trị - xã hội của đất nước, đảm bảo được các cân đối vĩ mô. Tiền lương phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội. Sự phát triển kinh tế tạo ra điều kiện vật chất cho tăng tiền lương, ngược lại việc tăng lương hợp lý sẽ thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội. Vì vậy, căn cứ vào tốc độ tăng trưởng kinh tế trong từng thời kỳ để điều chỉnh mức tiền lương cho hợp lý. Cần khắc phục tình trạng như trước đây, mức tiền lương quy định thấp nhưng lại chậm điều chỉnh trong khi đó nền kinh tế tăng trưởng liên tục với tốc độ cao, giá cả hàng hoá, dịch vụ tăng lên làm tiền lương thực tế giảm. Tiền lương không chỉ thuần tuý là sự phân phối cho tiêu dùng cá nhân, mà nó là một bộ phận của chi phí sản xuất, vì vậy cần đƣợc tính toán đầy đủ để đảm bảo tái sản xuất sức lao động với tính cách là một nhân tố của quá trình sản xuất, vì thế chi phí cho tiền lương là chi phí cho đầu tư phát triển.
Chính sách tiền lương liên quan đến nhiều vấn đề kinh tế vĩ mô như tích luỹ và tiêu dùng, thu và chi ngân sách nhà nước, việc làm và thu nhập; động chạm đến lợi ích của tất cả mọi người, mọi tầng lớp trong xã hội, liên quan đến vấn đề công bằng xã hội. Vì vậy, cải cách tiền lương phải đảm bảo các nguyên tắc cân đối vĩ mô của nền kinh tế, đặc biệt là các cân đối giữa tích luỹ và tiêu dùng, cân đối giữa tiền lương với năng suất lao động, với thu nhập quốc dân, tránh dẫn đến những mất cân đối lớn hoặc bất bình đẳng gây nên căng thẳng xã hội.
- Chính sách tiền lương phải phù hợp với thể chế KTTT định hướng XHCN.
Chính sách tiền lương của nước ta hiện nay vẫn là sự chuyển hoá của tiền lương bao cấp bằng hiện vật trước đây và còn mang nặng tính bình quân. Tính bình quân trong lương thể hiện rõ nét ở hệ thống thang, bảng lương giữa các ngành, các khu vực, thời
gian tăng lương, ở khoảng cách chênh lệch giữa các mức lương. Tiền lương mang tính bình quân chẳng những không phù hợp với nguyên tắc phân phối theo lao động, mà còn không phù hợp với nguyên tắc phân phối trong KTTT. Do đó cần đổi mới tƣ duy về tiền lương và xây dựng chính sách tiền lương, xây dựng chính sách tiền lương cần phù hợp với thể chế KTTT định hướng XHCN, thực hiện tiền tệ hoá đầy đủ tiền lương, những yếu tố bao cấp còn lại (nhà ở, phương tiện đi lại, khám chữa bệnh…) cần được xoá bỏ, khắc phục tính chất bình quân trong tiền lương.
Trong kinh tế thị trường, tiền lương là giá cả sức lao động được hình thành trên thị trường, nó phản ánh quan hệ cung - cầu sức lao động, có yếu tố cạnh tranh.
Vì vậy, tiền lương phải gắn với thị trường sức lao động chứ không chỉ điều chỉnh chính sách lương dựa trên chỉ số giá cả. Nhưng tiền lương ở nước ta hiện nay chưa thực sự là giá cả sức lao động, nó chưa phản ánh giá trị sức lao động và tương quan cung - cầu về lao động. Hợp đồng lao động thể hiện quan hệ lao động trên thị trường sức lao động, chỉ bắt buộc đối với các tổ chức ngoài khu vực nhà nước, còn trong khu vực nhà nước mới chỉ thực hiện đối với người mới tuyển dụng, nhưng chế độ lương vẫn hầu hết theo hệ thống thang, bảng lương do Nhà nước quy định.
Hợp đồng lao động đƣợc ký kết cũng chƣa phải là kết quả thực sự của sự thoả thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động, vì trong điều kiện sức ép quá lớn về việc làm đối với người lao động, họ buộc phải chấp nhận mức lương và điều kiện do người sử dụng lao động đưa ra. Do đó, để tiền lương thực sự là giá cả sức lao động, cần hình thành và phát triển thị trường lao động có sự giám sát, kiểm tra của Nhà nước đối với việc thuê mướn, sử dụng và trả công lao động trên cơ sở vận dụng tính quy luật khách quan của thị trường vào việc xác định tiền lương.
Trong kinh tế thị trường, tiền lương và việc làm có mối quan hệ chặt chẽ nên khi xây dựng chính sách tiền lương cần tính đến khía cạnh việc làm ở nước ta hiện nay, thang, bậc lương, cơ chế nâng lương cần được xác định hợp lý đảm bảo thu hút được lao động có chất lượng cao vào những khu vực quan trọng của Nhà nước, khuyến khích người lao động nâng cao trình độ nghề nghiệp. Chính việc chính sách lương không hợp lý, trả lương cho người lao động không thoả đáng là một trong
những nguyên nhân quan trọng (bên cạnh những nguyên nhân như môi trường làm việc, cơ hội thăng tiến…) dẫn đến tình trạng chảy máu chất xám trong khu vực nhà nước sang các khu vực khác. Vì vậy, cải cách chế độ tiền lương là bước đi quan trọng đầu tiên để ngăn chặn tình trạng chảy máu chất xám, từng bước thu hút nhân tài vào làm việc trong khu vực nhà nước.
- Cải cách chính sách tiền lương phải được thực hiện từng bước và đồng bộ với cải cách hành chính, cải cách kinh tế, thiết lập đồng bộ hệ thống thị trường lành mạnh.
Chính sách tiền lương là một trong những chính sách kinh tế - xã hội quan trọng, là tụ điểm của mọi vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội, công bằng. Cải cách chính sách tiền lương liên quan đến lợi ích tất cả người lao động. Mặt khác, việc xây dựng chính sách tiền lương hợp lý, thực hiện được các chức năng của mình và phù hợp với trình độ phát triển kinh tế - xã hội là một công việc khó khăn, phức tạp. Vì thế cải cách chính sách tiền lương cần được thực hiện thận trọng từng bước, không thể nóng vội, chủ quan, làm một lần.
Hiện nay, nước ta đang tiến hành cải cách hành chính nhằm xây dựng một nền hành chính hoạt động có hiệu lực, hiệu quả, đảm bảo đội ngũ công chức có phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Cải cách chính sách tiền lương không thể tách rời, phải thực hiện đồng bộ với cải cách hành chính.
Cải cách tiền lương trong khu vực nhà nước đòi hỏi phải tổ chức lại lao động một cách hợp lý, giải quyết vấn đề biên chế của bộ máy nhà nước theo hướng hiệu quả, trên cơ sở nhu cầu công việc mà định biên đối với từng loại cán bộ, công chức, xem xét sự cân đối giữa các ngạch, bậc của mỗi ngành, mỗi địa phương. Thực hiện tăng cường trách nhiệm, quyền hạn cho cán bộ trong bộ máy nhà nước đi đôi với tăng lương, thay vỡ tăng người như đang diễn ra hiện nay, nhất là cán bộ cấp cơ sở.
Cải cách tiền lương phải trên cơ sở cải cách cơ chế quản lý, khắc phục tỡnh trạng bao biện của Nhà nước, tách khu vực sự nghiệp khỏi khu vực hành chính, thực hiện cơ chế tự chủ tài chính kết hợp với xó hội hoỏ trong lĩnh vực dịch vụ cụng. Cải cỏch tiền lương trong khu vực nhà nước phải xét trên quan điểm phân
phối GDP chứ không chỉ phân phối ngân sách nhà nước. Với tư duy như trờn, chớnh sỏch tiền lương khu vực này cần xây dựng theo hướng sau: trong khu vực hành chớnh, ngân sách nhà nước đảm bảo toàn bộ chi phí tiền lương ở mức cao hơn thu nhập bỡnh quõn của xó hội và sẽ tăng lên theo nguyên tắc tốc độ tăng tiền lương không được vượt quá tốc độ tăng trưởng kinh tế; trong khu vực sự nghiệp cần cú sự xó hội húa để cùng Nhà nước tạo nguồn đảm bảo tiền lương. Nói cách khác, tiền lương và thu nhập của người lao động thuộc khu vực hành chính phải lấy từ ngân sách nhà nước, cũn tiền lương từ khu vực sự nghiệp cần huy động thờm từ xó hội trong quỏ trỡnh phõn phối và phõn phối lại GDP.
Đối với khu vực doanh nghiệp, tiền lương là một bộ phận của chi phí sản xuất, nếu tiền lương tăng thỡ lợi nhuận giảm và ngược lại. Giải pháp duy nhất để xử lý mõu thuẫn này là tăng năng suất lao động, tiết kiệm chi phí, nâng cao hiệu quả sản xuất, khi đó sẽ tạo đƣợc nguồn để vừa tăng lợi nhuận, vừa tăng đƣợc tiền lương.
- Cải cách chính sách tiền lương gắn liền với cải cách chính sách bảo hiểm xã hội. Trong cải cách chính sách tiền lương, cần tách hẳn hệ thống tiền lương với hệ thống bảo hiểm xã hội. Tiền lương và các bảo đảm xã hội như bảo hiểm xã hội, các trợ cấp xã hội có chức năng, cơ chế tạo nguồn và đối tượng hưởng lợi hoàn toàn khác nhau. Vì thế không nên ràng buộc tự động giữa tiền lương với bảo hiểm xã hội. Tiền lương là thu nhập để tái sản xuất sức lao động, nó là đòn bẩy kích thích người lao động nâng cao năng suất lao động và thường xuyên được xem xét, điều chỉnh cho thích hợp. Còn các khoản bảo đảm xã hội không gắn với năng suất lao động, nó được duy trì ở mức thoả đáng ngay cả khi tiền lương biến động, đồng thời cần duy trì mối tương quan hợp lý giữa mức sống tối thiểu và mức trợ cấp tối thiểu.
Sự tách bạch như vậy cho phép cải cách chính sách tiền lương mà không buộc phải thay đổi các khoản bảo đảm xã hội một cách tương ứng, điều đó có ý nghĩa thiết thực, về lâu dài khi số người thuộc diện bảo đảm xã hội tăng lên đáng kể.
Thực hiện được các nguyên tắc nêu trên, cải cách chính sách tiền lương cũng phải đảm bảo cho tiền lương thực hiện được các chức năng của nó, đó là:
- Phải đảm bảo tái sản xuất sức lao động. Đây là chức năng cơ bản và đầu tiên của tiền lương. Mức tiền lương trong thời gian qua chưa đảm bảo được tái sản xuất sức lao động, chưa bù đắp được các chi phí thiết yếu cho bản thân người lao động, chứ chưa kể đến con cái và gia đình họ. Do đó, cần nâng cao tiền lương tối thiểu danh nghĩa, đảm bảo tiền lương thực tế thực hiện được chức năng tái sản xuất sức lao động.
- Kích thích tăng năng suất lao động. Đối với người lao động, tiền lương là bộ phận thu nhập chủ yếu dùng để tái sản xuất sức lao động và nâng cao mức sống.
Việc trả đúng, trả đủ tiền lương cho người lao động sẽ kích thích họ quan tâm đến kết quả lao động, nâng cao năng suất lao động, hiệu quả làm việc. Ngƣợc lại, tác dụng kích thích của tiền lương sẽ giảm, làm giảm hiệu quả và chất lượng công việc.
- Góp phần phân phối thu nhập công bằng. Để tiền lương góp phần vào việc phân phối công bằng, cần phải xác định mức lương tối thiểu chung, mức tiền lương tối thiểu theo ngành, vùng; tiền lương phải gắn với năng suất, chất lượng và hiệu quả, khoảng cách giữa các thang, bậc lương, cơ chế nâng lương phải hợp lý.
Việc đảm bảo cho tiền lương thực hiện được các chức năng nói trên cũng chính là mục tiêu của cải cách chính sách tiền lương ở nước ta.
Để xây dựng được chính sách tiền lương đảm bảo được các nguyên tắc và chức năng nói trên cần thực hiện những giải pháp sau:
Thứ nhất, phải xác định đƣợc mức tiền lương tối thiểu hợp lý.
Tiền lương tối thiểu là mức tiền lương bảo đảm cho người lao động làm việc giản đơn nhất trong điều kiện lao động bình thường bù đắp được sức lao động giản đơn và một phần tích luỹ tái sản xuất mở rộng sức lao động (có một phần để nuôi gia đình và tích lũy). Việc xác định mức tiền lương tối thiểu là một nội dung quan trọng trong cải cách chính sách tiền lương, nhưng là một việc phức tạp, bởi khó có thể xác định chính xác mức tiền lương tối thiểu.
Có một số nhân tố mà khi xây dựng tiền lương tối thiểu cần tính đến: Một là, mức sống tối thiểu của dân cƣ. Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, nhu cầu tối thiểu của con người tăng lên và cơ cấu nhu cầu cũng có sự thay đổi. Vì thế, mức
tiền lương tối thiểu phải thay đổi theo từng thời kỳ cho phù hợp với sự tăng lên của nhu cầu. Nhu cầu và mức sống có thể khác nhau, nhƣng không nên để chúng tách nhau quá xa, mức sống thực tế không nên thấp quá xa so với nhu cầu. Hai là, năng suất lao động. Năng suất lao động tăng là cơ sở để tăng tiền lương trung bình xã hội và theo đó có cơ sở điều chỉnh mức lương lên cao. Nguyên tắc chung là tốc độ tăng tiền lương không thể vượt quá tốc độ tăng năng suất lao động xã hội. Ba là, quan hệ cung - cầu về lao động. Việc xác định tiền lương tối thiểu cũng phải tính đến quan hệ cung - cầu về lao động, đến khả năng chi trả của doanh nghiệp.
Nhà nước cần sử dụng các phương pháp tiếp cận khác nhau để xác định tương đối chính xác mức tiền lương tối thiểu để làm căn cứ cho việc hoàn thiện hệ thống trả công lao động, cho việc tính toán các mức lương khác nhau của hệ thống thang bảng lương và phụ cấp lương. Mức lương tối thiểu được coi là hợp lý khi nó được cả người lao động và người sử dụng lao động xem là có thể chấp nhận được, nếu không như vậy thì mức lương tối thiểu không có tính khả thi.
Nghiên cứu tách chính sách tiền lương cho 3 khu vực với cơ chế tiền lương khác nhau, đó là:
- Khu vực hành chính nhà nước có nguồn tiền lương từ ngân sách nhà nước.
Chính sách tiền lương khu vực này phải đảm bảo mức sống cho cán bộ, công chức ở mức trung bỡnh khỏ của xó hội.
- Khu vực sự nghiệp cú nguồn tiền lương một phần từ ngân sách nhà nước và một phần từ nguồn thu sự nghiệp hoặc tự trang trải. Tiền lương của cán bộ, viên chức khu vực này phụ thuộc vào năng suất, chất lƣợng cung cấp dịch vụ công.
- Khu vực sản xuất kinh doanh có nguồn tiền lương từ kết quả sản xuất kinh doanh và theo cơ chế tiền lương thị trường.
Để chính sách lương tối thiểu có tác động tới mọi đối tượng người lao động thì cần có những chế tài mạnh buộc tất cả các đối tƣợng sử dụng lao động đều phải áp dụng chế độ hợp đồng lao động, từ đó sẽ có cơ sở để kiểm tra việc thực hiện các quy định pháp luật liên quan đến tiền lương nói riêng, đến lao động nói chung.
Thứ hai, bên cạnh lương tối thiểu, hệ thống thang lương, bảng lương và cơ chế quản lý tiền lương cũng cần đƣợc đổi mới cho phù hợp nhằm tạo ra sự công
bằng cũng như kích thích người lao động nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả công việc. Khác với chính sách lương tối thiểu, cần phải có chính sách lương tối thiểu thống nhất chung cho mọi đối tƣợng, quy định về hệ thống thang, bảng lương cần phân biệt hai đối tượng: hưởng lương từ ngân sách sách nhà nước và không hưởng lương từ ngân sách nhà nước để có các quy định phù hợp.
Đối với các đối tượng hưởng lương từ ngân sách nhà nước, áp dụng một hệ thống bảng lương thống nhất do Nhà nước quy định, được xây dựng dựa trên một số nguyên tắc sau:
- Đối với cán bộ lãnh đạo, hệ thống bảng lương đảm bảo tương ứng với mỗi cấp, mỗi nhóm chức vụ tương đương, không phân biệt chức vụ bầu cử hay bổ nhiệm, khuyến khích cán bộ, công chức phát triển chuyên môn nghiệp vụ. Tiền lương của cán bộ giữ chức vụ lãnh đạo được thiết kế trên cơ sở phân loại tổ chức, nghiệp vụ, phạm vi trách nhiệm, tính phức tạp và khối lƣợng công việc đảm nhiệm.
Chức danh tương đương thì xếp lương và phụ cấp chức vụ ngang nhau, chức danh cao thấp khác nhau thì lương và phụ cấp khác nhau, chức vụ có yêu cầu chất lượng cao (chính trị, chuyên môn) thì đãi ngộ cao hơn.
- Nhà nước giao ổn định quỹ lương trên cơ sở khoán biên chế và kinh phí hành chính. Việc thiết kế bảng lương của công chức hành chính dựa trên quan hệ tiền lương tối thiểu - trung bình - tối đa, hệ số mức lương trong các bảng lương được xác định trong điều kiện lao động bình thường, các yếu tố về điều kiện lao động cao hơn bình thường và ưu đãi ngành được thực hiện bằng phụ cấp nặng nhọc, độc hại, phụ cấp ƣu đãi, phụ cấp trách nhiệm… Trên cơ sở nguyên tắc trên, tiến hành thiết kế một bảng lương áp dụng chung cho công chức ở tất cả các ngành nhƣ sau:
+ Phân nhóm ngạch công chức tương đương giữa các ngành theo một yếu tố là mức độ phức tạp của ngạch (chức trách, hiểu biết và yêu cầu trình độ) làm căn cứ thiết kế một bảng lương chung.
+ Các yếu tố về điều kiện lao động và các ưu đãi không đưa vào mức lương ngạch, bậc mà quy định bằng chế độ phụ cấp.