Bất kỳ một quốc gia nào có nền kinh tế vận động theo cơ chế thị trường đều coi thuế TNCN là một sắc thuế có tầm quan trọng lớn trong việc huy động nguồn thu cho ngân sách và thực hiện cô
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
ĐỖ THỊ HỒNG PHƯƠNG
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LÂM ĐỒNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
Đà Lạt – 2012
Trang 2Chuyên ngành: Tài chính và Ngân hàng
Mã số: 60 34 20
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS TẠ ĐỨC KHÁNH
Đà Lạt – 2012
Trang 3Mục lục
Trang
Danh mục các ký hiệu viết tắt
Danh mục các bảng và sơ đồ
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: Quản lý thuế TNCN – Cơ sở lý luận và thực tiễn 5
1.1 Thuế TNCN và công tác quản lý thuế TNCN 5
1.1.1 Đặc điểm, vai trò thuế TNCN 5
1.1.2 Nội dung cơ bản của thuế TNCN 10
1.1.3 Mục tiêu và nội dung quản lý thuế TNCN 13
1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý thuế TNCN 22
1.2.1 Các yếu tố khách quan 22
1.2.2 Các yếu tố chủ quan 24
1.3 Kinh nghiệm quản lý thuế TNCN trên thế giới và bài học kinh nghiệm phù hợp với Việt Nam 26
1.3.1 Kinh nghiệm quản lý thuế TNCN trên thế giới 26
1.3.2 Bài học kinh nghiệm phù hợp áp dụng cho Việt Nam 31
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý thuế TNCN trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng 34
2.1 Tổ chức quản lý thuế TNCN của tỉnh Lâm Đồng 34
2.1.1 Quy mô và cơ cấu thuế TNCN của tỉnh Lâm Đồng 34
2.1.2 Vị trí và vai trò của thuế TNCN trong công tác quản lý thuế của Cục Thuế tỉnh Lâm Đồng 35
2.2 Tình hình thực hiện quản lý thuế TNCN trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng36 2.2.1 Công tác tổ chức bộ máy quản lý 37
2.2.2 Công tác tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế 40
2.2.3 Quy trình quản lý thu thuế 43
2.3 Đánh giá công tác quản lý thuế TNCN 63
Trang 42.3.1 Những kết quả đạt được 63
2.3.2 Tồn tại, hạn chế và nguyên nhân 66
2.3.3 Nguyên nhân 71
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thuế TNCN trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng 77
3.1 Mục tiêu, định hướng quản lý thuế TNCN 77
3.1.1 Mục tiêu chung 77
3.1.2 Định hướng quản lý thuế TNCN trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng 77
3.2 Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thuế TNCN trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng 79
3.2.1 Giải pháp về tổ chức bộ máy, nguồn nhân lực 79
3.2.2 Các giải pháp về chuyên môn nghiệp vụ 83
3.2.3 Giải pháp về công tác thanh tra, kiểm tra 96
3.2.4 Giải pháp về mặt pháp lý 98
3.3 Kiến nghị 103
3.3.1 Kiến nghị với Tổng cục thuế 103
3.3.2 Kiến nghị với Bộ Tài chính 104
3.3.3 Kiến nghị Thành uỷ, HĐND, UBND 104
3.3.4 Kiến nghị với các cơ quan liên quan 105
KẾT LUẬN 107
TÀI LIỆU THAM KHẢO 109
PHỤ LỤC 111
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU VÀ SƠ ĐỒ
Bảng 2.3 Bảng tổng hợp kết quả thu NSNN từ năm
2008 – 2011 trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng:
Đồ thị 1 Tổng thuế TNCN huy động nguồn lực
cho NSNN trong 3 năm 2009, 2010 và 2011
Trang 50
Trang 7MỞ ĐẦU
1- Tính cấp thiết của đề tài
Thuế là nguồn thu chủ yếu của NSNN, là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế Để đạt được điều đó đòi hỏi các chính sách thuế phải đạt được mục đích tạo nguồn thu vững chắc, đảm bảo cân đối thu chi NSNN; góp phần phát huy tác dụng điều tiết vĩ mô nền kinh tế, thực hiện công bằng xã hội Việc quản lý thuế phải đảm bảo công khai, minh bạch, bình đẳng; bảo đảm quyền
và lợi ích hợp pháp của người nộp thuế Trong các khoản thu về thuế, thuế TNCN đang ngày càng đóng vai trò quan trọng, thực hiện chức năng điều tiết thu nhập, thực hiện công bằng xã hội và động viên nguồn thu cho ngân sách Thuế TNCN được tính với diện rộng, khả năng tạo nguồn thu cho ngân sách rất lớn Bên cạnh đó, thuế TNCN tác động trực tiếp vào thu nhập của dân cư
mà người dân của bất kỳ quốc gia nào cũng đều mong muốn và cố gắng có thu nhập ngày càng cao để nâng cao đời sống vật chất, tinh thần Thuế TNCN luôn có sự gia tăng nhanh chóng cùng với sự tăng lên của thu nhập bình quân đầu người
Thực hiện công bằng xã hội là một trong những vai trò quan trọng của thuế nói chung, cùng với việc thực hiện biểu thuế luỹ tiến từng phần, thuế TNCN đã thực hiện được việc điều tiết thu nhập, đảm bảo công bằng trong xã hội
Thuế TNCN cũng có tác dụng điều tiết vĩ mô đối với nền kinh tế Loại thuế này điều tiết trực tiếp TNCN nên một mặt tác động trực tiếp đến tiết kiệm, mặt khác làm cho khả năng thanh toán của các cá nhân bị giảm từ đó cầu hàng hoá, dịch vụ giảm sẽ tác động đến sản xuất
Thực tế đã chứng minh nhiều khoản thu nhập của một số cá nhân nhận được từ việc thực hiện các hành vi bất hợp pháp hoặc bằng cách lợi dụng những kẽ hở của pháp luật mà Nhà nước không kiểm soát được như tham ô, nhận hối lộ, buôn bán hàng quốc cấm, trốn tránh thuế, lừa đảo chiếm đoạt tài sản của Nhà nước và công dân Những hành vi này ảnh hưởng rất xấu đến đời sống kinh tế – xã hội của mỗi quốc gia Phải kết hợp hữu hiệu nhiều biện
Trang 8pháp để ngăn chặn và chống lại những hành vi trên, một trong số các biện pháp ngăn chặn đó thì phải kể đến vai trò của thuế TNCN
Trong giai đoạn hiện nay, xã hội đang không ngừng vận động và phát triển, vấn đề thu nhập ngày càng trở nên phức tạp, liên quan đến mọi mặt đời sống của đại bộ phận dân cư Tình trạng bất bình đẳng về thu nhập gia tăng thể hiện ở hệ số phản ánh bất bình đẳng ở Việt Nam hiện nay đã tăng hơn 3 lần so với năm 1999 Bên cạnh đó công tác quản lý nguồn thu của nước ta còn nhiều hạn chế Vì vậy, công tác quản lý thuế TNCN cần phải được nhìn nhận, đánh giá và hoàn thiện kịp thời đề đáp ứng những đòi hỏi hiện nay
Đó là lý do tác giả chọn đề tài “Hoàn thiện công tác quản lý thuế
TNCN trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng” cho luận văn thạc sỹ của mình
2- Tình hình nghiên cứu:
Trên cơ sở lý luận cũng như thực tiễn áp dụng của thuế TNCN trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng Bước đầu tổng kết những thành quả đã đạt được và đánh giá thực trạng công tác quản lý thuế TNCN trong thời gian vừa qua Nhìn thấy những gì đã làm được cũng như những yếu kém còn tồn tại để trong thời gian tới đây có những điều chỉnh phù hợp Phát huy những mặt tích cực, khắc phục những tồn tại để thuế TNCN thực sự trở thành công cụ hữu hiệu động viên nguồn thu cho NSNN và đáp ứng những thay đổi trong quá trình hội nhập kinh tế hiện nay Để hoàn thiện công tác quản lý thuế TNCN, huy động nhiều hơn và hợp lý hơn nữa TNCN cho nhà nước, góp phần thực hiện công bằng
xã hội, ngành thuế và các cơ quan liên quan phải tìm các giải pháp thích hợp nhằm đảm bảo hệ thống quản lý thuế TNCN trở thành một hệ thống quản lý thuế hiện đại và khoa học, khắc phục được những vướng mắc, tồn tại
Tác giả đã tiếp cận một số luận văn thạc sỹ nghiên cứu, đánh giá về chính sách thuế Thu nhập cá nhân trong nước như: Bùi Công Phương (2011),
Kiểm soát thuế TNCN đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công tại các tổ chức chi trả thu nhập do Cục Thuế TP Đà Nẵng thực hiện, Luận văn thạc sỹ
Quản trị kinh doanh, Trường Đại học Đà Nẵng; Nguyễn Bá Hưng (2010),
Phân tích nhân tố ảnh hưởng đến nguồn thu thuế TNCN của Việt Nam, Luận
văn thạc sỹ kinh tế, Trường Đại học kinh tế TP.Hồ Chí Minh; Vũ Đình Trọng
(2005), Giải pháp hoàn thiện hệ thống chính sách thuế Việt Nam trong tiến
Trang 9trình hội nhập với hệ thống thuế thế giới, Luận văn thạc sỹ kinh tế, Trường
Đại học kinh tế TP.Hồ Chí Minh
3- Mục đích nghiên cứu
- Hệ thống cơ sở lý luận về quản lý thuế TNCN, tổng hợp một số kinh nghiệm quản lý thuế TNCN ở một số quốc gia trên thế giới để rút ra những kinh nghiệm trong quản lý thuế TNCN cho Việt Nam;
- Phân tích đánh giá thực trạng công tác quản lý thuế TNCN trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng nhằm làm rõ những kết quả đã đạt được và nêu lên những hạn chế còn tồn tại
- Đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác quản lý thuế TNCN trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng
4- Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu là quản lý thuế TNCN từ góc độ lý thuyết và thực tế
- Phạm vi nghiên cứu: giới hạn nghiên cứu thực tế và số liệu thu thập
từ công tác quản lý thuế TNCN trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng trong 3 năm
2009, 2010 và 2011
5- Phương pháp nghiên cứu
Tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu: thống kê, đối chiếu, phân tích, so sánh, tổng hợp, khảo sát người nộp thuế, kết hợp lý luận với thực tiễn
để xác định và giải quyết những vấn đề đặt ra Trên cơ sở kết hợp giữa lý luận
và thực tiễn, đi từ cái chung tới cái riêng, từ chi tiết đến tổng hợp, có sử dụng các tài liệu, số liệu, biểu đồ để phân tích một cách khách quan, toàn diện nhằm nghiên cứu, thực hiện đề tài
6- Những đóng góp mới của luận văn
Đề tài này có ý nghĩa thực tiễn về mặt nghiên cứu và nâng cao nguồn thu NSNN trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng, như sau:
- Phân tích, đánh giá thực trạng nguồn thu thuế TNCN trong thời gian qua Từ đó, thấy được những thành tựu đạt được cũng như những hạn chế, tồn tại cần sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với tình hình thực tiễn
Trang 10- Chỉ ra được các thành phần tác động đến nguồn thu thuế TNCN, qua
đó xác định được nguyên nhân làm thất thu thuế TNCN trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng trong thời gian qua
- Nghiên cứu này cũng đề xuất những giải pháp, kiến nghị cần thiết theo từng nhóm nhân tố ảnh hưởng để nâng cao nguồn thu thuế TNCN trong thời gian tới
7- Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được chia làm 3 chương
Chương 1 Quản lý thuế TNCN – cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương 2 Thực trạng công tác quản lý thuế TNCN trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng
Chương 3 Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thuế TNCN trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng
Trang 11CHƯƠNG 1 QUẢN LÝ THUẾ TNCN – CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Thuế TNCN và công tác quản lý thuế TNCN
1.1.1 Đặc điểm, vai trò thuế TNCN
1.1.1.1 Khái niệm và đặc điểm thuế TNCN
a Khái niệm thuế TNCN
Thuế vừa là phạm trù kinh tế, vừa là phạm trù lịch sử Lịch sử xã hội loài người đã chứng minh rằng thuế ra đời là một tất yếu khách quan, gắn với
sự hình thành và phát triển của nhà nước Để duy trì sự tồn tại đồng thời với việc thực hiện các chức năng của mình, nhà nước cần có nguồn vật chất để thực hiện những chỉ tiêu có tính chất xã hội Bằng quyền lực chính trị, nhà nước thu một bộ phận của cải xã hội để có được nguồn vật chất đó Quan hệ thu, nộp những nguồn vật chất này chính là thuế
Thuế là một hình thức huy động nguồn tài chính cho Nhà nước đã có
từ lâu đời Khi Nhà nước ra đời, thuế trở thành công cụ để Nhà nước có được nguồn thu nhằm trang trải các chi tiêu của Nhà nước Trải qua quá trình phát triển lâu dài và cho đến nay, Nhà nước đều sử dụng thuế để điều tiết các khoản thu nhập và huy động nguồn thu cho nhà nước Nhà nước dùng quyền lực của mình ban hành các luật thuế để bắt buộc dân cư và các tổ chức kinh tế đóng góp cho Nhà nước Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác đã khẳng định, một trong những quyền lực công của Nhà nước là thu thuế
Qua đó, cho thấy thuế là một khoản thu của NSNN mang tính bắt buộc, không mang tính hoàn trả trực tiếp và được pháp luật quy định đối với các tổ chức kinh tế xã hội cũng như mọi thành viên trong xã hội
Căn cứ theo tính chất điều tiết thì thuế được chia thành hai loại là thuế trực thu và thuế gián thu Trong các loại thuế trực thu, thuế TNCN ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc tạo nguồn thu đối với NSNN
Trang 12Bất kỳ một quốc gia nào có nền kinh tế vận động theo cơ chế thị trường đều coi thuế TNCN là một sắc thuế có tầm quan trọng lớn trong việc huy động nguồn thu cho ngân sách và thực hiện công bằng xã hội, được coi là loại thuế đặt biệt vì có lưu ý đến hoàn cảnh của các cá nhân có thu nhập phải nộp thuế thông qua việc xác định miễn, giảm thuế hoặc khoản miễn trừ
Vậy ta có khái niệm về thuế TNCN như sau: “Thuế TNCN là một loại thuế trực thu đánh vào thu nhập thực nhận của các cá nhân trong một năm, từng tháng hoặc từng lần phát sinh nhập”
Như vậy, thuế TNCN đã được xếp loại dựa theo tính chất điều tiết, đồng thời đã đưa ra đối tượng tính thuế Tuy nhiên đối tượng tính thuế không phải là mọi khoản thu nhập mà nó được quy định riêng trong chính sách thuế TNCN của mỗi quốc gia
b Đặc điểm thuế TNCN
Thuế TNCN là một hình thức động viên mang tính bắt buộc trên nguyên tắc theo luật định Phân phối khoản thu nhập qua thuế TNCN gắn với quyền lực, sức mạnh của Nhà nước
Thuế TNCN là khoản đóng góp không hoàn trả trực tiếp cho người nộp Nó vận động một chiều, không phải là khoản thù lao mà NNT phải trả cho Nhà nước do được hưởng các dịch vụ Nhà nước cung cấp
Thuế TNCN luôn gắn với chính sách xã hội của mỗi quốc gia tùy thuộc vào mục tiêu của quốc gia cần đạt được Hầu hết các quốc gia đều gắn chính sách thuế TNCN với một số chính sách xã hội khác (như phúc lợi công cộng, chăm sóc sức khỏe…)
Thuế TNCN là một loại thuế trực thu đánh trực tiếp vào thu nhập của mỗi cá nhân Do vậy, NNT cũng là người chịu thuế nên nó phản ánh sự đồng nhất giữa đối tượng nộp thuế theo luật và đối tượng chịu thuế theo ý nghĩa kinh tế NNT không thể chuyển giao gánh nặng cho người khác nên dễ gây phản ứng từ phía NNT vì tính tác động trực tiếp của sắc thuế này Đối tượng
Trang 13chịu thuế sẽ tìm cách trốn thuế do đó công tác quản lý thuế TNCN cần có những biện pháp kiểm tra thích hợp để hạn chế tình trạng này
Thuế TNCN có diện thu thuế rất rộng, tất cả các cá nhân có thu nhập bao gồm: công dân nước sở tại và người nước ngoài cư trú thường xuyên hay không thường xuyên tại nước đó, nguồn thu nhập phát sinh trong nước hay ngoài nước Chính vì vậy, khả năng tạo nguồn thu cho ngân sách của thuế TNCN rất cao
Việc đánh thuế TNCN thường áp dụng theo nguyên tắc thuế suất lũy tiến từng phần, tức phần thu nhập tăng thêm càng cao thì sẽ phải tính thuế suất càng cao Đặc điểm này xuất phát từ vai trò chủ yếu của thuế TNCN là điều tiết mạnh người có thu nhập cao, góp phần thực hiện công bằng xã hội
Xét về góc độ kinh tế, thuế TNCN có tính trung lập cao hơn so với các loại thuế khác vì việc tăng hay giảm thuế TNCN hầu như không ảnh hưởng, biến đổi đến cơ cấu kinh tế
1.1.1.2 Vai trò thuế TNCN
Là một bộ phận của hệ thống thuế, thuế TNCN vừa mang các vai trò chủ yếu của thuế nói chung, vừa có các vai trò riêng mà các loại thuế khác không có được
a/ Đối với nền kinh tế - xã hội
- Tạo lập nguồn tài chính cho NSNN
Thuế là nguồn thu chủ yếu của NSNN phục vụ lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng; trong đó thuế TNCN là một trong những bộ phận quan trọng cấu thành hệ thống thuế nói chung nên cũng góp một phần quan trọng để tạo nguồn thu cho NSNN Thuế TNCN được tính với diện rộng, khả năng tạo nguồn thu cho ngân sách rất lớn Bên cạnh đó, thuế TNCN tác động trực tiếp vào thu nhập của dân cư mà bất kỳ ai cũng đều mong muốn và cố gắng có thu nhập ngày càng cao để nâng cao đời sống vật chất, tinh thần Thuế TNCN luôn có sự gia tăng cùng với sự tăng lên của thu nhập bình quân đầu người
Trang 14- Góp phần thực hiện công bằng xã hội
Nhà nước sẽ sử dụng tiền thuế thu được đầu tư vào xây dựng cơ sở hạ tầng, các công trình phúc lợi từ thành thị đến nông thôn, miền núi; trợ cấp cho người nghèo, những người gặp phải hoàn cảnh khó khăn… Do vậy thực hiện công bằng xã hội là một trong những vai trò quan trọng của thuế nói chung nhưng được thể hiện rõ nét hơn ở thuế TNCN Đã đưa cá nhân kinh doanh (trước thuộc diện chịu thuế TNDN) vào diện nộp thuế TNCN, đảm bảo tính công bằng trong điều tiết thu nhập, cá nhân có thu nhập chịu thuế thì dù thu nhập từ bất kỳ nguồn nào cũng đều được đối xử như nhau, tức là đều chịu thuế TNCN;
Thuế TNCN với việc thực hiện biểu thuế lũy tiến từng phần đã thực hiện được việc điều tiết thu nhập, đảm bảo công bằng trong xã hội người có thu nhập thấp thì chưa phải nộp thuế, người có thu nhập cao hơn thì phải nộp nhiều hơn, người có thu nhập như nhau nhưng có hoàn cảnh khác nhau thì mức nộp thuế khác nhau
- Điều tiết thu nhập, tiêu dùng và tiết kiệm
Thuế TNCN cũng có tác dụng điều tiết vĩ mô đối với nền kinh tế Loại thuế này điều tiết TNCN nên một mặt tác động trực tiếp đến tiết kiệm, mặt khác làm cho khả năng thanh toán của các nhân bị giảm Từ đó cầu hàng hóa, dịch vụ giảm sẽ tác động đến cung hàng hóa, dịch vụ của nền kinh tế
- Góp phần phát hiện thu nhập bất hợp pháp
Thực tế đã chứng minh nhiều khoản thu nhập của một số cá nhân nhận được từ việc thực hiện các hành vi bất hợp pháp hoặc bằng cách lợi dụng những kẽ hở của pháp luật mà Nhà nước không kiểm soát được như tham ô, nhận hối lộ, trốn tránh thuế, buôn bán hàng quốc cấm, lừa đảo chiếm đoạt tài sản của Nhà nước và công dân… Những hành vi này ảnh hưởng rất xấu đến đời sống kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia Phải kết hợp hữu hiệu nhiều biện
Trang 15pháp để ngăn chặn và chống lại những hành vi trên Một trong số các biện pháp ngăn chặn đó thì phải kể đến vai trò của thuế TNCN
Chính nhờ những quy định chặt chẽ về kê khai thu nhập mà rất nhiều khoản thu nhập có nguồn gốc bất minh được làm sáng tỏ và trở thành bằng chứng giúp cơ quan điều tra xác định được tội phạm Như vậy, trong quá trình quản lý thu nộp thuế TNCN, Nhà nước có thể phát hiện những khoản thu nhập bất hợp pháp
b/ Đối với hệ thống thuế
- Góp phần khắc phục nhược điểm của một số loại thuế khác
Một số loại thuế gián thu (thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất nhập khẩu), khi tiêu thụ cùng một lượng hàng hóa, mọi người không phân biệt giàu nghèo đều phải chịu thuế như nhau Các loại thuế này đều có nhược điểm là có tính lũy thoái và ảnh hưởng đến người nghèo nhiều hơn người giàu Như vậy thuế gián thu chưa đảm bảo tính công bằng theo chiều dọc Nếu tính thuế TNCN theo phương pháp lũy tiến từng phần sẽ góp phần chỉ tác động đến người có thu nhập cao khắc phục được nhược điểm này
DN với cá nhân
Trang 16Tóm lại, thuế TNCN đóng vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia Tuy nhiên, vì công tác quản lý thuế TNCN còn nhiều hạn chế: luật thuế còn nhiều kẻ hở, trình độ quản lý thuế còn yếu kém nên những vai trò này vẫn chưa thực sự được phát huy ở những nước đang phát triển
1.1.2 Nội dung cơ bản của thuế TNCN
1.1.2.1 Đối tượng nộp thuế
Một đặc điểm của thuế TNCN là đối tượng chịu thuế cũng đồng thời
là ĐTNT Xác định ĐTNT là một trong những nội dung quan trọng của thuế TNCN, từ đó mới có thể vận dụng cách tính thuế cho phù hợp
Luật thuế TNCN quy định đối tượng nộp thuế TNCN bao gồm cá nhân cư trú có thu nhập phát sinh trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam, không phân biệt nơi chi trả thu nhập; và cá nhân không cư trú có thu nhập chịu thuế
là thu nhập phát sinh tại Việt Nam, không phân biệt nơi chi trả thu nhập
* Cá nhân cư trú là người đáp ứng một trong các điều kiện sau:
- Có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên tính trong một năm dương lịch hoặc trong 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam;
- Có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam theo một trong hai trường hợp:
có nơi ở đăng ký thường trú theo quy định của pháp luật về cư trú hoặc có nhà thuê để ở tại Việt Nam theo quy định của pháp luật về nhà ở, với thời hạn của hợp đồng thuê từ 90 ngày trở lên trong năm tính thuế
* Cá nhân không cư trú là người không đáp ứng điều kiện quy định như cá nhân cư trú
1.1.2.2 Đối tượng tính thuế
Việc xác định đối tượng tính thuế có thể cho thấy loại thuế TNCN mà từng nước cụ thể áp dụng có công bằng không, thuế này tạo được nguồn thu như thế nào cho NSNN, đó là một trong những vấn đề quan trọng hàng đầu được đề cập đến trong chính sách thuế TNCN của các nước
Trang 17Đối tượng tính thuế là một số khoản thu nhập nằm trong diện tính thuế TNCN theo quy định trong chính sách thuế TNCN của từng quốc gia Việc quy định khoản thu nhập nào phải tính thuế, khoản nào không phải tính thuế, mức độ cao hay thấp phụ thuộc vào quan điểm của mỗi chính phủ, vào mục tiêu điều tiết thu nhập cũng như các mục tiêu kinh tế, chính trị xã hội khác của mỗi quốc gia trong từng điều kiện, hoàn cảnh cụ thể (Phụ lục 1)
tư vốn; thu nhập từ chuyển nhượng vốn, trừ thu nhập từ chuyển nhượng chứng khoán; thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản; thu nhập từ nhượng quyền thương mại; thu nhập từ thừa kế; thu nhập từ quà tặng;…
Đối với cá nhân không cư trú: kỳ tính thuế được tính theo từng lần phát sinh thu nhập áp dụng đối với tất cả thu nhập chịu thuế
Trang 184 triệu đồng/tháng; mức giảm trừ cho mỗi người phụ thuộc mà NNT có trách nhiệm nuôi dưỡng là 1,6 triệu đồng/tháng), các khoản đóng góp vào quỹ từ thiện, quỹ nhân đạo, qũy khuyến học Còn với cá nhân không cư trú thường không quy định các khoản giảm trừ
Riêng thu nhập tính thuế khác sẽ là phần giá trị nhận được vượt trên một mức thu nhập ấn định tùy vào mỗi loại thu nhập cũng như tùy vào quy định của mỗi nước
b Biểu thuế suất
Hiện nay, Luật thuế TNCN của các nước sử dụng kết hợp thuế suất thuế TNCN được xác định theo thuế suất lũy tiến từng phần và thuế suất theo
tỷ lệ quy định cho từng nguồn thu nhập
Đối với thu nhập thường xuyên của cá nhân cư trú thì áp dụng theo thuế suất lũy tiến từng phần Còn các loại thu nhập chịu thuế còn lại thì áp dụng thuế suất theo tỷ lệ với mức thuế suất khác nhau áp dụng cho từng loại thu nhập và từng loại đối tượng (Phụ lục 2, 3)
Thông thường, các mức thuế suất áp dụng cho cá nhân không cư trú cao hơn đối với cá nhân cư trú
1.1.2.5 Giảm thuế
Những đối tượng nộp thuế TNCN nhưng gặp khó khăn do thiên tai, hoả hoạn, tai nạn, bệnh hiểm nghèo ảnh hưởng đến khả năng nộp thuế thì được xét giảm thuế TNCN tương ứng với mức độ thiệt hại, nhưng không vượt quá số thuế phải nộp
- Căn cứ xét giảm thuế là tổng số thuế TNCN mà đối tượng nộp thuế phải nộp trong năm tính thuế, gồm: Thuế TNCN đã nộp hoặc đã khấu trừ đối với các khoản thu nhập chịu thuế, hoặc thuế TNCN phải nộp đối với thu nhập
từ kinh doanh và thu nhập từ tiền lương, tiền công
Trang 19- Căn cứ để xác định mức độ thiệt hại được giảm thuế là tổng chi phí thực tế để khắc phục thiệt hại, trừ đi các khoản bồi thường nhận được từ cơ quan bảo hiểm (nếu có), hoặc từ tổ chức, cá nhân gây ra tai nạn (nếu có)
- Số thuế giảm được xác định như sau: Nếu số thuế phải nộp trong năm tính thuế lớn hơn mức độ thiệt hại, thì số thuế giảm sẽ bằng mức độ thiệt hại Nếu số thuế phải nộp trong năm tính thuế nhỏ hơn mức độ thiệt hại thì số thuế giảm sẽ bằng số thuế phải nộp
1.1.3 Mục tiêu và nội dung quản lý thuế TNCN
1.1.3.1 Mục tiêu nguyên tắc quản lý thuế TNCN
Quản lý thuế được xem như là một trong những nội dung quan trọng của quản lý tài chính Nhà nước Tùy theo yêu cầu của Nhà nước trong từng giai đoạn cụ thể mà các quốc gia có thể đặt ra các mục tiêu khác nhau khi tiến hành quản lý thuế Tuy nhiên, nhìn chung quản lý thuế và cải cách quản lý thuế TNCN thường nhằm đạt được các mục tiêu cơ bản sau:
Thứ nhất: quản lý thuế TNCN đảm bảo nguồn thu từ thuế phải được
tập trung một cách chính xác, đầy đủ, kịp thời cho ngân sách quốc gia
Đảm bảo nguồn thu từ thuế là mục tiêu quan trọng hàng đầu của công tác quản lý thuế Tuy nhiên, không có nghĩa là Nhà nước cần tăng thu thuế bằng mọi giá để đảm bảo nhu cầu của mình, và cải cách thuế cũng không có nghĩa là đưa ra các biện pháp để tăng thu thuế Trong thời kỳ hội nhập kinh tế, một tỷ lệ thu thuế hợp lý và ổn định sẽ tăng tính cạnh tranh và kích thích nền kinh tế phát triển hiệu quả, đồng thời, có thể đảm bảo nhu cầu chi tiêu của Nhà nước Để đạt được mục tiên này, mỗi quốc gia phải xây dựng cho mình một hệ thống chính sách thuế khoa học, một tỷ lệ động viên hợp lý và đi kèm với nó là các biện pháp quản lý hiệu quả và phù hợp với điều kiện tình hình thực tế
Thứ hai: quản lý thuế TNCN phải nhằm nâng cao tính hiệu qủa và tính
hiệu lực của quản lý nói chung
Trang 20Tính hiệu quả trong quản lý thuế cùng với việc xem xét về khía cạnh
“khoảng cách tuân thủ” còn phải xem xét đến khía cạnh chi phí quản lý thuế đối với ĐTNT cũng như đối với cơ quan thuế Chi phí quản lý thuế bao gồm chi phí tuân thủ pháp luật về thuế và các chi phí thu và nộp thuế Nâng cao tính hiệu quả của quản lý thuế ở một khía cạnh nào đó chính là tiết kiệm chi phí tuân thủ luật thuế của các tổ chức, cá nhân nộp thuế và tối thiểu hóa chi phí quản lý thu thuế của cơ quan thuế sao cho hoạt động thu nộp thuế được tiến hành một cách trôi chảy nhất Chi phí trực tiếp của cơ quan thuế bao gồm các chi phí duy trì hoạt động của cơ quan thuế Yêu cầu đặt ra là quản lý thuế phải xây dựng, tổ chức bộ máy thuế gọn nhẹ, quy trình, thủ tục thu thuế phải đơn giản, rõ ràng; đội ngũ công chức thuế làm việc có năng suất và chất lượng cao
Thứ ba: quản lý thuế TNCN phải có tác động tích cự đến sự phát triển
kinh tế, đảm bảo nuôi dưỡng nguồn thu, phát huy vai trò tích cực của hệ thống thuế trong đời sống kinh tế - xã hội
Khi Nhà nước đánh thuế tất yếu dẫn đến những ảnh hưởng đến thu nhập, tiêu dùng, tiết kiệm và đầu tư trong xã hội Tùy theo mức độ phù hợp của chính sách và biện pháp quản lý thuế mà ảnh hưởng đó có thể là tích cực hay tiêu cực đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội Mục tiêu khi tiến hành cải cách quản lý thuế là lựa chọn, áp dụng các biện pháp phù hợp để phát huy tính tích cực của hệ thống thuế, đảm bảo nền kinh tế phát triển ổn định, đảm bảo công bằng xã hội Có quản lý tốt mới đảm bảo công bằng cho các ĐTNT khi thực hiện nghĩa vụ của mình, đồng thời, nó cũng là cơ sở để thu hút đầu tư nước ngoài nhằm tăng trưởng kinh tế
Thứ tư: quản thuế TNCN phải đảm bảo sự tuân thủ pháp luật, giảm
thiểu được các hành vi vi phạm pháp luật và phản ánh kịp thời các yêu cầu của xã hội, các bất cập trong chính sách để có sự điều chỉnh kịp thời
Trang 21Trong nền kinh tế thị trường, ý thức chấp hành luật pháp của các tổ chức kinh tế và dân cư sẽ có ảnh hưởng không nhỏ đến việc thực hiện những tác động vào nền kinh tế ở tầm vĩ mô của Nhà nước thông qua công cụ luật pháp Qua công tác tổ chức thực hiện và thanh tra việc chấp hành các luật thuế nói chung và thuế TNCN nói riêng, cùng với việc tăng cường tính pháp chế của chính sách thuế, ý thức chấp hành chính sách thuế sẽ được nâng cao,
từ đó tạo thói quen “sống và làm việc theo pháp luật”
Tuy nhiên, để đảm bảo tính tuân thủ cao thì hệ thống chế tài pháp luật quy định nó phải chuẩn mực Vì vậy, khi tiến hành cải cách quản lý thuế cũng đồng thời phải xây dựng một kênh thông tin để hoàn thiện hệ thống pháp luật thuế, đảm bảo sự phù hợp và đáp ứng yêu cầu thực tiễn
Để đạt được các mục tiêu nêu trên, quản lý thuế TNCN cần tuân thủ theo những nguyên tắc cơ bản sau:
Nguyên tắc tập trung dân chủ: Hệ thống thuế được kết hợp bởi nhiều
sắc thuế, các sắc thuế có mỗi quan hệ hết sức chặt chẽ với nhau những lại nhằm những mục tiêu nhất định Quản lý thuế TNCN với những đặc trưng riêng, nhằm đạt được những mục tiêu riêng nhưng không ngoài những mục tiêu chung của cả hệ thống thuế vì vậy, rất cần phải có sự quản lý theo nguyên tắc tập trung dân chủ, một phần để thuận tiện cho công tác quản lý, một phần
để đảm bảo công bằng cho tất cả các ĐTNT Cụ thể, việc cấp MST phải được thực hiện thống nhất trên phạm vi toàn quốc; quy trình quản lý thuế TNCN phải được thực hiện một cách thống nhất, có sự phối hợp chặt chẽ với việc thực hiện các loại thuế khác và có sự tham gia của cả bộ máy quản lý; cách thức xử lý các hành vi vi phạm cũng như việc khen thưởng phải được công khai, dân chủ… Thực hiện nguyên tắc tập trung, dân chủ trong quản lý thuế TNCN được coi là quan trọng nhất, là tiền đề để đạt được các mục tiêu đã đặt
ra
Trang 22Nguyên tắc công khai minh bạch: Thu thuế là một hoạt động tài chính
của Nhà nước có tác động rất lớn đến thu nhập, tiêu dùng, tiết kiệm và đầu tư của ĐTNT Vì vậy, công khai minh bạch trong quản lý thuế là một trong những nguyên tắc hết sức quan trọng nhằm phát huy được vai trò kiểm tra, kiểm soát của nhân dân, hạn chế được tiêu cực phát sinh trong ngành thuế và các chủ thể nộp thuế Quán triệt nguyên tắc này trong quản lý thu thuế có nghĩa là tận dụng trí tuệ của nhân dân trong việc tham gia góp ý xây dựng chính sách thuế, hỗ trợ các biện pháp thu thuế, đồng thời, tuyên truyền, phổ biến rộng rãi cho các ĐTNT hiểu rõ về quyền và nghĩa vụ của mình trong việc thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước Việc công khai những nội dung này một mặt giúp giảm nhẹ công việc cho cán bộ thuế trong việc giải thích, xử lý các
vi phạm, ngược lại, do hiểu biết về quyền và nghĩa vụ của mình, các ĐTNT sẽ thực hiện tốt nghĩa vụ của mình, đồng thời, có thế kiểm soát hoạt động của các cán bộ thuế
Nguyên tắc tiết kiệm, hiệu quả: nguyên tắc này đặt ra một yêu cầu
quan trọng, đó là việc quản lý thuế phải đạt được số thu lớn nhất trong một mức chi phí thấp nhất có thể Chi phí cho việc thực hiện, vận hành hệ thống thuế bao gồm cả chi phí của bộ máy quản lý thuế và chi phí tuân thủ của các ĐTNT Khi hệ thống thuế càng phức tạp thì chi phí vận hành càng lớn và ngược lại, khi hệ thống kế toán được thực hiện tốt chi phí quán lý thuế sẽ giảm Vì vậy, nguyên tắc tiết kiệm hiệu quả phải được quán triệt ngay từ khi xây dựng chính sách thuế TNCN sao cho đơn giản, dễ thực hiện và tiếp tục được duy trì trong quá trình thực hiện chính sách đó
Nguyên tắc phù hợp, đồng thuận: Đây thực sự là một nguyên tắc quan
trọng trong quản lý nói chung, quản lý thuế TNCN nói riêng Do thuế TNCN
có mối quan hệ trực tiếp đến lợi ích của từng người dân, nên bất kỳ một thay đổi hay một quy định nào cũng cần được sự ủng hộ của dân chúng và được sự chỉ đạo thống nhất của các cơ quan quản lý Bên cạnh đó, việc thực thi chính
Trang 23sách thuế phải dựa trên nền tảng vật chất và nguồn lực con người nhất định, phù hợp với thực tiễn và điều kiện kinh tế, xã hội của quốc gia trong giai đoạn
đó để đảm bảo tính khả thi và việc quản lý đạt được hiệu quả cao nhất
1.1.3.2 Nội dung quản lý thuế TNCN
Công tác quản lý thuế TNCN là một phần quan trọng của quản lý tài chính Nhà nước, công tác cần được nhìn nhận từ tầm vĩ mô và phải bao gồm toàn bộ các công việc thuộc các lĩnh vực lập pháp và hành pháp, tư pháp về thu Từ những khái niệm, mục tiêu, nguyên tắc của quản lý thuế nói chung, những đặc trưng cơ bản của thuế TNCN nói riêng, trong phạm vi giới hạn của luận văn, nội dung quản lý thuế TNCN cần được xem xét với những nội dung chủ yếu sau đây:
a Xây dựng mô hình tổ chức bộ máy quản lý thuế TNCN
Xây dựng mô hình tổ chức bộ máy quản lý thuế là nội dung mang tính điều kiện tiên quyết để đưa các luật thuế vào đời sống kinh tế xã hội một cách hiệu quả Các nền kinh tế khác nhau sẽ có những mô hình về bộ máy tổ chức quản lý thuế khác nhau, phù hợp với nguồn lực con người và vật chất mà Nhà nước dành cho việc quản lý thuế phù hợp với trình độ quản lý của mỗi quốc gia trong từng giai đoạn nhất định
Về tổ chức bộ máy quản lý: bộ máy quản lý thuế TNCN được tổ chức
thống nhất từ trung ương đến địa phương Vụ Quản lý thuế TNCN là cơ quan quản lý thuế TNCN ở Trung ương có trách nhiệm xây dựng hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về thuế TNCN Đề xuất, hướng dẫn quy trình, kỹ năng, nghiệp vụ quản lý thuế TNCN; chỉ đạo, kiểm tra các đơn vị quản lý thuế TNCN các cấp; tổng hợp, phân tích và phối hợp với các đơn vị chức năng thực hiện các công tác triển khai thực hiện và quản lý thuế TNCN Phòng quản lý thuế TNCN các Cục thuế có trách nhiệm xây dựng kế hoạch triển khai, thu thập, phân tích để quản lý các đối tượng trên địa bàn; phối hợp với các đơn vị chức năng thực hiện các công tác triển khai, kiểm tra, thanh tra
Trang 24thuế; báo cáo tình hình thực hiện với cơ quan cấp trên Các đội quản lý thuế TNCN cũng thực hiện các nhiệm vụ của một đơn vị quản lý thuế cấp dưới, với quy mô hẹp hơn, quản lý, bao quát các đối tượng trên địa bàn theo phân cấp quản lý
Vể tổ chức bộ máy xây dựng và triển khai thực hiện: Trong quá trình
quản lý, cơ quan thuế tổ chức bộ máy thành các bộ phận riêng rẽ để thực hiện từng chức năng quản lý chính đối với các loại thuế Đối với thuế TNCN, các đơn vị sẽ thực hiện các chức năng tuyên truyền hỗ trợ, chức năng đăng ký, kê khai, chức năng kiểm tra, chức năng thanh tra, chức năng thu nợ và cưỡng chế thu nợ…
b Tổ chức triển khai thực hiện luật thuế
Tổ chức thực hiện các Luật thuế nói chung, Luật thuế TNCN nói riêng
là nội dung quan trọng trong quản lý thuế Đây được coi là cầu nối quan trọng nhất để triển khai, đưa pháp luật thuế vào cuộc sống Việc tổ chức thực hiện Luật thuế TNCN cũng giống nhu việc thực hiện các Luật thuế khác, bao gồm các nội dung cơ bản sau đây:
Tuyên truyền hỗ trợ ĐTNT
Hoạt động tuyên truyền, hỗ trợ ĐTNT là toàn bộ các hoạt động trợ giúp cho các tổ chức, cá nhân để họ hiểu về chính sách pháp luật thuế và tự nguyện tuân thủ đúng pháp luật về thuế Hoạt động tuyên truyền về thuế là việc sử dụng các hình thức thông tin liên lạc để truyền tải các chính sách, pháp luật về thuế cho ĐTNT nhằm nâng cao hiểu biết về người nộp thuế và cộng đồng xã hội về trách nhiệm cũng như nghĩa vụ của họ Hoạt động hỗ trợ ĐTNT là việc cung cấp các dịch vụ tư vấn, giải pháp vướng mắc cho ĐTNT
để họ có thể hiểu đúng các nội dung chính sách, pháp luật thuế đã quy định trong từng trường hợp cụ thể, nhằm nâng cao tính tuân thủ của các ĐTNT
Tổ chức quản lý ĐTNT và thực hiện thu thuế
Trang 25Đây là nhiệm vụ trọng tâm trong công tác quản lý thuế nói chung, quản lý thuế TNCN nói riêng Quản lý ĐTNT được thực hiện thông qua việc đăng ký ĐTNT và thực hiện việc thu thuế thông qua hàng loạt các nội dung nghiệp vụ như tổ chức xử lý tờ khai thuế - cập nhật số liệu, xử lý các tờ khai thuế, ra thông báo thuế và quản lý hướng dẫn, đôn đốc thu thuế Tuy nhiên, với thuế TNCN, bản chất của nội dung này chính là quản lý được chủ thể tạo
ra thu nhập chịu thuế và quản lý thu nhập chịu thuế
Trong luật thuế TNCN luôn chỉ rõ đối tượng thuộc diện phải nộp thuế Luật thuế quy định nghĩa vụ khác nhau cho các nhóm đối tượng khác nhau ĐTNT ở đây đề cập đến là đối tượng có thu nhập trong một kỳ tính thuế nhất định Cơ sở để tính thu nhập chịu thuế của mỗi đối tượng có ý nghĩa quan trọng về tính công bằng xã hội và có tính liên quan mật thiết với cơ cấu thuế suất
Liên quan đến việc quản lý ĐTNT đó là việc xác định rõ thu nhập chịu thuế được xác định trên cơ sở thường trú hay nguồn phát sinh thu nhập
để từ đó thiết kế việc quản lý ĐTNT cho phù hợp
Phương pháp quản lý thu
Thuế TNCN thường được quản lý theo hai phương pháp là phương pháp khấu trừ tại nguồn và phương pháp thu trực tiếp Tương ứng với mỗi phương pháp thì nội dung và trọng tâm quản lý cung có những điểm khác nhau:
Phương pháp khấu trừ tại nguồn : được áp cho các khoản thu nhập
phát sinh có tính chất ổn định như thu nhập từ lương, bất động sản… Theo phương pháp này, người hoặc CQCT thu nhập phải tiến hành khấu trừ trước
số thuế phải nộp của cá nhân để nộp cho cơ quan thuế, sau đó mới tiến hành chi trả phần còn lại cho người được hưởng Cơ quan hoặc người được ủy nhiệm khấu trừ có thể được trích lại một tỷ lệ thù lao nhất định và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về nghĩa vụ khấu trừ thuế thu nhập trước khi chi
Trang 26trả thu nhập Tuy chi phí hành thu thấp, quy trình quản lý đơn giản nhưng nếu chỉ áp dụng phương pháp này thi mức độ công bằng vì chỉ quản lý và thu được thuế của những khoản thu nhập rõ ràng chính thống, những khoản thu nhập khác có thể bị bỏ qua do không kiểm soát được
Phương pháp thứ hai được sử dụng để thu thuế thu nhập là phương pháp thu trực tiếp Thuế TNCN là thuế đánh vào phần thu nhập của cá nhân,
do đó, để thuế thu nhập được sát đúng với mức thu nhập của từng cá nhân thì người nộp thuế cần tự khai thu nhập của mình Theo phương pháp này, người nộp thuế tự kế khai thu nhập và gửi tờ khai cho cơ quan thuế Cơ quan thuế sẽ xác định số thuế phải nộp dựa trên số liệu kê khai thuế thu nhập, các khoản được phép khấu trừ, giảm trừ … và sự kiểm tra của chính cơ quan thuế Phương pháp này tuy phức tạp nhưng đảm bảo tính chính xác vì nó có khả năng tổng hợp nhiều nguồn thu nhập và có tính đến hoàn cảnh cá nhân của người nộp thuế Tuy nhiên, trong thực tế, phương pháp này chỉ đạt hiệu quả cao với điều kiên người nộp thuế hiểu rõ trách nhiệm và nghĩa vụ nộp thuế của mình Nếu trình độ hiểu biết của người dân còn kém, tính tự giác chưa cao thì việc áp dụng duy nhất phương pháp này trong thực tế là là kém hiệu quả
Đối với phương pháp thu khấu trừ tại nguồn, việc quản lý các khoản thu nhập khác ngoài CQCT chính được coi là trọng tâm quản lý; trong khi đó, đối với phương pháp thu trực tiếp, tính chính xác của các khoản thu nhập kê khai là nội dung cơ bản nhất để công tác quản lý thu nhập chịu thuế của ĐTNT đạt hiệu quả cao nhất
Thanh tra, kiểm tra thuế TNCN
Thanh tra thuế là một nội dung trong quản lý thuế và ngày càng đóng vai trò quan trọng trong quản lý thuế hiện đại Thanh tra thuế có thể được hiểu
là việc kiểm tra xem ĐTNT có kê khai, báo cáo chính xác nghĩa vụ thuế của mình và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ bắt buộc đã đặt ra hay không Nhìn
Trang 27chung, thanh tra thuế sẽ kiểm tra những vấn đề quan trọng nhất để đạt được tính chính xác trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế của ĐTNT
Một số vấn đề cần quan tâm khi tiến hành tranh tra thuế nói chung, thuế TNCN nói riêng đó là cơ chế kê khai thuế hiện đang được áp dụng đối với đối tượng nộp thuế Có hai cơ chế kê khai thuế, đó là cơ chế tự kê khai, tính thuế và cơ chế cơ quan thuế ra thông báo thuế Với cơ chế phát hành thông báo thuế, có thể hiểu là việc cơ quan thuế sẽ xác định thu nhập chịu thuế của ĐTNT thông qua các bảng kê khai của họ và xác định số thuế mà họ phải nộp rồi thông báo cho ĐTNT thông qua các tờ thông báo thuế Với cơ chế này dựa trên nguyên tắc, tất cả các tờ khai của các ĐTNT đều được kiểm tra kỹ lượng trước khi phát hành thông báo về số thuế phải nộp cho ĐTNT Với cơ chế tự kê khai, tự tính, tự nộp thuế, các cá nhân tự tính toán thu nhập của mình, xác định số thuế phải nộp và tự nộp thuế cho nhà nước Trong cơ chế này, các tờ khai thuế được chấp nhận mà không có bất kỳ sự kiểm tra kỹ lượng nào, ngoại trừ những lỗi cơ bản như sai sót trong tính toán, hay khấu từ những khoản không được phép… ĐTNT cứ căn cứ vào tờ khai của mình và nộp thuế Việc kiểm tra tờ khai sẽ được thực hiện ở khâu kiểm tra sau, tức là sau khi nộp thuế, một số tờ khai sẽ được cơ quan thuế lựa chọn ra để kiểm tra dựa trên sự lựa chọn ngẫu nhiên của hệ thống máy tính dựa trên cơ chế quản
lý rủi ro Như vậy, trong cơ chế này công tác thanh tra cần được được chú trọng, đặc biệt là việc nhận biết các rủi ro thường được xây dựng dựa trên những báo cáo kết quả các cuộc thanh tra đã hoàn thành và các vấn đề nảy sinh trong quá trình thanh tra hiện tại
Cưỡng chế thuế, xử lý các tố tụng về thuế
Cưỡng chế thuế là chế tài áp dụng trong trường hợp ĐTNT cố tình không thực hiện nghĩa vụ về thuế nhằm đảm bảo tăng cường hiệu lực của Luật thuế Trong khi đó, để đảm bảo tính khách quan, công bằng của luật thuế, Nhà nước cần phải mở rộng quyền khiếu nại về thuế Nội dung cụ thể
Trang 28của công tác này bao gồm từ việc cưỡng chế thuế, xử lý các tố tụng về thuế cho đến cả nhiệm vụ cung cấp các dịch vụ pháp lý và giải quyết tranh chấp về thuế như việc đưa các vấn đề ra tòa án, thực hiện các biện pháp xử phạt, thu
nợ thuế…
1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý thuế TNCN
Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý thuế TNCN Mỗi nhân tố đều có thể ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực tùy theo tính chất và trạng thái của nhân tố đó Nhiệm vụ của cơ quan chức năng trong bộ máy nhà nước
là phải nắm rõ sự tác động của nhân tố đó và tìm cách hạn chế nhưng nhân tố ảnh hưởng tiêu cực cũng như phát huy những nhân tố ảnh hưởng tích cực nhằm hoàn thiện công tác quản lý thuế TNCN
1.2.1 Các yếu tố khách quan
1.2.1.1 Chính sách kinh tế vĩ mô và điều kiện kinh tế của mỗi nước
Ở các nước đang phát triển, chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước có những tác động quan trọng đối với công tác quản lý thuế nói chung, công tác quản lý thuế TNCN nói riêng Cụ thể, các giải pháp tăng cường quản lý kinh
tế - xã hội như các giải pháp tăng cường quản lý, giám sát hoạt động đầu tư, hoạt động của thị trường chứng khoán; các quy định công khai tài sản thông qua việc kê khai thu nhập; các giải pháp tăng cường thanh toán không dùng tiền mặt trong nên kinh tế…có tác động tích cực trong việc quản lý và giám sát thu nhập, và do đó, tạo thuận lợi hơn cho công tác quản lý thuế TNCN
Điều kiện kinh tế có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động quản lý thuế TNCN Như đã biết, thuế TNCN đánh trực tiếp vào thu nhập của mỗi cá nhân
Ở các nước phát triển, thu nhập bình quân đầu người cao nên thuế TNCN chiếm một tỷ trọng khá lớn trong tổng thu ngân sách Điều đó đồng nghĩa với việc người dân số trong điều kiện đầy đủ, mức sống cao sẽ có khả năng đóng thuế TNCN cao hơn
1.2.1.2 Hệ thống văn bản pháp quy và tính nghiêm minh của luật thuế
Trang 29Các văn bản pháp quy về thuế là cơ sở pháp lý để hướng dẫn các tổ chức, cá nhân thực hiện nghĩa vụ về thuế và là căn cứ để kiểm tra, xử phạt những trường hợp vi phạm Đặc biệt đối với thuế TNCN, loại thuế có tác động rất lớn đến các ĐTNT thì hệ thống văn bản pháp quy càng đòi hỏi phải chặt chẽ và hoàn chỉnh
Cơ quan quản lý làm việc có hiệu quả, luật pháp được thực hiện nghiêm minh sẽ đảm bảo việc vi phạm luật giảm đi Các ĐTNT cũng như
cơ quan thu thuế sẽ thực hiện nghiêm túc hơn các quy định trong luật thuế bởi họ biết rằng khi vi phạm họ nếu bị phát hiện sẽ không tránh khỏi những hình phạt Như vậy, công tác quản lý thuế TNCN sẽ đạt được hiệu quả cao
1.2.1.3 Phương thức thanh toán và ý thức trong dân cư
Phương pháp thanh toán chủ yếu trong dân cư ảnh hưởng lớn tới khâu quản lý thu thuế và thanh, kiểm tra thuế Nếu như các khoản thu nhập được thanh toán qua hệ thống ngân hàng dưới hình thức tài khoản cá nhân thì sẽ rất thuận tiện cho cơ quan thuế Cơ quan thuế có thể áp dụng phương pháp thu thuế TNCN thông qua hệ thống ngân hàng, điều này vừa giúp giảm bớt công việc và chi phí cho cơ quan thuế, vừa kiểm soát chặt chẽ hơn thu nhập của ĐTNT Còn nếu các khoản thanh toán chủ yếu bằng tiền mặt sẽ gây khó khăn cho cơ quan thuế trong việc xác định chính xác mức thu nhập của từng ĐTNT Điều đó dẫn tới việc tính thuế không chính xác, kết quả là không thu đúng, thu đủ thuế cho NSNN Chính vì vậy, sự phát triển của hệ thống ngân hàng đi kèm với việc phát triển hình thức thanh toán qua tài khoản sẽ là một điều kiện tất yếu để có thể thực hiện tốt công tác quản lý thuế TNCN
Bên cạnh đó trình độ hiểu biết của dân cư về thuế TNCN là một trong những điều kiện quan trọng để thực hiện hoạt động quản lý thuế TNCN Nếu người dân nắm được chính sách thuế, có ý thức tuân thủ pháp luật thuế và
Trang 30thực hiện theo các yêu cầu đã đặt ra sẽ giúp công tác quản lý thuế của cơ quan thuế trở nên dễ dàng, thuận lợi hơn
1.2.1.4 Cơ sở vật chất của ngành thuế
Nhân tố này có ảnh hưởng mạnh mẽ tới công tác quản lý chịu thuế TNCN Những quy định trong chính sách về ĐTNT, thu nhập chịu thuế (rộng hay hẹp), phương pháp kê khai, nộp thuế, quyết toán thuế….phụ thuộc rất nhiều vào khả năng đáp ứng của ngành thuế trong công tác quản lý thu thuế Khả năng này lại phụ thuộc rất lớn vào cơ sở vật chất của ngành thuế Một hệ thống thu thuế được kết nối bằng mạng nội bộ sẽ là một nhân tố rất hữu ích cho cơ quan quản lý thuế trong việc quản lý thu thuế hiệu quả, chính xác, kịp thời và tiết kiệm chi phí Việc xây dựng mạng thông tin nội bộ để quản lý cơ
sở dự liệu sẽ đòi hỏi những chi phí bước đầu tương đối lớn, nhưng xét về dài hạn thì điều này sẽ tiết kiệm chi phí hơn rất nhiều so với việc quản lý dự liệu theo kiểu thủ công
1.2.2 Các yếu tố chủ quan
1.2.2.1 Trình độ và phẩm chất đạo đức của đội ngũ cán bộ thuế
Trình độ đội ngũ cán bộ thuế đóng vai trò rất quan trọng trong công tác quản lý thuế, đặc biệt là thuế TNCN Nhân tố này tác động vào tất cả các khâu của công tác quản lý thuế TNCN, từ ban hành chính sách,
tổ chức thực hiện chính sách tới tổ chức bộ máy quản lý thuế, thanh tra, kiểm thuế
Để có thể ban hành những chính sách thuế đúng đắn, đáp ứng được yêu cầu của những thay đổi kinh tế xã hội và đảm bảo những mục tiêu của công tác quản lý thuế TNCN thì đội ngũ cán bộ thuế ở tầm hoạch định chính sách cần phải có trình độ cao về vấn đề thực tế cũng như lý thuyết liên quan đến thuế, kinh tế vĩ mô và quản lý nhà nước…và phẩm chất đạo đức tốt, tâm huyết với công việc
Trang 31Một đội ngũ cán bộ thuế có trình độ và phẩm chất đạo đức tốt mới có
đủ khả năng làm một tuyên truyền giỏi và nhiệt huyết về thuế, đồng thời không phạm phai sai lầm trong quá trình thực hiện các nghiệp vụ cụ thể về tính thuế, quyết toán thuế…
Công tác thanh, kiểm tra thuế càng gần một đội ngũ cán bộ có trình
độ cao và phẩm chất đạo đức tốt để đủ khả năng phát hiện những sai phạm và thái độ công minh, chính trực trong qua trình thanh, kiểm tra Nhờ đó thanh, kiểm tra mới đạt được hiệu quả mong muốn
Đội ngũ cán bộ lãnh đạo làm công tác tổ chức thiết lập nên bộ máy quản lý thuế phải có đủ năng lực và phẩm chất để xây dựng một bộ máy phù hợp với những điều kiện kinh tế xã hội và có hiệu quả cao
1.2.2.2 Bộ máy và quy trình quản lý thu TNCN
Là một bộ phận của hoạt động quản lý thuế nói chung, hoạt động quản
lý thuế TNCN không phải là nhiệm vụ, chức năng của một phòng ban, đơn vị riêng lẻ mà là sự kết hợp đồng thời của các bộ phận trong quy trình thu thuế cũng như của phòng ban từ trên xuống dưới Quy trình quản lý thu thuế hợp
lý, chặt chẽ, bộ máy quản lý hoạt động thống nhất, đồng bộ là một trong những điều kiện cơ bản để thực hiện tốt công tác quản lý thuế
1.2.2.3 Công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức về thuế
Công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức về thuế giúp người dân kịp thời cập nhật các thông tin, hiểu rõ các quy định và thực hiện chính sách thuế,
từ đó nâng cao hiệu quả của hoạt động quản lý thuế Công tác này càng sâu rộng, người dân càng am hiểu kiến thức về thuế, từ đó hỗ trợ cán bộ thuế trong công tác quản lý Ở các nước có công tác tuyên truyền, giải thích, phổ biến kiến thức thuế rộng rãi và hiệu quả, người dân càng am hiểu kiến thức về thuế, từ đó hỗ trợ cán bộ thuế trong công tác quản lý, như vậy kích thích ý thức tự giác nộp thuế cho NSNN
Trang 321.2 Kinh nghiệm quản lý thuế TNCN trên thế giới và bài học kinh nghiệm phù hợp với Việt Nam
1.3.1 Kinh nghiệm quản lý thuế TNCN trên thế giới
Nghiên cứu xu hướng quản lý thuế TNCN của các nước trong khu vực
và trên thế giới, học tập kinh nghiệm quốc tế để có thể tìm kiếm những kinh nghiệm cho việc quản lý thuế TNCN ở Việt Nam cho giai đoạn trước mắt cũng như sau này
1.3.1.1 Về cơ cấu tổ chức
Tại Hà Lan: cơ cấu tổ chức theo chức năng được thực hiện ở cấp Trung Ương Đồng thời, ở cấp địa phương, việc phân chia công việc được thực hiện theo loại thuế và số lượng ĐTNT đã có những tác động tích cực đối với công tác quản lý thuế như nâng cao tính hiệu quả, cải thiện khả năng kiểm tra, kiểm soát và tăng tính hiệu lực trong hoạt động của cơ quan thuế Cụ thể, việc phân chia thành các bộ phận như kê khai tính thuế, quản lý thu nộp và thanh tra, kiểm tra ĐTNT ở cấp Trung Ương sẽ làm tăng khả năng kiểm tra, kiểm soát Trong khi đó, ở cấp vùng, cơ cấu tổ chức được phân chia theo sắc thuế thu nhập, thuế giá trị gia tăng và một đơn vị phụ trách các ĐTNT lớn Cách phân chia công việc như vậy có thể nâng cao hiệu quả hoạt động của cơ quan thuế do các chuyên gia thuế trong từng lĩnh vực có kiến thức chuyên sâu
sẽ dễ dàng hơn trong việc kiểm tra các tờ khai thuế và giải quyết hàng loạt các vấn đề có liên quan một cách nhanh chóng và hiệu quả hơn
1.3.1.2 Tổ chức triển khai thực hiện luật thuế
Các hình thức hỗ trợ đối tượng nộp thuế
Có rất nhiều loại chương trình cung cấp thông tin cho ĐTNT trên thế giới và Mỹ, Canada, Mexico là những quốc gia có rất nhiều những chương trình như vậy Trung tâm dịch vụ thuế quốc gia Mỹ (Internal Revenue Service
- IRS) đã đưa ra một cuốn sách dày 28 trang liệt kê danh sách các chương trình đã thực hiện Cùng với các chương trình này, về dịch vụ hỗ trợ ĐTNT
Trang 33còn được hiểu với quan điểm rộng hơn bao gồm cả việc cải thiện mẫu tờ khai cung cấp và hướng dẫn các vấn đề trong luật Thuế thông qua các bản tin về thuế và các bản tin cập nhật Nó còn bao gồm cả những dịch vụ được cung cấp bởi các tư vấn thuế cá nhân Nhìn chung, việc hỗ trợ ĐTNT thường có các hình thức sau: Xuất bản các loại sách về thuế; thông qua các phương tiện truyền thông và thông qua các hình thức cung cấp thông tin cho ĐTNT
Các hình thức truyền thông qua xuất bản và qua các phương tiện truyền thông đại chúng được sử dụng đồng thời và rộng rãi nhằm cung cấp các thông tin cho các ĐTNT Có rất nhiều hình thức mà các ĐTNT có thể nhận được thông tin để thực hiện nghĩa vụ của mình: các chương trình tự nguyện, chương trình tuyên truyền hiểu biết, các buổi thảo luận về thuế cho các hộ kinh doanh nhỏ cũng như đóng góp một phần không nhỏ trong việc hỗ trợ ĐTNT thực hiện nghĩa vụ của mình
Sử dụng công nghệ thông tin trong quản lý thuế
Ở Hà Lan, CNTT đóng góp một phần rất quan trọng trong quản lý thuế TNCN Cơ quan thuế và Hải quan Hà Lan có một trung tâm CNTT (B/CICT Belastingdienst/Centrum for infirmatie – en Communicatie Technologie) một trong những trung tâm CNTT hiện đại và lớn nhất Hà Lan Nhiệm vụ chính của Trung tâm này là phát triển, quản lý và điều khiển toàn
bộ hệ thống máy tính mà hơn 31.000 nhân viên thuế đang sử dụng Trung tâm hoạt động của 7 ngày trong tuần 24h/ngày, quản lý một số lượng lớn các thông tin khách hàng vào loại lớn nhất Châu Âu Các thông tin này bao gồm toàn bộ các thông tin tài chính có liên quan đến hàng triệu cá nhân, kể cả các vấn đề liên quan đến việc sử dụng ô tô cũng như công việc kinh doanh của họ
Kê khai thuế
Xuất phát từ những quy định về chính sách thuế, những quy định về
kê khai nộp thuế ở các nước khác nhau thì thời gian kê khai và đơn vị tính thuế cũng khác nhau
Trang 34* Đối với đối tượng thường trú
Mọi cá nhân có thu nhập tại Thái Lan trong năm tính thuế đều phải có
ý nghĩa vụ kê khai và nộp tờ khai thuế TNCN cho cơ quan Thuế chậm nhất vào ngày 31/3 hàng năm Thuế đối với thu nhập từ định giá tài sản phải nộp ngay vào thời điểm kê khai thuế
Tại Trung Quốc: tất cả các ĐTNT, bao gồm cả những đối tượng có thu nhập phát sinh trong nước không thuộc diện nộp thuế theo phương pháp khấu trừ tại nguồn và những đối tượng nhận được thu nhập từ nước ngoài phải thực hiện kê khai thuế TNCN hàng tháng và nộp các loại thuế có liên quan cho cơ quan thuế địa phương Tờ khai thuế phải được nộp cho cơ quan thuế trong vòng 7 ngày sau khi hết tháng Các ĐTNT có thu nhập từ nước ngoài phải kê khai và nộp thuế trong thời hạn 30 ngày kể từ khi kết thúc năm dương lịch
* Đối với đối tượng không cư trú
Cũng như các đối tượng cư trú khác, hều hết các quốc gia đều quy định đối tượng không cư trú thuộc đối tượng chịu thuế TNCN cũng phải nộp
tờ khai thuế TNCN cho cơ quan thuế Mẫu tờ khai cho đối tượng không cư trú được thiết kế riêng trong đó có những tiêu thức xác định rõ thời gian và thu nhập phát sinh tại nơi không cư trú Thời hạn nộp tờ khai thuế có thể là hàng tháng như Trung Quốc Tuy nhiên, một số quốc gia như Thái Lan lại quy định người không cư trú là ĐTNT khấu trừ tại nguồn không cần thiết phải kê khai TNCN trừ khi cơ quan thuế có yêu cầu Như vậy, tùy theo yêu cầu quản lý của mỗi quốc gia mà quy định kê khai và nộp tờ khai thuế TNCN của các đối tượng không cư trú cũng khác nhau tuy nhiên, có một điểm chung là các quốc gia đều cố gắng tạo điều kiện thuận lợi cho ĐTNT mà vẫn đảm bảo thu được thuế của những đối tượng này
Nộp thuế
Trang 35Phương thức quản lý thu nộp bao gồm 2 hình thức cơ bản đó là nộp trực tiếp và khấu trừ tại nguồn
Tại Hà Lan, việc khấu trừ thuế tại nguồn được thực hiện với thuế thu nhập từ lương và thu nhập từ cổ tức Chỉ những cá nhân có thu nhập khác ngoài lương như thu nhập từ lãi tiền gửi, thu nhập từ làm việc tại nhà phải kê khai thuế TNCN
Tại Sigapore, ĐTNT có thể nộp tại cơ quan thuế dưới hình thức tiền mặt, séc, mạng lưới: ĐTNT cũng có thể nộp thuế tại bưu điện, ngân hàng, hoặc các máy tự phục vụ Tại Singapore hiện có phương pháp nộp thuế trả dần trong 12 tháng mà không mất lãi, còn được gọi là chương trình GIRO Theo chương trình này, tất cả các ĐTNT có tài khoản tiết kiệm hoặc tài khoản tiền gửi tại bất kỳ ngân hàng chính nào hoặc tại các công ty tài chính có tham gia vào hệ thống GIRO liên ngân hàng đều có thể đăng ký nộp thuế theo chương trình này Việc áp dụng chương trình này đã giúp giảm bớt khối lượng công việc cho các cán bộ thuế, tiết kiệm thời gian và công sức kê khai, nộp thuế của các ĐTNT, số thuế được nộp vào NSNN một cách ổn định, thường xuyên hơn Đây thực sự là một phương thức quản lý thu nộp tiên tiến
và hiệu quả, không chỉ được áp dụng cho thuế TNCN mà còn có thể áp dụng được cho nhiều loại thuế khác như TNDN
Thanh tra, kiểm tra thuế
Đối với tất cả các quốc gia, công tác quản lý chặt chẽ dựa trên việc điều tra, thanh tra đóng một vai trò không thể thiếu Một hệ thống thanh tra, kiểm tra hiệu quả sẽ góp phần nâng cao tính tuân thủ của các ĐTNT mang lại hiệu quả cho công tác quản lý thuế
Tại Hà Lan, các cá nhân có thể kê khai nộp tờ khai thuế của họ theo
2 cách: thông qua mạng Internet hoặc thông qua tờ khai trên giấy Trong hầu hết các trường hợp, tờ khai của cá nhân ĐTNT được xử lý ngay lập tức và được kiểm tra một cách tự động Tuy nhiên, trong một số trường hợp, cơ
Trang 36quan thuế và Hải quan có thể mời cá nhân nào đó để làm rõ hơn các vấn đề trong tờ khai của họ Công tác quản lý thuế ở Hà Lan có sự hỗ trợ của một trung tâm đầy quyền lực có tên FIOD-ECD (Fiscale Inlichtingen-en Opsporingsdienst en Ecinomische Controledienst) một trung tâm dịch vụ điều tra thuộc cơ quan Thuế và Hải quan, trung tâm này có các nhiệm vụ chính sau:
- Đấu tranh chống lại các hành vi gian lận kinh tế, tài chính và gian lận thuế thông qua các vụ kiện mang tính hình sự;
- Bảo vệ khách hàng;
- Đấu tranh chống lại các tội phạm có tính tổ chức;
- Thực hiện các cuộc điều tra để báo cáo về bản chất của các chi nhánh thương mại;
Nếu cơ quan thuế nghi ngờ có hành vi gian lận thuế, họ sẽ chuyển trường hợp này cho FIOD-ECD Cơ quan này sẽ điều tra, đánh giá xem có phải là gian lận không Nếu thực sự là hành vi gian lận, FIOD-ECD sẽ thảo luận với cơ quan dịch vụ khởi tố công (Public Prosecution Service) xem có bắt đầu một cuộc điều tra tội phạm không Kết quả điều tra cuối cùng sẽ được thông báo trong văn bản chính thức
Bên cạnh sự hoạt động hiệu quả của trung tâm FIOD-ECD, công tác thanh tra, kiểm tra thuế TNCN ở Hà Lan còn có sự hỗ trợ hiệu quả của trung tâm xử lý và phát triển các sản phẩm (B/CCP) thông qua cơ chế phân tích rủi
ro tiềm năng của mình để cơ quan thuế tập trung kiểm tra nhằm hạn chế đến mức thấp nhất tình trạng trốn lậu thuế
Bên cạnh sự trợ giúp của hai trung tâm trên, chính sách xử phạt nghiêm khắc và công khai cũng là nhân tố quan trọng cải thiện tính tuân thủ của các ĐTNT Chính sách xử phạt ở Hà Lan được chia thành hai nhóm đối tượng: Nhóm các đối tượng nộp tờ khai thuế chậm và nhóm các đối tượng kê khai thuế không chính xác Với nhóm thứ nhất, mức xử phạt thay đổi theo
Trang 37năm từ 1 năm đến 5 năm Trong khi đó, nhóm thứ hai có thể bị xử phạt từ 25% đến 100% số thuế phải nộp Do mức xử phạt nghiêm khắc kết hợp với cơ hội bị phát hiện là rất lớn do sự hoạt động hiệu quả của 2 trung tâm nên tính tuân thủ của ĐTNT là rất cao, và do đó, quản lý thuế TNCN cũng hiệu quả hơn
1.3.2 Bài học kinh nghiệm phù hợp áp dụng cho Việt Nam
Việc kê khai thuế thường được thực hiện theo năm dương lịch với các mẫu khác nhau cho các đối tượng khác nhau và thời hạn nộp tờ khai thuế thường được kéo dài ba tháng
Hầu hết các nước đều chia việc kê khai nộp thuế theo đối tượng thường trú hoặc không thường trú Đối với đối tượng thường trú, việc kê khai thuế TNCN được thực hiện theo năm tài chính, thường là năm dương lịch Đối với đối tượng không thường trú, việc kê khai thuế được thực hiện ngay khi có phát sinh thu nhập hoặc áp dụng biện pháp khấu trừ tại nguồn mà các
cá nhân không cần phải kê khai
Một kinh nghiệm nữa có thể nhận thấy ở tất cả các quốc gia, đó là tờ khai thuế TNCN có nhiều mẫu khác nhau cho từng đối tượng khác nhau như đối tượng có thu nhập từ làm công ăn lương, từ kinh doanh… và việc kê khai thuế qua mạng ngày càng được mở rộng và phát triển
Thông thường, thời hạn nộp tờ khai thuế thường được kéo dài 3 tháng kể từ khi kết thúc năm tài chính, hầu hết là thường trước ngày 31/3 hàng năm đối với các nước có năm tài chính trùng với năm dương lịch Như vậy, việc kê khai thuế theo năm dương lịch là hợp lý Ở nước ta, do có phong tục nghỉ Tết âm lịch, thường là đầu tháng 2 dương lịch nên thời hạn nộp tờ khai quyết toán thuế kéo dài đến 31/3 là hợp lý để các cá nhân có thời gian chuẩn bị và kê khai
Về phương pháp quản lý thu: hầu hết các nước đều kết hợp áp dụng phương pháp khấu trừ tại nguồn và nộp thuế trực tiếp Với phương pháp khấu
Trang 38trừ tại nguồn, việc khấu trừ tạm nộp thuế hàng tháng, sau đó cuối năm quyết toán thuế được xem là một biện pháp thuận lợi và hợp lý, tuy nhiên với phương pháp nộp thuế trực tiếp, việc tạm nộp hàng tháng có thể gây mất thời gian cho đối tượng nộp Vì vậy, chương trình GIRO mà Singapore hiện đang
áp dụng cũng rất đáng kể chúng ta quan tâm và vận dụng tạm nộp hàng tháng cuối năm quyết toán sẽ nộp nốt số còn lại hoặc được hoàn lại nếu nộp thừa
Công tác thanh tra, kiểm tra thuế được thực hiện dựa trên phương pháp phân tích rủi ro và có một bộ phận chuyên biệt thực hiện công việc này: Đối với thuế TNCN, công tác thanh tra, kiểm tra là hết sức quan trọng Tuy nhiên, do đặc thù của sắc thuế này là số lượng ĐTNT rất lớn nên việc áp dụng cách thức thanh tra thuế cho tất cả các đối tượng là khó có thể thực hiện Vì vậy, việc lựa chọn đối tượng thanh tra dựa trên phương pháp phân tích rủi ro như Hà Lan hiện đang thực hiện là phương pháp đúng đắn và có thể nâng cao hiệu quả của công tác thanh tra Tuy nhiên, công tác thanh tra cũng cần đi liền với các biện pháp xử phạt công minh thì quản lý thuế mới đạt được hiệu quả cao nhất
Tổ chức bộ máy quản lý theo mô hình kết hợp và việc bố trí cán bộ được thực hiện theo mức độ phức tạp của công việc:
Một bộ máy được phân chia theo chức năng sẽ là lựa chọn tốt nhất trong cơ chế các ĐTNT tự kê khai, tự tính, tự nộp thuế Tuy nhiên, do đặc thù
số lượng ĐTNT TNCN rất lớn, nội dung quản lý phức tạp, đòi hỏi phải có mức độ chuyên sâu nhất định nên có thể một mô hình tổ chức quản lý theo chức năng ở cấp Trung Ương và tỉnh / TP kết hợp với mô hình quản lý theo sắc thuế ở các cấp quản lý thấp hơn sẽ là lựa chọn thích hợp hơn cho công tác quản lý thuế TNCN Bên cạnh đó, việc bố trí cán bộ theo mức độ phức tạp của công việc tương ứng với mức lương, thưởng tương xứng cũng là một giải pháp rất hiệu quả trong việc bố trí, sắp xếp cán bộ quản lý
Trang 39Việc cung cấp dịch vụ hỗ trợ ĐTNT cần được mở rộng thông qua các đại lý thuế nhưng cũng cần có các chương trình hỗ trợ tự nguyện
Trong cơ chế tự khai, tự tính, tự nộp, ĐTNT hoàn toàn chịu trách nhiệm về việc tính toán và kê khai thuế của mình Do đó, dịch vụ hỗ trợ ĐTNT cần được coi là một trong những nội dung quan trọng đầu tiên của công tác hoạt động của cơ quan thuế như ở Mỹ, hoặc có thể được cung cấp thông qua các công ty tư vấn thuế, một hình thức hỗ trợ ĐTNT có thể được thực hiện thông qua các hoạt động của cơ quan thuế như ở Mỹ, hoặc có thể được cung cấp thông qua các công ty tư vấn thuế, một hình thức hỗ trợ ĐTNT
có thu phí
Việc phối hợp giữa các cơ quan chức năng trong việc kiểm soát thu nhập là hết sức quan trọng và cần thiết Muốn kiểm soát được tờ khai thuế TNCN cần phải nắm được các thông tin về nguồn thu nhập và việc miễn trừ gia cảnh Vì vậy, các thông tin từ ngân hàng, từ các cơ quan đăng ký nhân khẩu như công an, UBND là hết sức hữu ích Tuy nhiên, vấn đề cốt lõi ở đây
là phải có những quy định mang tính pháp lý bắt buộc trong việc trao đổi thông tin giữa các bên liên quan Thực tiễn của Hà Lan trong vấn đề này là một kinh nghiệm rất đáng để chúng ta tham khảo
Qua tham khảo kinh nghiệm của các nước về thuế TNCN cho thấy thuế TNCN, mặc dù là nguồn thu quan trọng của NSNN nhưng là một sắc thuế có phạm vi điều chỉnh rộng, đụng chạm đến lợi ích kinh tế của từng cá nhân trong xã hội Do vậy, việc áp dụng, thực hiện và quản lý cần phải quan tâm, định hướng chính sách phù hợp để tạo thuận lợi cho NNT và công tác quản lý thuế
Trang 40CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ TNCN
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LÂM ĐỒNG 2.1 Tổ chức quản lý thuế TNCN của tỉnh Lâm Đồng
2.1.1 Quy mô và cơ cấu thuế TNCN của tỉnh Lâm Đồng
Lâm Đồng có diện tích tự nhiên gần 9.750 km2, chiếm gần 3% diện tích tự nhiên của cả nước Độ cao trung bình so với mặt nước biển: 800 – 1.000m, nhiệt độ trung bình từ 18 đến 22 độ C Dân số 1.600.000 người (thống kê 2010), trong đó lao động trong các ngành kinh tế là hơn 700.000 người Dân số trong độ tuổi lao động chiếm tỷ lệ cao Lâm Đồng có 12 đơn vị hành chính gồm: TP Đà Lạt, TP Bảo Lộc và 10 huyện Các tuyến Quốc lộ 20,
27, 28, 55 nối liền Lâm Đồng với vùng Đông Nam Bộ, TP Hồ Chí Minh, các tỉnh thuộc vùng Tây Nguyên, các tỉnh Duyên Hải Nam Trung Bộ, tạo cho Lâm Đồng có mối quan hệ kinh tế - xã hội bền chặt với các vùng, các tỉnh trong khu vực
Lâm Đồng là địa phương có nhiều thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp cả về chất lượng và năng suất, nên đã hình thành và phát triển nhiều vùng chuyên canh cây công nghiệp tập trung, là nơi cung cấp nguyên liệu lớn cho công nghiệp chế biến nông sản Là địa phương có khí hậu thuận lợi phù hợp với điều kiện du lịch nghĩ dưỡng Do còn có lợi thế về đất đai và lực lượng lao động nên Lâm Đồng còn thu hút được nhiều nhà đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực nông nghiệp và đầu tư xây dựng các khu resot, sân golf, nhà hàng, khách sạn
Trong những năm qua, mặc dù gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế thế giới nhưng GDP bình quân đầu người của tỉnh Lâm Đồng đạt mức 25,6 triệu đồng, đạt 111,3% chỉ tiêu đề ra, tăng 23% so với năm 2010 Tổng thu NSNN trên địa bàn đạt 4.140 tỷ đồng, bằng 108,9% dự tóan địa phương và tăng 22% so với năm 2010, chiếm tỷ lệ 13,45% so với