Thực trạng chính sách phân phối thu nhập cá nhân ở Việt Nam thời gian qua

Một phần của tài liệu Chính sách phân phối thu nhập cá nhân ở Việt Nam (Trang 46 - 85)

Phân phối TNCN sao cho công bằng đồng thời vẫn đảm bảo hiệu quả là một vấn đề khó, đặc biệt trên góc độ vĩ mô, bởi chính sách phân phối TNCN có tác động trực tiếp đến quyền lợi, thu nhập và đời sống hàng ngày của mỗi người lao động.

Nếu chính sách phân phối TNCN hoạt động không hiệu quả, khoảng cách giàu nghèo sẽ bị mở rộng, có thể nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp về văn hoá, chính trị, xã hội. Dưới đây trình bày một số chính sách phân phối thu nhập cá nhân ở Việt Nam hiện nay:

2.1.1. Chính sách tiền lương

Tiền lương là hình thức thực hiện của nguyên tắc phân phối theo lao động - nguyên tắc phân phối chủ yếu trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta. Xét từ phía người lao động, tiền lương là nguồn thu nhập chủ yếu, là cơ sở để thoả mãn nhu cầu vật chất và tinh thần của bản thân người lao động và gia đình họ. Tiền lương là nguồn chi chính cho tiêu dùng cuối cùng, tích lũy tài sản, trang trải nợ nần của cá nhân. Dù thu nhập của mỗi cá nhân có thể đến từ nhiều nguồn khác nhƣ tiền gửi tiết kiệm, lợi nhuận kinh doanh, nhận thừa kế, cho thuê đất… và các chính sách tác động đến các lĩnh vực trên nhƣ thuế, chính sách đất đai… cũng tác động tới TNCN nhưng, chính sách tiền lương luôn nhận được sự quan tâm lớn nhất của mỗi người, bởi tiền lương chính là nguồn thu nhập chủ yếu nhất, thường xuyên nhất của hầu hết người lao động. Xét từ người sử dụng lao động, tiền lương là một bộ phận cấu thành của đầu tƣ hay chi phí hoạt động.

Vì thế, chính sách tiền lương có ý nghĩa kinh tế - xã hội đặc biệt quan trọng, tác động tới cả người lao động và người sử dụng lao động. Việc xây dựng và thực hiện một chính sách tiền lương hợp lý, có cơ sở khoa học sẽ đem lại không chỉ hiệu quả trước mắt, mà còn có tác động lâu dài tới nền kinh tế quốc dân. Tăng lương

hợp lý cú thể coi là biện phỏp kớch cầu lành mạnh để thúc đẩy sản xuất phát triển, góp phần vào tăng trưởng chung của nền kinh tế.

Chính sách tiền lương gồm nhiều nội dung, trong phạm vi luận văn này chỉ xem xét chính sách lương tối thiểu, hệ thống thang, bảng lương, những nội dung quan trọng nhất mà mọi người lao động đều quan tâm.

Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng chính sách tiền lương. Trong các giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm đến việc cải cách, có những điều chỉnh trong chính sách tiền lương cho phù hợp với điều kiện trong từng thời kỳ nhằm từng bước nâng cao mức sống của người lao động, thúc đẩy phát triển kinh tế và thực hiện công bằng xã hội.

Vào giữa những năm 1980, tiền lương là một vấn đề nóng bỏng trong đời sống xó hội. Tiền lương của cán bộ, công nhân, viên chức không được điều chỉnh tương ứng với mức tăng giá thực tế trên thị trường. Do đó, tiền lương thực tế liên tục giảm sút, không đủ tái sản xuất sức lao động, làm phát sinh nhiều hiện tƣợng tiêu cực. Sự chênh lệch về thu nhập, mức sống giữa các ngành nghề, các vùng và giữa các tầng lớp dân cƣ ngày càng bất hợp lý.

Trong năm 1985, thực hiện Nghị quyết về giá - lương - tiền ngày 17-6-1985 của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ tám khoá V, Nhà nước đã tiến hành cải cách giá - lương - tiền. Mục tiêu đề ra đối với cải cách tiền lương là: Tiền lương thực tế phải thực sự bảo đảm cho người ăn lương sống chủ yếu bằng tiền lương, tái sản xuất được sức lao động và phù hợp với khả năng của nền kinh tế quốc dân. Gắn chặt tiền lương với năng suất, chất lượng, hiệu quả lao động, thực hiện phân phối theo lao động. Thực hiện trả lương bằng tiền có hàng hoá bảo đảm của thị trường có tổ chức, xoá bỏ chế độ cung cấp hiện vật theo giá thoát ly giá trị hàng hoá.

Thực hiện chế độ lương thống nhất trong cả nước có tính đến sự khác biệt hợp lý giữa cỏc vựng, cỏc ngành.

Để thực hiện mục tiêu đã đề ra, Nhà nước tiến hành xoá bỏ bao cấp qua chế độ tem phiếu bằng cách bù giá vào lương. Tiền lương được tính toán theo giá cả thị trường hiện hành với định lượng nhu yếu phẩm tiêu dùng của chế độ bao cấp và

lượng calo cần thiết tối thiểu của người lao động. Chính sách tiền lương mới trong giai đoạn đầu đã có tác dụng kích thích tinh thần hăng hái của người lao động, cải thiện đời sống của họ lên một bước trong điều kiện lúc bấy giờ. Tuy nhiên, cải cách giá - lương - tiền và một loạt chính sách theo hướng tự do hoá giá cả tiếp theo thực hiện trong bối cảnh chƣa định hỡnh đƣợc những chính sách tài chính, tiền tệ thích hợp đó mở ra một giai đoạn lạm phát cao chƣa từng có trong lịch sử kinh tế Việt Nam kể từ khi đất nước thống nhất năm 1975, lên tới hàng trăm phần trăm một năm, và kéo dài tới đầu những năm 1990, chính vì vậy mà tiền lương thực tế đã không ngừng giảm xuống.

Năm 1993, trước yêu cầu của tình hình thực tế, Nhà nước tiếp tục thực hiện cải cách tiền lương: thực hiện chính sách lương tối thiểu. Mục tiêu của chính sách tiền lương tối thiểu năm 1993 là tiền lương tối thiểu nhằm tạo ra lưới an toàn xã hội cho người lao động trong cơ chế thị trường; làm căn cứ để xây dựng hệ thống trả công lao động cho các khu vực, ngành nghề, tính mức lương cho các loại lao động;

làm cơ sở cho việc thoả thuận, ký kết hợp đồng lao động giữa người lao động và người sử dụng lao động.

Mức lương tối thiểu phải bảo đảm cho người lao động làm công việc giản đơn nhất trong điều kiện lao động bỡnh thường bù đắp sức lao động giản đơn và một phần tích luỹ tái sản xuất sức lao động mở rộng. Đó là mức lương được quy định trờn cơ sở cung cầu lao động, khả năng kinh tế và chỉ số giá sinh hoạt theo từng thời kỳ và được dùng làm căn cứ để tính các mức lương cho các loại lao động khác. Khi chỉ số giá sinh hoạt tăng lên làm cho tiền lương thực tế của người lao động bị giảm sút, thỡ Chớnh phủ điều chỉnh mức lương tối thiểu để bảo đảm tiền lương thực tế (Điều 56 Bộ luật Lao động năm 1994, sửa đổi năm 2002 và Nghị định số 114/2002/NĐ-CP ngày 31-12-2002). Như vậy, tiền lương tối thiểu được luật hóa chính là công cụ cơ bản nhất để Nhà nước quản lý tiền lương trong kinh tế thị trường.

Đề án cải cách tiền lương năm 1993 của Chính phủ được kỳ họp thứ hai Quốc hội khoá IX thông qua, theo đó mức lương tối thiểu được áp dụng từ 1-4-

1993 trong khu vực nhà nước là 120 nghìn đồng/tháng/người. Đây là mức lương thấp nhất, không có tiền lương tối thiểu vùng và tiền lương tối thiểu ngành. Trong tiền lương tối thiểu đó có quy định bắt buộc chi cho bảo hiểm xã hội là 5% và bảo hiểm y tế là 1%, còn lại 94% dành để chi cho các loại tiêu dùng khác của cá nhân.

Cơ cấu tiền lương tối thiểu đó tiền tệ húa cỏc khoản phõn phối giỏn tiếp ngoài tiền lương trước đây từ ngân sách cho người lao động như nhà ở, tem phiếu (lương thực, thực phẩm, chất đốt…), thuốc chữa bệnh, tiền học, chi phí đi lại, phân phối một số đồ dùng sinh hoạt cho một số đối tƣợng. Đó là sự đổi mới cơ bản trong chính sách và chế độ tiền lương.

Chế độ tiền lương mới trong những năm đầu cải cách đã góp phần cải thiện thu nhập, đời sống của người làm công ăn lương. Tuy nhiên, cùng với sự tăng trưởng kinh tế, nhu cầu đời sống của người lao động cũng tăng, nhất là giá cả hàng hoá và dịch vụ trên thị trường tăng nhanh hơn tốc độ tăng của thu nhập làm thu nhập thực tế của người lao động bị giảm đi. Mặt khác, chế độ lương mới này, và những cải cách chính sách tiền lương của Nhà nước những năm tiếp theo, được thiết kế để tác động chủ yếu đến khu vực nhà nước (hành chính sự nghiệp, tổ chức chính trị xã hội, doanh nghiệp nhà nước, lực lượng vũ trang…). Nói cách khác, đối tượng áp dụng và phạm vi điều chỉnh chủ yếu của các chính sách tiền lương của Nhà nước là các đối tượng hoạt động trong khu vực nhà nước.

Năm 1998, chỉ số giá tiêu dùng tăng 52% so với tháng 3-1993 nhưng tiền lương tối thiểu mới chỉ đƣợc nâng lên 20% vào năm 1997 khi Chính phủ điều chỉnh mức lương tối thiểu từ 120.000đ/tháng lên 144.000đ/tháng (Nghị định số 06/CP ngày 21-01-1997). Tháng 1-2000, Chính phủ tiếp tục điều chỉnh tăng mức lương tối thiểu áp dụng đối với các đối tượng hưởng lương từ ngân sách lên 180.000đ/tháng (Nghị định số 175/1999/NĐ-CP ngày 15-12-1999) và đến tháng 1-2001 điều chỉnh lên 210.000đ/tháng (Nghị định số 77/2000/NĐ-CP ngày 15-12-2000). Tháng 1/2003, mức lương tối thiểu được điều chỉnh lên 290.000đ/tháng (Nghị định số 03/2003/NĐ-CP ngày 15-01-2003). Từ tháng 10/2005, mức lương tối thiểu là 350.000 đ/tháng (Nghị định số 118/2005/NĐ-CP ngày 16-9-2005). Đến tháng

10/2006, Chính phủ tiếp tục nâng lương tối thiểu lên mức 450.000 đ/tháng (Nghị định số 94/2006/NĐ-CP ngày 07-9-2006).

Ngày 16-11-2007, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 166/2007/NĐ-CP quy định về tiền lương tối thiểu chung là 540.000 đ/tháng, được áp dụng đối với tất cả các ngành, lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội trừ khu vực có vốn đầu tư nước ngoài và tổ chức, người nước ngoài hoạt động tại Việt Nam.

Đối với các DNNN, từ ngày 01-01-1997 ngoài việc áp dụng mức tiền lương tối thiểu chung, Nhà nước cho phép điều chỉnh tăng thêm mức lương tối thiểu theo hệ số ngành và vùng để tính vào đơn giá tiền lương. Cỏc DNNN được áp dụng hệ số điều chỉnh tăng thêm tiền lương tối thiểu không quá 1,5 lần so với mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định để làm cơ sở tính đơn giá tiền lương. Khi áp dụng hệ số điều chỉnh tăng thờm này phải bảo đảm nguyờn tắc khụng làm giảm cỏc khoản nộp ngõn sỏch nhà nước, đặc biệt là khụng giảm lợi nhuận so với năm trước đó thực hiện và phải bảo đảm tốc độ tăng tiền lương thấp hơn tốc độ tăng năng suất lao động. Đối với cỏc doanh nghiệp thực hiện đầy đủ cỏc quy định núi trờn, do yờu cầu cụng việc thường xuyờn phải sử dụng số lao động cú trỡnh độ chuyờn mụn, kỹ thuật cao trờn 50% tổng số lao động trong doanh nghiệp và kế hoạch lợi nhuận xõy dựng cao hơn từ 5% trở lờn so với lợi nhuận thực hiện năm trước liền kề thỡ được ỏp dụng hệ số điều chỉnh tăng thờm tiền lương tối thiểu khụng quỏ 2 lần so với mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định để làm cơ sở tớnh đơn giỏ tiền lương (Nghị định số 28/CP ngày 28-3-1997, Nghị định số 03/2001/NĐ-CP ngày 11-01- 2001 sửa đổi Nghị định 28). Từ tháng 1-2005, mọi DNNN đƣợc ỏp dụng hệ số điều chỉnh tăng thờm khụng quỏ 2 lần so với mức lương tối thiểu chung do Chớnh phủ quy định để làm cơ sở tớnh đơn giỏ tiền lương. Khi ỏp dụng hệ số điều chỉnh tăng thờm này cụng ty phải bảo đảm đủ cỏc điều kiện: nộp ngõn sỏch nhà nước theo quy định của phỏp luật; mức tăng tiền lương bỡnh quõn phải thấp hơn mức tăng năng suất lao động bỡnh quõn; lợi nhuận kế hoạch khụng thấp hơn so với lợi nhuận thực hiện của năm trước liền kề, trừ trường hợp đặc biệt theo quy định của Chính phủ (Nghị định số 206/2004/NĐ-CP ngày 14-12-2004). Với những điều chỉnh nói trên, cơ chế trả lương trong các DNNN đó bước đầu tiếp cận với cơ chế thị trường, các

DNNN đó được tự chủ trong việc quyết định mức lương trả cho người lao động dựa trên hiệu quả và chất lượng công việc, nhờ đó kích thích người lao động nâng cao chất lƣợng công việc.

Đối với các tổ chức kinh tế hoạt động theo Luật doanh nghiệp, Luật hợp tác xã, hộ gia đình, trang trại, cá nhân và tổ chức khác của Việt Nam có thuê lao động theo quy định của Bộ luật lao động (không bao gồm doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nước ngoài, tổ chức nước ngoài và cá nhân người nước ngoài tại Việt Nam), người sử dụng lao động không được trả công cho người lao động thấp hơn mức lương tối thiểu do Nhà nước công bố. Khuyến khích người sử dụng lao động trả lương cao hơn mức lương tối thiểu quy định. Mức lương tối thiểu theo vùng cũng được áp dụng để đảm bảo thu nhập của người dân ở những vùng có điều kiện sống khác nhau được đảm bảo. Theo Nghị định số 167/2007/NĐ-CP ngày 16-11-2007 của Chính phủ, áp dụng 3 mức lương tối thiểu theo vùng: mức 620.000 đ/tháng áp dụng với các quận của Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh; mức 580.000 đ/tháng áp dụng cho các huyện của 2 thành phố trên, một số thành phố trực thuộc Trung ƣơng và một số khu vực có kinh tế phát triển; mức 540.000 đ/tháng áp dụng cho các vùng còn lại.

Mới đây nhất, vào ngày 10-10-2008, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 110/2008/NĐ-CP quy định mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm việc ở công ty, doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác, trang trại, hộ gia đình, cá nhân và các tổ chức khác của Việt Nam có thuê mướn lao động thay thế Nghị định số 167.

Theo đó, mức lương tối thiểu vùng dùng để trả công đối với người lao động làm công việc giản đơn nhất trong điều kiện lao động bỡnh thường thực hiện từ 1-1-2009 đƣợc chia làm 4 mức áp dụng cho các vùng nhƣ sau: mức 800.000 đồng/tháng áp dụng đối với doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn thuộc vùng I; mức 740.000 đồng/tháng áp dụng đối với doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn thuộc vùng II; mức 690.000 đồng/tháng áp dụng đối với doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn thuộc vùng III; mức 650.000 đồng/tháng áp dụng đối với doanh nghiệp hoạt động trên các địa bàn thuộc vùng IV. Các doanh nghiệp sẽ căn cứ trên mức lương tối thiểu vùng này để tính đơn giá tiền lương, các mức lương trong thang lương, bảng lương, các loại phụ cấp lương, tính các mức lương ghi trong hợp đồng lao động và thực hiện các

chế độ khác do doanh nghiệp xây dựng và ban hành theo thẩm quyền do pháp luật lao động quy định.

Đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, tổ chức nước ngoài và cá nhân người nước ngoài tại Việt Nam cũng áp dụng mức lương tối thiểu theo vùng đƣợc quy định tại Thông tƣ số 14/2003/TT-BLĐTBXH ngày 30-5-2003 của Bộ Lao động – Thương binh và xã hội, theo đó mức lương tối thiểu không thấp hơn 626.000 đ/tháng đối với các quận của thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh; không thấp hơn 556.000 đồng/tháng đối với các huyện của thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, các quận của thành phố Hải Phòng, thành phố Biên Hoà và thành phố Vũng Tàu; không thấp hơn 487.000 đồng/tháng, đối với các huyện, tỉnh, thành phố còn lại. Chính sách lương tối thiểu theo vùng tiếp tục được quy định tại Nghị định số 168/2007/NĐ-CP ngày 16-11-2007 của Chính phủ. Theo đó, cũng phân chia thành 3 vùng nhƣ trong Nghị định số 167/2007/NĐ-CP và áp dụng mức lương tối thiểu tương ứng là 1.000.000 đ/tháng, 900.000 đ/tháng và 800.000 đ/tháng. Khuyến khích người sử dụng lao động trả lương cao hơn mức lương tối thiểu quy định.

Có thể nói, việc thống nhất mức lương tối thiểu chung trong cả nước, có phân biệt áp dụng theo vùng đã khiến mức tiền lương tối thiểu chung tiếp cận dần nhu cầu mức sống tối thiểu của người lao động và gia đỡnh họ. Việc điều chỉnh tiền lương tối thiểu chung đó bắt đầu dựa trên cơ sở tăng trưởng kinh tế, khả năng chi trả của doanh nghiệp, biến động chỉ số giá linh hoạt, tương quan mức sống giữa các khu vực nông thôn thành thị và các tầng lớp dân cư… Tách tiền lương tối thiểu chung và quy định mức tiền lương thấp nhất cho khu vực hành chính Nhà nước, khu vực sự nghiệp và khu vực sản xuất kinh doanh.

Cựng với chớnh sách lương tối thiểu, đó xõy dựng được hệ thống chính sách về thang lương, bảng lương và phụ cấp lương áp dụng trong nền kinh tế quốc dân.

Hệ số mức lương trong hệ thống thang lương, bảng lương nước ta được xây dựng trên cơ sở hai yếu tố chủ yếu là mức độ phức tạp của lao động và điều kiện lao động. Các yếu tố điều kiện lao động cao hơn mức bỡnh thường có thể tính vào

Một phần của tài liệu Chính sách phân phối thu nhập cá nhân ở Việt Nam (Trang 46 - 85)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(128 trang)