1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Chính sách phân phối thu nhập cá nhân ở việt nam

142 33 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 142
Dung lượng 1,47 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu công nghiệp hóa ở Hàn Quốc và việc vận dụng bài học kinh nghiệm ở Việt Nam, một mặt, học viên muốn tìm hiểu nguyên nhân sự phát triển thần kỳ của Hàn Quốc, một quốc gia có nhi

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

-

HOÀNG VIỆT HÀ

CÔNG NGHIỆP HÓA Ở HÀN QUỐC

VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM

Chuyên ngành: Kinh tế chính trị

Mã số: 60 31 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS.NGUYỄN MẠNH HÙNG

Hà Nội - 2016

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu đƣợc sử dụng trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng Những kết quả trình bày trong luận văn chƣa từng đƣợc công bố trong một công trình nào khác

Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã đƣợc cảm ơn

và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã đƣợc chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả luận văn

Hoàng Việt Hà

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến TS.Nguyễn Mạnh Hùng

đã nhiệt tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này

Tôi xin gửi lời tri ân sâu sắc đến toàn thể các thầy giáo, cô giáo trong Khoa Kinh tế

chính trị, Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội đã quan tâm, tham gia đóng

góp ý kiến và hỗ trợ tôi trong quá trình học tập cũng như quá trình nghiên cứu, giúp tôi có

cơ sở kiến thức và phương pháp nghiên cứu để hoàn thiện luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn tới các cơ quan hữu quan đã hỗ trợ, cung cấp tài liệu, số liệu, tạo điều kiện cho tôi có cơ sở để nghiên cứu hoàn thành luận văn

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình, người thân và những người bạn thân yêu đã luôn quan tâm, động viên, khích lệ và tạo điều kiện tốt nhất cho tôi hoàn thành luận văn này

Hà Nội, ngày 10 tháng 03 năm 2016

Tác giả luận văn

Hoàng Việt Hà

Trang 4

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT i

DANH MỤC BẢNG BIỂU ii

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU; CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ CÔNG NGHIỆP HÓA Ở CÁC NƯỚC 5

1.1 Tổng quan nghiên cứu đề tài 5

1.2 Cơ sở lý luận về vấn đề công nghiệp hóa và một số mô hình công nghiệp hoá ở các nước trên thế giới 9

1.2.1 Cơ sở lý luận về vấn đề công nghiệp hóa 9

1.2.2 Một số mô hình công nghiệp hóa ở các nước trên thế giới 18

1.2.3 Những vấn đề cần giải quyết trong quá trình công nghiệp hóa 43

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 50

2.1 Phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử 50

2.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể 50

2.2.1 Phương pháp trừu tượng hóa khoa học 50

2.2.2 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu, khảo sát 51

2.2.3 Phương pháp thu thập nghiên cứu tài liệu, xử lý số liệu 51

2.2.4 Phương pháp phân tích và tổng hợp 51

CHƯƠNG 3: QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA Ở HÀN QUỐC VÀ NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO CÁC NƯỚC 53

3.1 Vài nét về bối cảnh công nghiệp hóa ở Hàn Quốc 53

3.2 Quá trình thực hiện công nghiệp hóa ở Hàn Quốc từ năm 1960-1995 54

3.2.1 Giai đoạn đầu công CNH thay thế nhập khẩu ở Hàn Quốc (1953-1962) 54

3.2.2 Những đặc điểm chủ yếu của quá trình công nghiệp hóa tại Hàn Quốc từ đầu thập niên 60 đến năm 1995 56

3.3 Hàn Quốc giai đoạn từ 1995 đến nay (2015) 68

3.4 Một số bài học kinh nghiệm của Hàn Quốc trong quá trình công nghiệp hóa 70

3.4.1 Lựa chọn chiến lược công nghiệp hoá phù hợp để đẩy nhanh tăng trưởng kinh tế 70 3.4.2 Tạo lập cơ cấu ngành công nghiệp năng động trên cơ sở đa dạng hoá các loại hình doanh nghiệp 73

Trang 5

3.4.3 Chủ động nắm bắt công nghệ mới, tăng cường ứng dụng triển khai trong công nghiệp hoá, hiện đại hoá 753.4.4 Kết hợp mở rộng thị trường cả ngoài nước và nội địa, lấy thị trường ngoài nước làm trọng tâm 783.4.5 Khai thác tối đa các nguồn vốn cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá 803.4.6 Coi trọng phát triển nguồn nhân lực cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá 823.4.7 Xác định rõ vai trò định hướng và chức năng điều hành của nhà nước trong công nghiệp hoá, hiện đại hoá 823.4.8 Giải quyết những mặt trái về môi trường và các vấn đề xã hội của quá trình công nghiệp hóa ở Hàn Quốc 84CHƯƠNG 4: VẬN DỤNG NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM TỪ QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA Ở HÀN QUỐC VÀO VIỆT NAM 874.1 Một số vấn đề về công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay 874.1.1 Quá trình đổi mới nhận thức của Đảng ta về CNH-HĐH 874.1.2 Những kết quả đã đạt được trong quá trình thực hiện công nghiệp hóa ở Việt Nam 914.1.3 Những hạn chế còn tồn tại trong quá trình thực hiện công nghiệp hóa ở Việt Nam 954.2 Một số đặc điểm tương đồng và khác biệt của Việt Nam và Hàn Quốc khi bước vào quá trình công nghiệp hóa 994.2.1 Một số đặc điểm tương đồng về kinh tế xã hội của Việt Nam và Hàn Quốc khi bước vào quá trình công nghiệp hóa 1004.2.2 Những nét khác biệt giữa Việt Nam và Hàn Quốc khi bước vào quá trình công nghiệp hóa 1044.3 Khả năng vận dụng một số kinh nghiệm của Hàn Quốc vào quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa ở nước ta hiện nay 1104.3.1 Nâng cao vai trò Nhà nước trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa 1104.3.2 Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH bền vững và hội nhập quốc tế với việc hình thành những ngành trọng điểm và mũi nhọn 1144.3.3 Chính sách và giải pháp về khoa học công nghệ 118

Trang 6

4.3.4 Chú trọng khai thác lợi thế so sánh, kết hợp tốt hướng ngoại và hướng nội, lấy thị trường nước ngoài làm trọng tâm 1204.3.5 Huy động vốn cho công nghiệp hóa hiện đại hóa 1244.3.6 Phát triển và sử dụng nguồn lực con người trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa 126KẾT LUẬN 130DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 132

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

1 APEC Diễn đàn hợp tác kinh tế chấu Á – Thái Bình Dương

2 AFTA Khu vực mậu dịch tự do ASEAN

3 ADB Ngân hàng phát triển châu Á

4 Chaebol Tập đoàn công nghiệp lớn của Hàn Quốc

5 CHN-HĐH Công nghiệp hóa hiện đại hóa

6 CRDC Trung tâm thương mại hóa nghiên cứu phát triển khoa

học công nghệ Hàn Quốc

7 G20 Nhóm các nền kinh tế lớn

8 GDP Tổng sản phẩm quốc nội

9 GNP Tổng sản lượng quốc dân

10 NICs/NIEs Các nước công nghiệp mới

11 NAFTA Hiệp định mậu dịch tự do Bắc Mỹ

12 IMF Quỹ tiền tệ quốc tế

18 MTI Bộ thương mại và công nghệ Hàn Quốc

19 R&D Hoạt động nghiên cứu khoa học công nghệ

20 TBCN Tư bản chủ nghĩa

21 UNIDO Tổ chức phát triển công nghiệp của Liên hợp quốc

22 UNKRA Tổ chức tái thiết Hàn Quốc của Liên hợp quốc

23 WTO Tổ chức thương mại thế giới

24 WB Ngân hàng thế giới

25 XHCN Xã hội chủ nghĩa

Trang 8

DANH MỤC BẢNG BIỂU

1 3.1 Tốc độ tăng trưởng kinh tế Hàn Quốc 1981-1995 59

2 3.2 Xếp hạng và tỷ phần của công nghiệp Hàn Quốc

trong nền công nghiệp thế giới (1994) 62

3 3.3 Nhập khẩu công nghệ của Hàn Quốc (1982-1991) 62

4 3.4 Tăng trưởng GDP và tổng thu nhập Quốc gia theo

đầu người của Hàn Quốc (1960-2008) 64

5 4.1 Tương đồng Việt Nam - Hàn Quốc về cơ cấu nền

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

“Sự thần kỳ” mà các nước NICs (các nước công nghiệp mới) ở Châu Á đạt được trong những thập kỷ qua không phải là sự ngẫu nhiên, mà là cả một quá trình tìm tòi, thử nghiệm và phấn đấu kiên trì của các quốc gia, vùng lãnh thổ công nghiệp mới Châu Á Trải qua những thăng trầm, thất bại và thành công, họ đã tìm ra một mô hình phát triển kinh tế phù hợp với những điều kiện thực tế ở mỗi nước, đó là chìa khóa để đi từ những nước, lãnh thổ nghèo nàn, lạc hậu vươn lên thành những quốc gia có nền công nghiệp phát triển, hòa nhập vào cộng đồng kinh tế thế giới với địa vị không ngừng được nâng cao

Hàn Quốc là một đất nước nhỏ nằm ở phía cực Đông của châu Á được biết đến là một nước công nghiệp mới điển hình Mặc dù xếp vị trí thứ 109 trên thế giới về mặt lãnh thổ nhưng Hàn Quốc lại là trung tâm của các hoạt động kinh tế, văn hoá và nghệ thuật của Châu Á Hàn Quốc đã trải qua thời kỳ thực dân trị của Nhật Bản vào đầu thế

kỷ 20 và sau đó là cuộc chiến tranh Hàn Quốc (1950-1953) nhưng trong một thời gian ngắn, Hàn Quốc đã đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế đáng kinh ngạc, vẫn thường được biết đến là “Kỳ tích Sông Hàn” Nếu cách đây 30 năm tổng sản phẩm quốc nội của Hàn Quốc chỉ đứng ngang với các nước nghèo ở châu Phi và châu Á thì hiện nay, tổng sản phẩm quốc nội của Hàn Quốc xếp thứ 10 trên thế giới Từ những năm 1970 nhiều công ty lớn của Hàn Quốc bắt đầu tạo chỗ đứng trên thị trường thế giới Trong

số đó có thể kể tới Samsung, Hyundai hay GM Daewoo Cho đến nay, Hàn Quốc đã là một quốc gia công nghiệp đứng vị trí cao trên trường thế giới Ngành công nghiệp chất bán dẫn, ô tô, đóng tàu, sản xuất thép và công nghệ thông tin của Hàn Quốc có vị trí hàng đầu trên thị trường thế giới Hàn Quốc đang được thế giới công nhận và đánh giá là một trong 4 con rồng phát triển nhất của châu Á Sở dĩ có được bước tiến bộ vượt bậc và phát triển thành một nước công nghiệp như ngày nay là cả một quá trình kéo dài với những chiến lược công nghiệp hóa diễn ra liên tục và hiệu quả Trong những năm qua, Hàn Quốc được các nhà phân tích kinh tế trên thế giới thừa nhận là một điển hình của một nền kinh tế phát triển thành công, đặc biệt là từ khi xuất phát từ đặc thù địa lý, Hàn Quốc là một quốc gia không được ưu đãi về tài nguyên thiên nhiên

Từ một nước gặp nhiều khó khăn sau chiến tranh, Hàn Quốc mau chóng trở thành một

Trang 10

nước công nghiệp mới (NICs/NIEs) Hàn Quốc có một quá trình công nghiệp hóa được rút ngắn một cách tối đa (chỉ còn 30 năm) so với Mỹ, các nước EU và Nhật Bản

do có được chiến lược công nghiệp hóa đúng đắn, tận dụng được lợi thế của “người

đi sau”, tiếp thu được kinh nghiệm của cả ba nhóm nước phát triển trên Vị thế mới của Hàn Quốc trong cộng đồng quốc tế được đánh dấu vào năm 2010 với việc trở thành quốc gia Châu Á đầu tiên giữ vai trò chủ tịch G20 và tổ chức Hội nghị Thượng đỉnh G20 Năm 2011, Hàn Quốc là thực thể kinh tế lớn thứ 15 thế giới, năm 2012 đã vươn lên thứ 12 thế giới, năm 2013 vươn lên thứ 11 và năm 2016 dự kiến vươn lên thứ 9 thế giới

Việt Nam và Hàn Quốc là hai nước Châu Á có nhiều nét tương đồng về lịch sử, địa lý và văn hóa, cơ sở kinh tế xã hội Sau khi thực hiện công cuộc đổi mới Việt Nam

đã đạt được một số thành tựu nhất định, tuy nhiên nếu xét theo các tiêu chuẩn quốc tế thì Việt Nam vẫn là một quốc gia kém phát triển Để có thể vươn lên đạt trình độ ngang hàng với các quốc gia trong khu vực, Việt Nam tất yếu phải lựa chọn con đường công nghiệp hóa hiện đại hóa Hiện nay, chúng ta đang tiến hành sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nhằm thực hiện mục tiêu chiến lược do Đại Hội VIII

đề ra là phấn đấu từ nay đến năm 2020 đưa đất nước ta cơ bản trở thành một đất nước công nghiệp Việc học hỏi kinh nghiệm từ những quốc gia đi trước sẽ giúp rút ngắn thời gian, tăng hiệu quả và tránh được những rủi ro không đáng có trong quá trình thực hiện công nghiệp hóa hiện đại hóa Đánh giá khách quan cho rằng công nghiệp hóa ở Hàn Quốc được coi là bài học kinh nghiệm điển hình dành cho Việt Nam

Nền kinh tế Việt Nam hiện nay đang đứng trước nhiều thời cơ và thách thức mới

do quá trình toàn cầu hóa và hợp tác quốc tế mang lại Trong bối cảnh các nguồn lực kinh tế của Việt Nam còn nhiều hạn chế, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa kết hợp với việc học hỏi kinh nghiệm từ các nước công nghiệp đi trước là một bước đi đúng đắn Vì vậy việc nghiên cứu kinh nghiệm công nghiệp hóa của các nước đi trước

để tìm ra những giải pháp cho Việt Nam là một vấn đề cấp thiết

Đề tài “Công nghiệp hóa ở Hàn Quốc và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam”

được học viên lựa chọn làm đề tài luận văn thạc sĩ, chuyên ngành kinh tế chính trị

Trang 11

* Câu hỏi nghiên cứu:

- Những thành công và thất bại của Hàn Quốc trong quá trình thực hiện công nghiệp hóa là gì?

- Việt Nam sẽ học hỏi được những gì và vận dụng như thế nào từ bài học kinh nghiệm rút ra trong quá trình công nghiệp hóa của Hàn Quốc?

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích:

Nghiên cứu quá trình công nghiệp hóa ở Hàn Quốc, rút ra và đánh giá những bài học kinh nghiệm từ quá trình đó để vận dụng ở Việt Nam Trên cơ sở những bài học thành công và thất bại của Hàn Quốc đưa ra một số định hướng góp phần nâng cao hiệu quả của việc vận dụng những bài học kinh nghiệm này vào quá trình công nghiệp hóa ở Việt Nam

2.2 Nhiệm vụ

Hệ thống hoá những vấn đề lý luận và thực tiễn về công nghiệp hóa

Đánh giá thành tựu và hạn chế của quá trình công nghiệp hóa ở Hàn Quốc từ đó rút ra được những bài học kinh nghiệm để vận dụng ở Việt Nam

Đánh giá khả năng vận dụng những bài học kinh nghiệm của Hàn Quốc vào quá trình công nghiệp hóa ở Việt Nam

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Quá trình công nghiệp hóa ở Hàn Quốc và những bài học kinh nghiệm có khả năng vận dụng đối với Việt Nam

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài tập trung đánh giá một số những bài học kinh nghiệm thành công và thất bại được rút ra từ quá trình công nghiệp hóa ở Hàn Quốc Bên cạnh đó nghiên cứu khả năng vận dụng những bài học kinh nghiệm trên vào quá trình công nghiệp hóa ở Việt Nam

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu của khoa học kinh tế, phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, phương pháp trừu tượng hóa, kết hợp giữa logic và lịch sử, phân tích và tổng hợp để làm rõ đối tượng nghiên cứu

Trang 12

Luận văn sử dụng một số tài liệu của các đề tài, dự án, công trình nghiên cứu, bài viết trên các tạp chí đã được công bố về vấn đề có liên quan để từ đó làm căn cứ đánh giá, lựa chọn và phân tích những bài học kinh nghiệm phù hợp nhất, có khả năng vận dụng cao góp phần đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa ở Việt Nam đạt hiệu quả như công cuộc công nghiệp hóa của Hàn Quốc

KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN

Ngoài phần mở đầu, kết luận và các phụ lục, luận văn được kết cấu thành 4 chương:

- Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu; Cơ sở lý luận về công nghiệp hóa ở các nước

- Chương 2: Phương pháp nghiên cứu của đề tài

- Chương 3: Quá trình công nghiệp hóa ở Hàn Quốc và những bài học kinh nghiệm cho các nước

- Chương 4: Vận dụng những bài học kinh nghiệm từ quá trình công nghiệp hóa

ở Hàn Quốc vào Việt Nam

Trang 13

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU; CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ

CÔNG NGHIỆP HÓA Ở CÁC NƯỚC

1.1 Tổng quan nghiên cứu đề tài

Vấn đề công nghiệp hóa nói chung, vấn đề công nghiệp hóa ở các quốc gia trên thế giới cụ thể là ở Việt Nam nói riêng là một vấn đề đã được nhiều tác giả nghiên cứu

từ trước cho đến nay Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu mỗi tác giả đều có những hướng nghiên cứu riêng biệt, một số nghiên cứu những lý luận cơ sở, một số khác chỉ tập trung vào một vài quan điểm cụ thể trong quá trình vận dụng, đặc biệt việc nghiên cứu kinh nghiệm công nghiệp hóa đúc kết từ các nước phát triển đi trước để áp dụng vào Việt Nam là một nội dung chưa được nghiên cứu sâu rộng Nghiên cứu công nghiệp hóa ở Hàn Quốc và việc vận dụng bài học kinh nghiệm ở Việt Nam, một mặt, học viên muốn tìm hiểu nguyên nhân sự phát triển thần kỳ của Hàn Quốc, một quốc gia có nhiều điểm tương đồng với Việt Nam, mặt khác nghiên cứu về việc áp dụng những kinh nghiệm công nghiệp hóa được đúc kết từ quá trình phát triển của nước bạn cho Việt Nam Có thể kể ra một số sách, bài đăng tạp chí, công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn mà học viên tổng hợp được như sau:

- “Con đường phát triển của một số nước châu Á – Thái Bình Dương” (1996)

của tác giả Dương Phú Hiệp (chủ biên), NXB Chính trị quốc gia Hà Nội Tác giả đã

đề cập đến một vài khía cạnh của khái niệm công nghiệp hóa, hiện đại hóa Cuốn sách

đã giới thiệu con đường phát triển của một số nước ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, tập trung phân tích những nguyên nhân và những bài học thành công của một

số nước trên con đường công nghiệp hóa và hiện đại hóa Tuy nhiên ở đây mới chỉ đề cập đến một vài quốc gia tiêu biểu như Trung Quốc, có đề cập đến một vài quốc gia Đông Á nổi bật khác như Hàn Quốc, Singapore… nhưng chưa đưa ra được những chính sách cụ thể trong quá trình công nghiệp hóa của các quốc gia đó

- “Hàn Quốc trước thể kỷ XXI” (1999) của hai tác giả Dương Phú Hiệp và Ngô

Xuân Bình, NXB Thống kê Hà Nội Các báo cáo trong cuốn sách đã có những phân tích về một số vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, dự báo sự phát triển của Hàn Quốc trong thời gian tới, và một số báo cáo đề cập tới quan hệ giữa Hàn Quốc và Việt

Trang 14

Nam nhưng tập trung chủ yếu vào các sự kiện nổi bật về chính trị và chỉ mới đề cập đến một vài giai đoạn trong quá trình công nghiệp hóa ở Hàn Quốc

- “Hàn Quốc trên con đường phát triển” (2000) của hai tác giả Ngô Xuân Bình

và Phạm Quý Long, NXB Thống kê Hà Nội Trong cuốn này các tác giả đã khái quát

về tình hình kinh tế và xã hội của Hàn Quốc như khủng hoảng tài chính Châu Á và tương lai của nền kinh tế Hàn Quốc; tìm hiểu chính sách chống thất nghiệp ở Hàn Quốc; về một

số chính sách công nghiệp và thương mại tiêu biểu của Hàn Quốc trong quá trình công nghiệp hoá; một số bài học kinh nghiệm phát triển kinh tế của Hàn Quốc; và một vài nét

về cải cách hành chính ở Hàn Quốc hiện nay… Tuy nhiên hai tác giả chỉ mới đưa ra những quan điểm khái quát, chưa đi sâu vào phân tích cụ thể những chính sách cũng bài học kinh nghiệm của quá trình công nghiệp hóa ở Hàn Quốc đã để lại

- “Kinh tế Hàn Quốc đang trỗi dậy” (2002) của tác giả Byung Nak Song, NXB

Thống kê Hà Nội được Phạm Quý Long dịch Trong cuốn này tác giả đã có những đánh giá khách quan về nền kinh tế Hàn Quốc, đi sâu vào phân tích môi trường kinh tế

và sự tăng trưởng kinh tế trong quá trình công nghiệp hóa ở Hàn Quốc Bên cạnh đó tác giả còn đề cập đến các mối quan hệ đối ngoại của Hàn Quốc với các quốc gia khác, những mối quan hệ này chi phối không nhỏ đến việc định hướng và xây dựng các chính sách kinh tế trong thời kỳ công nghiệp hóa

- “Biến động kinh tế Đông Á và con đường công nghiệp hóa Việt Nam” (2005)

của tác giả Trần Văn Thọ, NXB Trẻ và Công ty Văn hóa Phương Nam Cuốn sách này trả lời các câu hỏi về vị trí của Việt Nam trên bản đồ công nghiệp Đông Á và tập trung phân tích hầu hết các vấn đề liên quan đến công nghiệp hoá, đề khởi các chiến lược, chính sách, biên pháp nhằm tăng sức cạnh tranh của kinh tế Việt Nam để đối phó hữu hiệu với các thách thức và tận dụng các cơ hội phát triển ở vùng Đông Á

- “Quá trình phát triển kinh tế xã hội của Hàn Quốc (1961-1993) và kinh nghiệm đối với Việt Nam” (2008) của tác giả Hoàng Văn Hiển, NXB Chính trị quốc

gia Hà Nội Tác giả đã trình bày có hệ thống toàn bộ quá trình phát triển kinh tế - xã hội của Hàn Quốc trong những năm 1961-1993 về bối cảnh quốc tế, trong nước và các thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hai mô hình chiến lược hướng nội và hướng ngoại; những thành tựu tiêu biểu về kinh tế - xã hội và những hạn chế cơ bản của Hàn Quốc trong hơn ba thập niên công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; xác định các

Trang 15

điều kiện và yếu tố bên trong, bên ngoài tác động đến quá trình phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn này; rút ra những đặc điểm những quy luật phát triển chung, những kinh nghiệm phát triển phát triển của Hàn Quốc đối với Việt Nam Tuy nhiên đáng tiếc

là tác giả chỉ mới đề cập đến một giai đoạn nhất định trong quá trình thực hiện công nghiệp hóa ở Hàn Quốc, chưa mở rộng nghiên cứu toàn bộ quá trình này

- “Nông nghiệp Hàn Quốc trên con đường phát triển” (2010) của tác giả TS

Trần Quang Minh (chủ biên), NXB Từ điển Bách Khoa Hà Nội Tác giả đã chỉ ra những ý kiến tổng quan về nền nông nghiệp của Hàn Quốc, nghiên cứu một vài chính sách tiêu biểu để giải quyết những vấn đề cơ bản trên con đường phát triển nông nghiệp hiện đại ở Hàn Quốc, đặc biệt tác giả dành ra một chương nói về các giải pháp của chính phủ Hàn Quốc và những đề xuất gợi ý cho Việt Nam về việc phát triển nông nghiệp hiện đại trong quá trình công nghiệp hóa Tuy nhiên cuốn sách mới chỉ đề cập đến riêng lĩnh vực nông nghiệp, chưa có thêm nhiều nghiên cứu về các ngành kinh tế khác

- “Một số mô hình công nghiệp hóa trên thế giới và Việt Nam” (2011) của tác giả

Mai Thị Thanh Xuân (chủ biên), NXB Đại học Quốc gia Tác giả đã đề cập một cách có

hệ thống các quan niệm về công nghiệp hóa và những nghiên cứu về các mô hình công nghiệp hóa ở các nước trên thế giới và Việt Nam, đồng thời đưa ra những quan điểm về việc lựa chọn mô hình công nghiệp hóa cho Việt Nam ở giai đoạn 2011-2020

- “Sự chuyển đổi mô hình phát triển kinh tế của Hàn Quốc, những gợi ý và liên

hệ với Việt Nam” (2010), Võ Thanh Hải, Tạp chí nghiên cứu Đông Bắc Á Bài viết đã

đưa ra nhận định về những nét tương đồng và khác biệt giữa Việt Nam và Hàn Quốc

về các điều kiện để phát triển kinh tế trong các giai đoạn của quá trình công nghiệp hóa để từ đó có những kiến nghị cho sự cải cách đổi mới của Việt Nam

- “Một số kinh nghiệm công nghiệp hóa hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn ở các nước châu Á đối với Việt Nam” Mai Thị Thanh Xuân Nghiên cứu của tác giả đã

đưa ra hệ thống những quan điểm về việc áp dụng những bài học kinh nghiệm về công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn từ các nước châu Á đối với Việt Nam Tác giả nhận định trong thời kỳ đầu CNH HĐH các nước đều phải coi trọng phát triển nông nghiệp, chú trọng kết hợp CNH ở cả đô thị lẫn nông thôn…

- “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam: Tiêu chí và mức độ hoàn thành”

(2014) Nguyễn Hồng Sơn, Trần Quang Tuyến, Những vấn đề Kinh tế và Chính trị thế

Trang 16

giới Bài nghiên cứu đã trình bày rõ ràng và cụ thể về những tiêu chí công nghiệp hóa hiện đại hóa ở Việt Nam thông qua các vấn đề về thu nhập, chuyển dịch cơ cấu kinh

tế, phát triển bền vững… và đưa ra những kết luận về mức độ công nghiệp hóa ở Việt Nam hiện nay

- “Các điều kiện công nghiệp hóa rút ngắn trong quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chủ nghĩa tư bản ở nước ta hiện nay” (2014) Vũ Văn Hà, Tạp chí Cộng

sản Bài viết đã phân tích những điều kiện thực hiện công nghiệp hóa rút ngắn trong quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay Đồng thời đưa ra một số giải pháp đồng bộ, phát huy các nguồn lực bên trong và bên ngoài, để có thể thực hiện quá trình phát triển rút ngắn

- “Công nghiê ̣p hóa hiê ̣n đại - bước chuyển quan trọng đưa nước ta sớm trở thành nước công nghiê ̣p” (2015) Phạm Xuân Đương, Tạp chí Cộng sản Bài viết đã đề

cập đến một số vấn đề đặt ra cho quá trình công nghiê ̣p hóa , hiê ̣n đa ̣i hóa ở Viê ̣t Nam bao gồm các vấn đề lý luận và thực tiễn cùng những đề xuất mô hình CNH và các giải

pháp đẩy nhanh quá trình CNH HĐH

- “Những quan niệm cơ bản về công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đặc điểm, nội dung của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta hiện nay”(2002) Nguyễn

Thanh, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ Đề tài đã trình bày các khái niệm khác nhau về công nghiệp hóa và hiện đại hóa, đồng thời đưa ra những nghiên cứu của mình

về công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam từ những năm 1960 cho đến cuối những năm 1990, nhận xét cụ thể về bối cảnh, đặc điểm nội dung của CNH HĐH ở nước ta trong giai đoạn đó

- “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam thực trạng và giải pháp” (2007)

Trần Thị Chúc, Đề tài nghiên cứu khoa học Đề tài này cũng đã khái quát được quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa ở Việt Nam từ những năm sau đổi mới 1986, đánh giá quá trình CNH, HĐH ở Việt Nam trên phương diện tích cực và hạn chế, từ đó đưa

ra một vài giải pháp

- “Vai trò của nhà nước đối với công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Đài Loan trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế (thời kỳ 1961-2003) - Bài học kinh nghiệm và khả năng vận dụng vào Việt Nam” (2004) Trần Khánh Hưng Luận án tiến sĩ này đã đề

Trang 17

cập đến vai trò của nhà nước trong quá trình CNH HĐH ở Đài Loan và từ đó chọn lọc nghiên cứu những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

- “Vai trò của nhà nước trong quá trình công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu của Malayxia - kinh nghiệm và khả năng vận dụng vào Việt Nam” (2004) Trần Tuấn

Linh Luận án tiến sĩ cũng nghiên cứu về vài trò của nhà nước trong việc định hướng các chính sách trong quá trình CNH Malayxia, từ đó rút ra những bài học về việc xây dựng chính sách kinh tế trong quá trình CNH HĐH ở Việt Nam

Mặc dù nội dung những tài liệu dẫn ra ở trên không đề cập trực tiếp đến vấn đề học viên đang nghiên cứu, nhưng là những tài liệu quan trọng để học viên có thể tham khảo để viết khung lý thuyết chung của luận văn Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên đã đề cập ở những mức độ khác nhau vấn đề công nghiệp hóa ở các nước phát triển đi trước như Trung Quốc, Nhật Bản, Singapore… và vấn đề công nghiệp hóa ở các nước đang phát triển như Việt Nam Cho đến nay, vẫn chưa có nhiều công trình khoa học nghiên cứu một cách trực tiếp vấn về công nghiệp hóa ở Hàn Quốc và rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong bối cảnh quốc tế mới với nhiều thay đổi như hiện nay Vì vậy, trên cơ sở kế thừa có chọn lọc các kết quả nghiên cứu đã được công

bố, luận văn này tập trung nghiên cứu cụ thể có hệ thống và sâu sắc về vấn đề công nghiệp hóa ở Hàn Quốc và bài học kinh nghiệm thành công và cả thất bại cho Việt Nam trong giai đoạn đang đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa

1.2 Cơ sở lý luận về vấn đề công nghiệp hóa và một số mô hình công nghiệp hoá ở các nước trên thế giới

1.2.1 Cơ sở lý luận về vấn đề công nghiệp hóa

1.2.1.1 Các quan niệm về công nghiệp hóa

Ngày nay, công nghiệp hoá, hiện đại hoá mang tính tất yếu trong quá trình phát triển kinh tế của các quốc gia Kinh nghiệm lịch sử cho thấy công nghiệp hoá, hiện đại hoá là con đường để biến một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu thành một nền kinh tế hiện đại, mà công nghiệp có vai trò đặc biệt quan trọng Với cách tiếp cận khác nhau thì quan niệm về công nghiệp hoá, hiện đại hoá cũng có những điểm không hoàn toàn giống nhau và tất nhiên sẽ dẫn đến những chính sách và giải pháp thực thi cũng khác nhau đối với từng nước, thậm chí đối với một quốc gia trong những thời kỳ lịch sử

Trang 18

khác nhau Điều đó được thể hiện khá rõ ở sự đa dạng trong việc lựa chọn mô hình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở các nước trên thế giới

Từ thực tế có thể khẳng định công nghiệp hoá là khái niệm mang tính lịch sử

Nó gắn liền sự xuất hiện của công nghiệp với việc thay thế lao động thủ công bằng lao động cơ khí hoá Như vậy, khái niệm công nghiệp hoá chỉ xuất hiện từ cuộc cách mạng kỹ thuật lần thứ nhất, khởi đầu ở nước Anh vào thế kỷ 18 Đến thế kỷ 19, khái niệm này mới được làm rõ dần với quan niệm coi đó quá trình biến một lĩnh vực sản xuất nào đó, hoạt động với sự trợ giúp đắc lực và sự đóng góp lớn của hoạt động cơ khí Do công nghiệp phát triển nhanh chóng từ đơn giản đến phức tạp với trình độ cơ khí hoá, tự động hoá ngày càng cao nên ý nghĩa của khái niệm công nghiệp hoá cũng ngày càng mở rộng ra Vì vậy, khi có một quan niệm đúng về công nghiệp hoá sẽ ý nghĩa đối với khoa học và hoạch định chính sách trong thực tiễn Công nghiệp hoá là quá trình rất phức tạp, bao gồm nhiều khía cạnh khó phân biệt về thời gian, về định tính hay định lượng Tuỳ theo cách nhìn khác nhau mà người ta có những quan niệm khác nhau về công nghiệp hoá và bản chất của nó

Quan niệm đơn giản nhất cho rằng "Công nghiệp hoá là đưa tính đặc thù công nghiệp cho một hoạt động (của một vùng, một nước) với các nhà máy, các loại hình công nghiệp" Quan niệm này được hình thành trên cơ sở khái quát quá trình lịch sử

công nghiệp hoá ở các nước Tây Âu và Bắc Mỹ Trong quá trình thực hiện công nghiệp hoá, các nước này chỉ chủ yếu tập trung vào phát triển các ngành công nghiệp, nên sự chuyển biến của các hoạt động kinh tế - xã hội khác chỉ là hệ quả của quá trình phát triển công nghiệp, mà không phải là đối tượng trực tiếp của công nghiệp hoá Quan niệm giản đơn trên đây có những mặt chưa hợp lý vì thế, nó được vận dụng rất hạn chế trong thực tiễn

Quan niệm phổ biến ở Liên Xô trước đây cho rằng "công nghiệp hoá là quá trình xây dựng nền đại công nghiệp cơ khí có khả năng cải tạo cả nông nghiệp" Đó là

sự phát triển các ngành công nghiệp nặng mà cốt lõi là ngành chế tạo cơ khí, do đó tỷ trọng công nghiệp trong tổng sản phẩm xã hội ngày càng lớn Quan niệm trên xuất phát từ thực tiễn của Liên Xô khi triển khai công nghiệp hoá Nhiều năm trước đây nó được coi là hợp lý và được áp dụng ở một số nước XHCN và các nước đang phát triển nhằm xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ Thực tế, việc sao chép một cách máy móc

Trang 19

mô hình công nghiệp hoá của Liên Xô đã không đem lại kết quả như mong muốn ở những nước này

Tổ chức phát triển công nghiệp của Liên hợp quốc (UNIDO) đã đưa ra định

nghĩa sau đây (vào năm 1963): "Công nghiệp hoá là một quá trình phát triển kinh tế, trong quá trình này một bộ phận ngày càng tăng các nguồn của cải quốc dân được động viên để phát triển cơ cấu kinh tế nhiều ngành ở trong nước với kỹ thuật hiện đại Đặc điểm của cơ cấu kinh tế này là có một bộ phận chế biến luôn thay đổi để sản xuất

ra những tư liệu sản xuất và hàng tiêu dùng, có khả năng bảo đảm cho toàn bộ nền kinh tế phát triển với nhịp độ cao, bảo đảm đạt tới sự tiến bộ về kinh tế - xã hội" Khái

niệm này nói lên rằng công nghiệp hoá là quá trình bao trùm toàn bộ quá trình phát triển kinh tế - xã hội nhằm đạt tới không chỉ sự tăng trưởng kinh tế mà còn cả sự tiến

bộ xã hội Đồng thời quá trình công nghiệp hoá trong điều kiện ngày nay cũng gắn liền với quá trình hiện đại hoá nền kinh tế, trong mọi mặt hoạt động kinh tế - xã hội Tuy nhiên, định nghĩa trên đây lại quá dài với ý tưởng dung hoà nhiều ý kiến khác nhau, nên nó mang tính chất một phương hướng thực thi hơn là một khái niệm

Một định nghĩa được dùng phổ biến ở nước ta hiện nay có ý nghĩa tương đối bao quát và phù hợp về công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong thời đại ngày nay do Báo

cáo Hội nghị Trung ương 7 (khoá VII) đưa ra là "quá trình chuyển đổi căn bản toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính, sang sử dụng phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại, dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học - công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao" Định

nghĩa này đã nói lên được phạm vi và vai trò đặc biệt quan trọng của công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong phát triển kinh tế - xã hội; gắn liền được hai phạm trù không thể tách rời là công nghiệp hoá và hiện đại hóa Nó cũng xác định vai trò không thể thiếu của khoa học - công nghệ trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Từ lịch sử công nghiệp hoá trên thế giới và xem xét các quan niệm trên có

thể rút ra nội dung của khái niệm "công nghiệp hoá" bao gồm những vấn đề chính

sau đây:

Thứ nhất, công nghiệp hóa là quá trình thực hiện cuộc cách mạng kỹ thuật để xây dựng cơ sở vật chất ‒ kỹ thuật hiện đại cho nền kinh tế

Trang 20

Thứ hai, công nghiệp hóa là quá trình bao trùm toàn bộ mọi ngành, mọi lĩnh vực của nền kinh tế

Thứ ba, công nghiệp hóa là quá trình mở rộng quan hệ quốc tế

Thứ tư, công nghiệp hóa không chỉ là quá trình kinh tế ‒ kỹ thuật, mà còn là quá trình kinh tế - xã hội

Quá trình công nghiệp hóa diễn ra trên thế giới đã có chiều dài gần 300 năm, nhưng đến nay người ta vẫn chưa có một sự thống nhất trong cách hiểu về công nghiệp hóa Điều đó là do, một mặt, bản thân công nghiệp hóa là một quá trình rộng lớn, có một nội hàm sâu sắc và một ngoại diên phong phú; mặt khác, điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội và thời đại tiến hành công nghiệp hóa tại mỗi nước là không giống nhau Tuy công nghiệp hoá có thể phát sinh những hậu quả tiêu cực nhất định về xã hội, về môi trường và về văn hóa, nhưng công nghiệp hoá với cách hiểu trên vẫn luôn luôn là cách thức phát triển mà các quốc gia từ một nền kinh tế lạc hậu, chủ yếu là nông nghiệp, muốn nhanh chóng vươn lên một trình độ phát triển cao đều nhất thiết phải trải qua Vấn đề đặt ra không phải là có nên công nghiệp hoá hay không, mà chính là tiến hành công nghiệp hoá như thế nào để đạt được hiệu quả

1.2.1.2 Nội dung cơ bản của công nghiệp hóa

Chuyển nền kinh tế từ trình độ kỹ thuật thủ công lên trình độ cơ khí hóa

Nếu xét về sự phát triển của công cụ sản xuất, người ta chia lịch sử phát triển nhân loại thành bốn giai đoạn: kinh tế mông muội, kinh tế nông nghiệp, kinh tế công nghiệp và kinh tế hậu công nghiệp, hay kinh tế tri thức Mỗi thời đại kinh tế được đặc trưng bởi một trình độ nhất định của sự phát triển công cụ lao động, và chính đặc trưng đó là cơ sở để phân biệt chế độ kinh tế này với chế độ kinh tế khác

Thời kỳ mông muội con người vừa tách khỏi động vật, sống theo bầy đàn và cùng tìm kiếm những thức ăn có sẵn trong tự nhiên bằng các công cụ như gậy gộc, cành cây, đá nhọn Với những công cụ thô sơ như vậy, nhân loại đã phải dồn đến 90% thời gian ban ngày và 90% sức lực mới kiếm được thức ăn Khi các hoạt động kiếm sống được chuyển từ hái lượm, săn bắt sang trồng trọt, chăn nuôi thì thời đại kinh tế

nông nghiệp ra đời, kết thúc hàng triệu năm mông muội của loài người để bước vào

nền văn minh Những bầy đàn người giờ đây đã trở thành những người nông dân Trong giai đoạn này, do đã tạo được những công cụ thủ công như rìu búa, dao rựa,

Trang 21

cuốc cày , con người giảm được sự phụ thuộc vào tự nhiên Đến cuối thời kỳ xuất hiện những máy móc đơn giản các công cụ nửa cơ khí Tuy vậy, so với sản xuất thủ công thì những máy móc đơn giản đó đã tạo được năng suất lao động cao hơn nhiều, kéo theo đó là sự gia tăng của cải vật chất Giai đoạn này kéo dài hàng chục nghìn năm, từ những năm 8000 trước Công nguyên đến nửa thế kỷ XVIII, khi xuất hiện cuộc cách mạng kỹ thuật lần thứ nhất Công nghiệp hóa tư bản chủ nghĩa đã tạo ra hệ thống máy móc hiện đại làm thay đổi cách thức sản xuất của cải vật chất, đưa nhân loại thoát khỏi tình trạng sản xuất nhỏ, lạc hậu kéo dài hàng triệu năm để bước vào thời đại kinh

tế công nghiệp Sự xuất hiện của máy hơi nước, động cơ điện đã thúc đẩy sự ra đời nền kinh tế công nghiệp, mà nội dung chủ yếu là thay thế lao động chân tay bằng lao động máy móc Trong thời kỳ này, các yếu tố đầu vào của sản xuất không còn giới hạn

ở lao động, đất đai và vốn như trong các thời đại kinh tế trước đó, mà còn có cả công nghệ, thiết bị Những công nghệ, thiết bị cơ khí đó vẫn không ngừng được cải tiến, hoàn thiện trong hơn 200 năm qua, và đến khoảng giữa thế kỷ XX nó được nâng lên một trình độ cao hơn: tự động hóa Công nghiệp hóa và sự phát triển của cuộc cách mạng khoa học công nghệ nửa cuối thế kỷ XX đã tạo ra những biến đổi sâu sắc, có tính bước ngoặt, làm đảo lộn về cơ sở vật chất kỹ thuật và mọi mặt của đời sống xã hội: chuyển thời đại kinh tế công nghiệp sang thời đại kinh tế tri thức, và theo đó nền văn minh loài người cũng chuyển từ văn minh công nghiệp sang văn minh trí tuệ Đặc trưng của thời đại kinh tế tri thức là các ngành có hàm lượng tri thức cao như công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, năng lượng mới, tự động hóa… ngày càng phát triển mạnh; sự sản sinh, truyền bá và sử dụng tri thức trở thành yếu tố quyết định nhất đối với sự phát triển kinh tế và nâng cao chất lượng cuộc sống;

và nền kinh tế tri thức có tính sáng tạo cao

Như vậy, trình độ công nghiệp hóa khác nhau đã tạo nên những thời đại kinh

tế khác nhau Trước thời đại kinh tế công nghiệp, sản xuất được thực hiện chủ yếu bằng lao động thủ công, năng suất rất thấp, đất đai là tài nguyên chủ yếu Trong thời đại kinh tế công nghiệp, quá trình sản xuất được thực hiện chủ yếu dựa vào máy móc

và tài nguyên thiên nhiên, năng suất lao động đã cao hơn trước rất nhiều Còn trong thời đại kinh tế tri thức sáng tạo, các công việc đó được thực hiện dựa vào trí tuệ con người là chính, và tri thức, thông tin trở thành yếu tố sản xuất quan trọng hơn vốn và

Trang 22

lao động Do vậy, tại các nước đi sau, nội dung công nghiệp hóa không chỉ là tạo sự chuyển biến nền sản xuất từ thủ công lên cơ khí hóa, mà còn phải chuyển nền kinh tế

từ cơ khí hóa lên tự động hóa và tin học hóa, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho mọi người

Chuyển nền kinh tế nông nghiệp thành nền kinh tế công nghiệp

Nền kinh tế của mỗi quốc gia là một thể thống nhất, bao gồm nhiều ngành, lĩnh vực và vùng hoạt động trong mối quan hệ ràng buộc lẫn nhau Bất cứ sự thay đổi nào trong một ngành hay một lĩnh vực nào đó đều kéo theo sự thay đổi của các ngành hay lĩnh vực khác, do đó làm thay đổi cả cấu trúc của nền kinh tế Theo đó, quá trình công nghiệp hóa cũng có nội dung là thực hiện bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế, làm thay đổi vị trí của các ngành, các lĩnh vực trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân Xét tổng thể,

cơ cấu kinh tế mỗi nước đều được cấu thành bởi ba loại ngành tổng hợp: CN-NN-DV Các ngành này có mối quan hệ ràng buộc lẫn nhau theo một tỷ lệ nhất định tùy thuộc vào trình độ phát triển của nền kinh tế Xu hướng chung của chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong quá trình công nghiệp hóa là thay đổi vị trí của các ngành từ nông nghiệp

là chủ yếu sang công nghiệp và dịch vụ là chủ yếu

Chuyển nền kinh tế dựa vào lao động cơ bắp là chính sang sử dụng phổ biến lao động trí óc

Lao động dựa vào sức mạnh của cơ bắp là đặc trưng của sản xuất nhỏ, tồn tại phổ biến trong các thời đại kinh tế trước nền văn minh công nghiệp Cuộc cách mạng công nghiệp ở nước Anh vào giữa thế kỷ XVIII đã làm thay đổi cách thức sản xuất từ lao động sử dụng cơ bắp sang lao động cơ khí Nói cách khác, đó là quá trình chuyển

từ phương pháp sản xuất cổ truyền từng tồn tại hàng triệu năm sang các phương pháp sản xuất hiện đại, đưa xã hội loài người chuyển sang một thời đại phát triển mới - thời đại kinh tế công nghiệp, và cao hơn là kinh tế tri thức Trong thời đại kinh tế công nghiệp, việc vận hành máy móc được thực hiện bằng chính máy móc, khác với trong thời đại kinh tế nông nghiệp là công việc đó được thực hiện bằng sức lao động cơ bắp của con người Cùng với sự xuất hiện của máy móc là sự chuyển biến những người nông dân “chân lấm tay bùn” thành những người công nhân trực tiếp vận hành máy móc Họ không thuần túy là người lao động chân tay, mà lao động của họ có một phần

Trang 23

của lao động trí óc, lao động sáng tạo và có trình độ kỹ thuật cao Cuộc cách mạng kỹ thuật lần thứ hai diễn ra vào thập niên 1950, phát triển mạnh mẽ vào cuối thập niên

1970 đầu thập niên 1980 đã đưa nhân loại chuyển từ thời đại kinh tế công nghiệp sang thời đại kinh tế tri thức, với đặc trưng cơ bản là tính sáng tạo cao Trong thời đại kinh

tế này, sức lao động cơ bắp không còn tồn tại phổ biến nữa, thay vào đó lao động trí tuệ ngày càng chiếm ưu thế, tức là những người trực tiếp sản xuất trong các nhà máy ngày càng giảm, còn những người làm việc văn phòng ngày càng gia tăng

Trong thời đại kinh tế tri thức, công nhân trong nhà máy không lao động như trước nữa, mà họ lao động như trí thức; thậm chí trong lao động của nông dân cũng có

tỷ trọng trí tuệ ngày càng cao Ví dụ, họ dùng máy vi tính để cắt gọt kim loại, điều khiển rôbốt cày ruộng hay sản xuất các hàng hóa cao cấp… Nhờ lao động trí óc và sức sáng tạo của trí óc mà các ngành công nghệ cao, như công nghệ năng lượng hạt nhân, công nghệ vật liệu mới, công nghệ thông tin, công nghệ tự động hóa, công nghệ sinh học… xuất hiện, tạo nên những bước nhảy vọt về năng suất lao động Do vậy, thời gian dành cho sản xuất trực tiếp của nông dân và công nhân ngày càng giảm, còn thời gian dùng để nghiên cứu, triển khai, tìm hiểu nhu cầu, thiết kế, tiếp thị… lại gia tăng Điều đó có nghĩa là, nếu công nhân trong nền kinh tế công nghiệp chủ yếu lao động bằng chân, thì trong nền kinh tế tri thức - sáng tạo, họ là những người lao động trí óc - trí tuệ Nói cách khác, công nhân lao động trong thời đại kinh tế tri thức đã được trí thức hóa

Yếu tố thời đại rõ ràng đã có tác động lớn, làm thay đổi nội dung công nghiệp hóa của các nước đi sau Tại các nước này, nơi mà lao động chân tay còn chiếm ưu thế trong nền kinh tế, họ đã nhận thức được vai trò của lao động trí óc và đang tăng cường đào tạo lực lượng lao động hiện có để trí thức hóa lao động chân tay, làm cho lực lượng này tiếp cận được với công nghệ mới, đáp ứng yêu cầu của công nghiệp hóa trong điều kiện mới Con người sáng tạo ra tri thức, nhưng tri thức đến lượt nó có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến sự sáng tạo của người lao động Trong thời đại kinh

tế tri thức, các hình thức lao động mới ra đời thay thế cho lao động trực tiếp Chẳng hạn, trong nền kinh tế tri thức, các phương thức thương mại cũ như bán buôn, bán lẻ, môi giới kiểu truyền thống đang giảm dần vị trí trung gian của nó, thay vào đó là những “trung gian” mới chuyên cung cấp hàng hóa qua mạng Vì vậy, trong nền kinh

Trang 24

tế đó, trí tuệ, những tri thức chứa đựng trong bộ não con người được coi là tài sản duy nhất của một quốc gia Lao động trí óc - tri thức đã trở thành một lực lượng sản xuất mới, giữ vai trò quyết định hơn cả vốn và tài nguyên, bởi tài nguyên hữu hạn và đang ngày càng cạn kiệt dần, trong khi tri thức và sức sáng tạo của con người là vô tận Đây là cơ hội cho những nước công nghiệp hóa muộn, thậm chí nghèo tài nguyên

có thể bứt phá để bắt kịp các nước công nghiệp hóa đi trước

Chuyển xã hội cổ truyền sang xã hội hiện đại và hậu hiện đại

Xã hội cổ truyền thường được hiểu là một xã hội trong đó sản xuất nông nghiệp thống trị, cùng với những thể chế gia trưởng, lấy cộng đồng làm trung tâm, còn cá nhân luôn ở địa vị phụ thuộc Trong xã hội cổ truyền, trình độ người lao động và công nghệ rất thấp kém, do đó sản xuất chủ yếu dựa vào việc khai thác các nguồn lực tự nhiên và phụ thuộc chặt chẽ vào tự nhiên Loài người đã sinh sống trong một xã hội như vậy đến hàng chục nghìn năm Cho đến giữa thế kỷ XVIII, công nghiệp hóa được thực hiện tại các nước tư bản chủ nghĩa, tạo ra nền đại công nghiệp cơ khí, theo đó xã hội cổ truyền đã chuyển sang xã hội hiện đại

Xã hội hiện đại là một xã hội đạt đến trình độ cao về mọi mặt: kinh tế, chính trị,

xã hội, pháp quyền, văn hóa, lối sống… Theo cách hiểu đó, xã hội hiện đại đồng nghĩa với xã hội phát triển, và việc chuyển từ xã hội truyền thống sang xã hội hiện đại là quá trình chuyển từ xã hội phát triển trình độ thấp lên xã hội phát triển trình độ cao Nếu

xã hội truyền thống được đặc trưng bởi việc tổ chức đời sống xã hội dựa vào các quan niệm tôn giáo hay thần thoại, thì trong xã hội hiện đại điều đó được thực hiện dựa vào

lý trí và khoa học

1.2.1.3 Công nghiệp hóa và hiện đại hóa

Công nghiệp hoá là quá trình trang bị công nghệ và thiết bị cơ khí hoá cho tất cả các ngành kinh tế quốc dân, trước hết là các ngành chiếm vị trí quan trọng Công nghiệp hoá đã làm thay đổi căn bản phương thức sản xuất với kỹ thuật, công nghệ và

tổ chức sản xuất truyền thống Hiện đại hoá là quá trình thường xuyên cập nhật và nâng cấp những công nghệ hiện đại nhất, mới nhất trong quá trình công nghiệp hoá

Đa số các ý kiến của các nhà nghiên cứu cho rằng hiện đại hoá là quá trình liên tục hiện đại nền kinh tế, thay đổi công nghệ cũ bằng công nghệ mới tiên tiến hơn Thực

Trang 25

chất, hiện đại hoá là cái đích cần vươn tới trong quá trình công nghiệp hoá Cái đích này không cố định hay duy nhất đối với một quốc gia hay một ngành nghề mà nó luôn thay đổi theo sự phát triển của khoa học kỹ thuật và trình độ văn minh chung của nhân loại Nó còn phụ thuộc cả và loại ngành nghề, từng khu vực khác nhau ngay trong một nước Xu thế chung của thế giới ngày nay là thực hiện đổi mới công nghệ nhanh chóng, rút ngắn chu kỳ sống của mỗi loại công nghệ Điều cần phấn đấu là đưa trình

độ khoa học - công nghệ của đất nước theo kịp với trình độ hiện đại chung của thế giới Tuỳ điều kiện cụ thể của mỗi ngành, mỗi lĩnh vực hoạt động mà xác định trình độ công nghệ thích ứng Quan niệm một cách giản đơn về công nghiệp hoá, hiện đại hoá dẫn tới việc tiếp thu công nghệ không chọn lọc Do sự thiếu hiểu biết và thiếu thông tin đã dẫn nhiều nước đang phát triển phải trả giá quá lớn và tốc độ hiện đại hoá không được đẩy nhanh

Cuối thế kỷ 20, với những thay đổi nhanh chóng của cách mạng khoa học kỹ thuật và công nghệ thì việc hiện đại hoá đối với các nước rất khó đạt được Ngay cả những nước phát triển cũng dễ dàng bị tụt hậu Vì vậy, các nước đi sau trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá buộc phải chia quá trình này thành nhiều giai đoạn với mục tiêu của giai đoạn sau là hiện đại hoá những gì mà giai đoạn trước đã đạt được Đối với mỗi giai đoạn phát triển, người ta thường dùng một số chỉ tiêu nhằm đánh giá kết quả công nghiệp hoá, hiện đại hoá, ví dụ như mức đóng góp của công nghiệp trong GDP, tỷ trọng lao động trong công nghiệp trong tổng lao động xã hội…

Thực hiện công nghiệp hoá trong điều kiện cách mạng khoa học kỹ thuật ngày nay, quá trình trang bị công nghệ cho các ngành phải gắn liền với quá trình hiện đại hoá ở cả phần cứng và phần mềm của công nghệ Quá trình này cũng đồng thời là quá trình xây dựng xã hội văn minh công nghiệp và cải biến các ngành kinh tế, các hoạt động theo phong cách của nền công nghiệp lớn hiện đại Quá trình ấy phải tác động làm cho nhịp độ tăng trưởng kinh tế - xã hội nhanh và ổn định, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của các tầng lớp dân cư, thu hẹp dần chênh lệch trình độ kinh

tế - xã hội của đất nước với các nước phát triển Trong đó những nước đi sau đã có một số ít nước (trong đó có Hàn Quốc) thực hiện được hiện đại hoá tương đối cao trong thời gian ngắn

Trang 26

1.2.2 Một số mô hình công nghiệp hóa ở các nước trên thế giới

1.2.2.1 Quan niệm và đặc điểm của mô hình công nghiệp hóa

*Quan niệm về mô hình công nghiệp hóa

Mặc dù khái niệm mô hình công nghiệp hóa đã được sử dụng rất phổ biến, song đến nay vẫn chưa có một sự cắt nghĩa thật rõ ràng về vấn đề này Theo Almas

Heshmati (2007), mô hình công nghiệp hóa là những quá trình công nghiệp hóa của một số nước đi trước được sử dụng như khuôn mẫu cho các nước đi sau Hiểu như vậy

cũng không sai tuy nhiên, quan niệm đó chưa phản ánh được đầy đủ về mô hình công nghiệp hóa, bởi nếu mô hình chỉ là “khuôn mẫu cho các nước đi sau” thì các nước công nghiệp hóa đi trước sẽ lấy “khuôn mẫu” từ đâu, hay các nước đang công nghiệp hóa muốn tìm cho mình một mô hình mới hiệu quả hơn thì làm thế nào để có “khuôn mẫu”?

Trở lại với khái niệm cơ sở về mô hình kinh tế, theo nhiều nghiên cứu định

nghĩa mô hình kinh tế là đại diện của một quá trình kinh tế, nó diễn tả các mối quan hệ đặc trưng giữa các yếu tố (thu nhập quốc dân, sản lượng, tiêu dùng, thất nghiệp, lạm phát, tiết kiệm, đầu tư, khoa học ‒ công nghệ, thương mại và tài chính…) của quá trình đó Theo đó, có thể hiểu mô hình kinh tế chỉ là một “bộ khung” được thiết kế

một cách đơn giản nhất, hay là hình thức diễn đạt hết sức cô đọng các đặc trưng chủ yếu của đối tượng (theo một phương diện nào đó) để minh họa cho những hiện tượng

và quá trình kinh tế đa dạng và phức tạp Mô hình kinh tế lại được thể hiện ở nhiều lĩnh vực, khía cạnh khác nhau, như mô hình kinh doanh, mô hình sản xuất, mô hình doanh nghiệp, mô hình công nghiệp hóa, v.v Trong đó, những khái niệm đầu đã được làm rõ, còn mô hình công nghiệp hóa cho đến nay vẫn chưa có một khái niệm chính thống Ngay cả trong các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng chưa đề cập cụ thể về vấn đề này

Trên cơ sở khái niệm mô hình kinh tế, đem áp dụng vào lĩnh vực công nghiệp

hóa, chúng ta có thể đưa ra quan niệm: Mô hình công nghiệp hóa là một tổng thể bao gồm nhiều thành phần, nhiều mối quan hệ lôgic (mục tiêu, nội dung, bước đi, cách thức thực hiện ) được kết hợp trong một cấu trúc nhất định đại diện cho một quá trình công nghiệp hóa trên thực tế

Theo đó cho thấy, những khái niệm nêu trên có thể có những khía cạnh giống nhau song không hoàn toàn đồng nhất, vì vậy không thể sử dụng thay thế hoàn toàn

Trang 27

cho nhau Các khái niệm mô thức (mô hình, kiểu tiến hành) công nghiệp hóa, mẫu hình (hình mẫu, khuôn mẫu) công nghiệp hóa, hay mô hình (mẫu, khuôn, tiêu chuẩn) công nghiệp hóa đều có cùng nội hàm, đều chỉ ra quá trình công nghiệp hóa được tiến hành như thế nào, vì vậy có thể sử dụng thay thế cho nhau Nhưng chiến lược công nghiệp hóa và mô hình công nghiệp hóa thì lại khác nhau Chiến lược công nghiệp hóa có thể hiểu là cách thức để thực hiện thành công mô hình công nghiệp hóa Sự khác nhau cơ bản giữa hai khái niệm này là ở chỗ, mô hình công nghiệp hóa nói đến một khuôn mẫu chung, được định hình cho một thời kỳ lâu dài và ít thay đổi; còn chiến lược công nghiệp hóa cụ thể hơn và luôn được điều chỉnh để phù hợp với hoàn cảnh thực tế, nhằm thích ứng với những diễn biến của ngoại cảnh Vậy nên, mô hình công nghiệp hóa và chiến lược công nghiệp hóa là những khái niệm không thể thay thế cho nhau

*Đặc điểm của mô hình công nghiệp hóa

Thứ nhất, mô hình công nghiệp hóa bao gồm nhiều thành phần có mối quan hệ

với nhau Như đã đề cập, mô hình công nghiệp hóa là một tổng thể bao gồm nhiều thành phần, nhiều mối quan hệ lôgic Các thành phần chủ yếu hợp thành mô hình công nghiệp hóa bao gồm:

- Mục tiêu của công nghiệp hóa: Một mô hình công nghiệp hóa trước hết phải

thể hiện được mục tiêu cần đạt tới của công cuộc công nghiệp hóa tại một quốc gia hay vùng lãnh thổ, trong đó mục tiêu kinh tế là chuyển nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu thành nền kinh tế công nghiệp ‒ dịch vụ, và trong bối cảnh phát triển hiện đại đó còn

là quá trình chuyển nền kinh tế công nghiệp – dịch vụ sang nền kinh tế tri thức Ngoài mục tiêu kinh tế, nhiều nước còn đặt ra mục tiêu về chính trị, xã hội khi xác định mô hình công nghiệp hóa của mình

- Bước đi của công nghiệp hóa: Công nghiệp hóa là một quá trình lâu dài và

khó khăn, do đó để đạt được mục tiêu đặt ra người ta thường phải tiến hành qua nhiều bước, trong đó mỗi bước tương ứng với một khoảng thời gian và nội dung cụ thể Do điều kiện mỗi nước khác nhau nên việc xác định các bước đi và độ dài ngắn của mỗi bước trong quá trình công nghiệp hóa cũng khác nhau

- Cách thức tiến hành công nghiệp hóa: Một yếu tố quan trọng khác được thể

hiện trong mô hình công nghiệp hóa là việc xác định cách thức tiến hành công nghiệp hóa Cách thức tiến hành công nghiệp hóa lại được thể hiện qua việc xác định các

Trang 28

nguồn lực đầu vào, xác định chủ thể thực hiện công nghiệp hóa và thể chế cho sự tiến hành công nghiệp hóa Tóm lại, đó là cách thức để một nước đạt được mục tiêu mô hình công nghiệp hóa đưa ra Với những mục tiêu đặt ra khác nhau thì phương thức để đạt tới mục tiêu đó cũng khác nhau

Các yếu tố hợp thành mô hình công nghiệp hóa có mối quan hệ lôgic chặt chẽ

Do đó, nếu một quốc gia xác định đúng từng yếu tố cấu thành mô hình công nghiệp hóa thì sẽ cho phép quốc gia đó đạt thành công trong quá trình thực hiện công nghiệp hóa, với thời gian ngắn nhất Trong bối cảnh toàn cầu hóa và môi trường quốc tế luôn biến đổi, để có được một mô hình công nghiệp hóa hiệu quả, đòi hỏi các nước phải tính toán đầy đủ mọi khía cạnh để khai thác tối đa các lợi thế do thời đại tạo ra

Thứ hai, mô hình công nghiệp hóa có tính lịch sử

Việc xác định mô hình công nghiệp hóa tại một nước phải xuất phát từ các điều kiện thực tế về kinh tế, chính trị, xã hội trong nước cũng như quốc tế Do đó, một khi bối cảnh thực hiện công nghiệp hóa thay đổi, mô hình công nghiệp hóa cũng phải thay đổi cho phù hợp với hoàn cảnh mới để khai thác tối đa các điều kiện quốc tế và trong nước Điều đó có nghĩa rằng không có một mô hình công nghiệp hóa chung cho tất cả các nước, cũng như không thể có một mô hình công nghiệp hóa chung cho tất cả các thời kỳ lịch sử khác nhau trong một nước Nói cách khác, mô hình công nghiệp hóa không phải chỉ có một, mà ngược lại, trong thực tế có nhiều mô hình công nghiệp hóa khác nhau Vấn đề quan trọng là, các nước phải biết lựa chọn mô hình nào cho đúng đắn, phù hợp với điều kiện của mình để đạt hiệu quả cao nhất, rút được thời gian hoàn thành công nghiệp hóa nhiều nhất

Mặt khác, mô hình công nghiệp hóa là “khuôn mẫu” do con người tạo ra để thực hiện mục tiêu của công nghiệp hóa trong một thời kỳ nhất định, là sản phẩm chủ quan của con người nên nó có thể chưa hoàn thiện, thậm chí có thể sai Mức độ hoàn thiện của mô hình công nghiệp hóa một nước tùy thuộc rất lớn vào khả năng nhận thức

và xây dựng mô hình của con người, cụ thể là của bộ máy quản lý và hoạch định chính sách Mô hình công nghiệp hóa là sản phẩm chủ quan của con người nên nó có thể kiểm soát và điều chỉnh được Một khi chúng ta điều chỉnh một hay toàn bộ các “thành phần”, các “mối quan hệ” tạo nên “cấu trúc” của mô hình công nghiệp hóa thì kết quả đầu ra sẽ thay đổi theo Tuy nhiên, những thay đổi về đầu vào và đầu ra đó có thể kiểm

Trang 29

soát được Vì thế, quá trình xây dựng mô hình công nghiệp hóa cũng là quá trình nghiên cứu, tìm tòi, sáng tạo để tạo được một mô hình công nghiệp hóa phù hợp nhất với điều kiện thực tiễn, nhằm rút ngắn tối thiểu thời gian hoàn thành công nghiệp hóa

1.2.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc xác định mô hình công nghiệp hóa

*Nhân tố bên trong

Tiềm lực kinh tế quốc gia

Nhân tố đầu tiên và cơ bản nhất ảnh hưởng đến việc xác định mô hình công nghiệp hóa là tiềm lực kinh tế của một quốc gia Tức là, một nước khi lựa chọn mô hình công nghiệp hóa phải xuất phát từ năng lực thực tế của nền kinh tế nước đó, gồm đất đai, tài nguyên, công nghệ, thu nhập, tích lũy…

Vào thời kỳ đầu mới giành được độc lập từ tay các nước thực dân, các nước đang phát triển đều có những điểm tương đồng, như tốc độ tăng trưởng kinh tế chậm chạp, thu nhập quốc dân tính theo đầu người thấp, mức độ đô thị hóa và sự phát triển của các ngành công nghiệp non yếu, năng lực quản lý của nhà nước thấp, khả năng kinh doanh của các doanh nghiệp kém, nguồn nhân lực có kiến thức và kỹ năng cần thiết cho phát triển công nghiệp ít, thiếu vốn, công nghệ lạc hậu, thị trường hàng hóa công nghiệp quá nhỏ Những đặc điểm đó đã chi phối việc lựa chọn mô hình công nghiệp hóa tại các nước này Thực tế là, vào khoảng hai thập niên 1950-1960, các nước này xác định mô hình công nghiệp hóa hướng nội

Do thực trạng của nền kinh tế mang nặng tính thuần nông như vậy nên bước vào quá trình công nghiệp hóa, nhiều nước đang phát triển đã chọn mục tiêu ưu tiên là dựa vào nông nghiệp Sau đó, khi nền kinh tế phát triển hơn, an ninh lương thực đã được đảm bảo tương đối, các nước lại bắt đầu thực hiện từng bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng giảm tỷ trọng của khu vực nông nghiệp có năng suất thấp, tăng tỷ trọng của công nghiệp và dịch vụ có năng suất và hiệu quả cao hơn Nói cách khác, mô hình công nghiệp hóa đã được chuyển từ hướng nội sang hướng ngoại, từ ưu tiên nông nghiệp sang công nghiệp

Thực tế, hầu hết các nước châu Á đều ưu tiên phát triển nông nghiệp trong thời

kỳ đầu công nghiệp hóa, đặc biệt là nền nông nghiệp lúa nước và các loại nông, hải sản khác như cà phê, cao su, hạt điều, chè, hạt tiêu, thủy hải sản, ngô, bông, đậu tương, đường, sữa…Các chính sách nông nghiệp được các nước áp dụng rất đa dạng, thường

Trang 30

mở đầu từ cải cách ruộng đất để đảm bảo người cày có ruộng; rồi triển khai phát triển sản xuất quảng canh đến thâm canh, thực hiện từng bước cơ khí hóa, thủy lợi hóa, hóa học hóa, phát triển cơ sở hạ tầng, cải tiến, lai tạo và gieo trồng các loại giống mới, thực hiện cách mạng xanh, cách mạng trắng, xây dựng các ngành công nghiệp chế biến nông sản, đẩy mạnh phát triển nông nghiệp hàng hóa, nâng cao khả năng cạnh tranh cả trên thị trường trong nước và quốc tế, góp phần nâng cao thu nhập, xóa đói giảm nghèo và nâng cao chất lượng sống ở nông thôn Chính nhờ được ưu tiên phát triển nên nông nghiệp đã đảm bảo cung cấp đủ lương thực cho người dân và có dư thừa để xuất khẩu, khắc phục nạn đói trầm trọng, đồng thời từ nông nghiệp cung cấp các yếu

tố đầu vào cho công nghiệp như lao động, vốn và thị trường tiêu thụ hàng hóa công nghiệp Như vậy, tại các nước đang phát triển thuộc châu Á, quá trình công nghiệp hóa nhìn chung bị chi phối bởi trình độ phát triển thấp của nền kinh tế nông nghiệp, do đó mọi đường lối, chính sách đều xuất phát từ nông nghiệp theo phương châm “lấy nông nghiệp nuôi công nghiệp” Thực thế cho thấy, những nước không đi theo con đường

đó, mà tập trung phát triển công nghiệp, thậm chí công nghiệp nặng trong điều kiện một nước nông nghiệp lạc hậu đều bị thất bại, tất cả họ đã phải chuyển hướng sang công nghiệp hóa từ nông nghiệp và công nghiệp nhẹ

Trong thời gian đầu do chưa có được các ngành công nghiệp riêng để làm cơ sở vững chắc cho nền độc lập dân tộc, các nước đã nỗ lực xây dựng các ngành công nghiệp non trẻ của mình, đẩy mạnh thực hiện công nghiệp hóa theo mô hình thay thế nhập khẩu, đặt nền móng cho sự phát triển của các ngành công nghiệp lớn và cả nền công nghiệp phát triển trong những thập kỷ tiếp theo Mặt khác, trong điều kiện nền kinh tế non yếu, muốn giữ được nền kinh tế độc lập tự chủ thì mô hình công nghiệp hóa khép kín, thay thế nhập khẩu, theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung, với việc phát triển khu vực kinh tế nhà nước và đề cao vai trò của nhà nước đã được nhiều quốc gia lựa chọn Về sau, khi nền kinh tế đã có một phần tích lũy, các nước bắt đầu chuyển sang ưu tiên công nghiệp Một yếu tố quan trọng trong phát triển công nghiệp là phải xây dựng các doanh nghiệp Trong thời kỳ đầu nhiều nước đang phát triển phải dựa chủ yếu vào các xí nghiệp quốc doanh được quốc hữu hóa từ tay các nhà công nghiệp của các nước thực dân chính quốc, sau đó xây dựng mới các xí nghiệp quốc doanh và tư doanh của tư nhân trong nước, đồng thời thu hút đầu tư

Trang 31

của các doanh nghiệp nước ngoài, đáp ứng các nhu cầu phát triển công nghiệp trong nước và mở rộng hội nhập quốc tế

Bất chấp những khó khăn, thiếu thốn, nhiều nước trong khu vực đã triển khai các chương trình công nghiệp hóa, cho đến nay một số nước đã đạt thành công lớn, trở thành những nền kinh tế công nghiệp, những con hổ của châu Á và thế giới Kết quả

đó khẳng định những yếu tố trên đây đóng vai trò to lớn đối với việc xác định mô hình công nghiệp hóa ở các nước đang phát triển thuộc châu Á thời kỳ những năm 1950-

1960, sau khi các nước này giành được độc lập từ các cường quốc thực dân Hơn nữa, những yếu tố đó không chỉ ảnh hưởng lớn tới thời kỳ đầu công nghiệp hóa ở các nước này, mà còn tiếp tục ảnh hưởng lớn tới tiến trình công nghiệp hóa về sau, góp phần nâng cao tốc độ tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội, phát triển nguồn nhân lực, xóa đói giảm nghèo, chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệp dịch vụ – nông nghiệp, nâng cao năng suất lao động, tăng cường huy động vốn, nâng cấp công nghệ, phát triển các loại hình doanh nghiệp, nâng cao vai trò của nhà nước và đến lượt mình nhà nước lại ngày càng đóng vai trò lớn hơn trong tiến trình công nghiệp hóa

Trình độ nguồn nhân lực

Nguồn nhân lực có kỹ năng và trình độ cao là yếu tố cơ bản của sự nghiệp công nghiệp hóa tại một quốc gia Cho nên, nếu một quốc gia có nguồn nhân lực yếu kém sẽ

khó thực hiện được mô hình công nghiệp hóa theo hướng hội nhập quốc tế

Một điều dễ nhận thấy là, các nước trong thời kỳ đầu công nghiệp hóa do trình

độ nguồn nhân lực còn thấp kém nên không thể nói đến một mô hình công nghiệp hóa hướng vào tương lai, như hướng vào xuất khẩu hay mở cửa hội nhập, phát triển kinh

tế tri thức Với một nguồn nhân lực trình độ thấp, cách phù hợp nhất để khai thác và sử dụng nó là phát triển dựa vào nông nghiệp và các tài nguyên thiên nhiên khác Do đó, nếu một quốc gia kém phát triển lựa chọn mô hình công nghiệp hóa hướng vào xuất khẩu ngay từ đầu sẽ khó thành công, cho dù đó là mô hình có nhiều ưu điểm vượt trội

so với các mô hình khác Đó là vì trình độ nhân lực và công nghệ của họ không cho phép tạo ra những sản phẩm hàng hóa có đủ sức để cạnh tranh với hàng hóa của các nước phát triển

Nhận thức được tầm quan trọng của nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hóa, các nước này đã đầu tư phát triển giáo dục, thậm chí coi trọng giáo dục

Trang 32

ngay cả trước khi có chính sách công nghiệp hóa, kể cả trong thời kỳ tiến hành cuộc đấu tranh giành độc lập Chính nhờ có nguồn nhân lực được đào tạo tới một trình độ nhất định mà các nước đang phát triển, đặc biệt tại châu Á đã khá thành công trong việc tiếp thu, sử dụng và phát triển các loại công nghệ truyền thống và công nghệ được chuyển giao từ các nước phát triển để xây dựng công nghiệp quốc gia Đó là nguyên nhân lý giải tại sao các NICs châu Á lại chỉ có thể vượt lên sau hơn chục năm tiến hành công nghiệp hóa theo mô hình thay thế nhập khẩu

Năng lực quản lý của bộ máy nhà nước

Trong nguồn nhân lực, bộ máy lãnh đạo và những người hoạch định chính sách cùng năng lực và trình độ của họ có tác động lớn nhất đến việc xác định mô hình và

tổ chức thực hiện thành công mô hình công nghiệp hóa Điều này thể hiện rõ nhất trong trường hợp các NICs châu Á khi chính phủ các nước này quyết định chuyển mô hình công nghiệp hóa từ thay thế nhập khẩu sang hướng vào xuất khẩu những năm 1960; hay trường hợp Trung Quốc xác định mô hình công nghiệp hóa kết hợp giữa thị trường và chủ nghĩa xã hội vào thập niên 1990; và cả trường hợp Việt Nam chuyển mô hình công nghiệp hóa từ thay thế nhập khẩu sang hướng vào xuất khẩu

và hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới kể từ năm 1986

Một bộ máy nhà nước có năng lực và trình độ cao sẽ xác lập được mô hình công nghiệp hóa phù hợp với từng điều kiện cụ thể, nhờ đó huy động tối đa nguồn lực quốc tế, đồng thời tận dụng các cơ hội phát triển thời đại tạo ra cho công nghiệp hóa, nhằm đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế xã hội Nói cách khác, tại các nước công nghiệp hóa đi sau, nếu Nhà nước biết lựa chọn mô hình công nghiệp hóa một cách khôn ngoan thì chỉ phải mất ít thời gian hơn để chuyển nền kinh tế từ trạng thái kém phát triển thành một nền kinh tế công nghiệp Chính phủ các nước và vùng lãnh thổ Hàn Quốc, Hồng Kông, Đài Loan và Singapore đã “khôn ngoan” theo cách đó, nhờ vậy các nước này đã trở thành nước công nghiệp hóa chỉ trong vòng vài ba thập kỷ Còn trường hợp Trung Quốc thì khác Chính phủ nước này lại “khôn ngoan” trong việc khai thác lợi thế bên ngoài, tạo nên sự thành công của công nghiệp hóa Cụ thể, Chính phủ Trung Quốc đã biết lợi dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên của nước khác

để vượt qua những giới hạn về nguồn cung ứng đầu vào trong nước cho sự nghiệp công nghiệp hóa

Trang 33

*Nhân tố bên ngoài

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, mô hình công nghiệp hóa của một nước không thể biệt lập với thế giới bên ngoài, mà ngược lại phải có mối liên hệ với nhau do sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế Vì vậy, khi xác định mô hình công nghiệp hóa các quốc gia cần phải tính đến những tác động từ bên ngoài này, trong đó quan trọng nhất là:

Xu thế mở cửa của các nền kinh tế

Sự phát triển thị trường, xu thế mở cửa nền kinh tế ngày càng sâu rộng của các nước đồng nghĩa với xu hướng tự do hóa kinh tế Điều đó có nghĩa, các rào cản về thương mại, đầu tư và các hoạt động kinh tế khác đều bị biến mất dần, làm cho việc di chuyển các nguồn lực từ nước này sang nước khác diễn ra một cách dễ dàng và nhanh chóng Trong điều kiện đó, các nước công nghiệp hóa đi sau dù còn nghèo vẫn có thể

có vốn, công nghệ và cả nhân lực trình độ cao để thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa Vậy nên, việc xác định mô hình công nghiệp hóa không nhất thiết phải bó hẹp trong khuôn khổ kinh tế hạn hẹp của một nước đang phát triển Mặt khác, một khi thị trường thế giới phát triển mạnh, biên giới “mềm” được mở rộng thì các nước công nghiệp hóa đi sau dù muốn cũng không thể áp dụng mô hình công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu như những năm 1960-1970, mà ngược lại, sự mở cửa thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế buộc các nước này phải chuyển sang mô hình công nghiệp hóa hướng vào xuất khẩu đồng thời thay thế nhập khẩu Tức là, trong thời đại toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, không thể thực hiện một mô hình công nghiệp hóa bó hẹp trong phạm vi một quốc gia, lại càng không thể thực hiện mô hình công nghiệp hóa khép kín; mà bất kể quốc gia công nghiệp hóa muộn nào cũng đều phải hướng nền kinh tế của mình vào nền kinh tế thị trường thế giới, theo đó mô hình công nghiệp hóa được lựa chọn cũng phải tính đến yếu tố quốc tế

Kinh tế thị trường phát triển, sự mở cửa nền kinh tế của mỗi quốc gia là điều kiện quan trọng để các nước đang phát triển thu hút dòng vốn đầu tư của nước ngoài Đây là một yếu tố rất quan trọng đối với việc hình thành mô hình công nghiệp hóa của một nước, nó không chỉ cung cấp vốn, mà còn là nguồn chuyển giao công nghệ, kinh nghiệm quản lý và kinh doanh Đầu tư nước ngoài gồm đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp Trong thời kỳ đầu công nghiệp hóa, hầu hết các nước đang phát triển dựa nhiều

Trang 34

vào đầu tư trực tiếp, nhưng một số nước như Hàn Quốc lại dựa vào đầu tư gián tiếp tới trên 90% tổng đầu tư nước ngoài

Thực tiễn cho thấy, dòng vốn đầu tư di chuyển giữa các nước đang ngày càng tăng, với tổng lượng hàng nghìn tỷ đôla mỗi năm Các nước đang phát triển như Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia, Việt Nam… đã tiếp nhận không ít lượng vốn này, nhờ đó thúc đẩy tốc độ tăng trưởng kinh tế Trung Quốc là nước đang phát triển nhận được lượng vốn đầu tư nước ngoài nhiều nhất, kèm theo đó là dòng công nghệ tiên tiến của thế giới Trong vài năm gần đây, quốc gia này đã tiếp nhận trên 150 tỷ đôla vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, trong đó trên 60% số doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sử dụng công nghệ được sản xuất trong năm năm gần đây Hiện nay, theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế, nhờ dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, Trung Quốc đã rút ngắn được khoảng cách công nghệ so với các nước phát triển từ 10-15 năm, với 60% công nghệ đạt trình độ ngang bằng các nước đó, và 11% được đánh giá ở mức độ tiên tiến Trong suốt hơn hai mươi năm qua, Trung Quốc được thế giới biết đến là nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nhất, trong đó sự đóng góp của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài ngày càng tăng, từ 0,5% năm 1980 lên 5,8% năm 1990, 17,9% năm 2000

và 30% năm 2008

Như vậy, rõ ràng những thành tựu trong phát triển kinh tế của thế giới, đặc biệt tại các nước công nghiệp là điều kiện quan trọng để các nước đi sau tận dụng vào việc phát triển kinh tế của họ Tuy nhiên, những thành tựu đó sẽ chỉ đến được với các nước đang phát triển khi các kênh luân chuyển vốn và công nghệ trên thị trường thế giới được diễn ra một cách tự do Do vậy, khi xác định lựa chọn mô hình công nghiệp hóa cần phải chú ý đến các “dòng chảy” của vốn, công nghệ và cả nhân lực của thế giới để khai thác và sử dụng chúng một cách hiệu quả nhất Nếu quốc gia nào không làm như vậy có nghĩa là họ đã bỏ qua cơ hội để rút ngắn thời kỳ công nghiệp hóa

Sự phát triển của nền kinh tế thế giới

Mô hình công nghiệp hóa của một nước không chỉ phụ thuộc vào sự phát triển kinh tế của nước đó, mà còn phụ thuộc rất lớn vào sự phát triển chung của nền kinh tế thế giới, trong đó vai trò của các công ty xuyên quốc gia (TNC) là rất đáng kể Nhiều nghiên cứu cho thấy, trong thời đại ngày nay, trong hoạt động cung cấp tri thức và công nghệ quan trọng nhất cho quá trình công nghiệp hóa các nước lại không phải là

Trang 35

các chính phủ và cũng không phải là các trường đại học, mà là các TNC, bởi kèm theo mỗi dự án đầu tư của các công ty này là những tri thức và công nghệ, cùng với trình độ quản lý và tiếp cận thị trường quốc tế cao nhất được chuyển tải đến đối tác Đó là những yếu tố rất cần đối với các nền kinh tế đi sau để rút ngắn khoảng cách phát triển

so với các nước đi trước Nói cách khác, sự phát triển của nền kinh tế thế giới, cụ thể

là các nước phát triển, đã tạo cơ hội cho một nước công nghiệp hóa muộn vẫn có thể lựa chọn mô hình công nghiệp hóa hướng vào xuất khẩu, và hơn thế là hướng vào công nghệ cao và kinh tế tri thức trong khi nền kinh tế còn kém phát triển

Sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế thế giới trong thời đại kinh tế tri thức đã tạo sự chuyển đổi nền sản xuất từ dựa vào tài nguyên và lao động là chính sang dựa vào trí tuệ con người Điều đó tạo nên sự biến đổi nhanh chóng trên mọi lĩnh vực, trước hết là lĩnh vực công nghệ, làm cho quá trình sản xuất diễn ra hết sức nhanh chóng, dồn dập… Trong bối cảnh đó, các nước công nghiệp hóa đi sau buộc phải và có thể lựa chọn mô hình công nghiệp hóa rút ngắn, nhanh chóng đuổi kịp các nước công nghiệp

1.2.2.3 Một số mô hình công nghiệp hóa ở các nước trên thế giới

Trong lịch sử công nghiệp hoá, hiện đại hoá diễn ra trên thế giới hàng trăm năm qua có sự đa dạng về mô hình Dưới đây chỉ tập trung nghiên cứu một vài mô hình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở các nước đang phát triển trong những thập kỷ gần đây

Đó là những nước trước đây vốn là thuộc địa hoặc nửa thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc, thực dân, đã giành được độc lập dân tộc, nền kinh tế trong tình trạng thấp kém

Do điều kiện kinh tế - xã hội như vậy, các nước có những điểm tương đồng với nước

ta về xuất phát điểm trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá

*Mô hình công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu (chiến lược hướng nội)

Mô hình công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu được áp dụng ở các nước đang phát triển sau chiến tranh thế giới lần thứ hai Nó được tiến hành trong bối cảnh quốc

tế đặc biệt Hệ thống thuộc địa tan rã, các quốc gia đang phát triển lần lượt giành được độc lập về chính trị, còn về kinh tế họ vẫn bị lệ thuộc vào hệ thống kinh tế tư bản ở mức độ khác nhau Các nước này thường phải nhập khẩu từ các nước tư bản phát triển hầu hết các mặt hàng công nghiệp, thậm chí cả lương thực, nguyên nhiên liệu Họ cũng bị lệ thuộc cả về tài chính do phải vay nợ Các quốc gia nghèo lúc đó cho rằng họ phải tiến hành một cuộc đấu tranh giành độc lập về kinh tế, nghĩa là xây dựng cho

Trang 36

mình một nền kinh tế độc lập tự chủ, có khả năng tự đảm bảo lấy hầu hết các nhu cầu trong nước, ít lệ thuộc vào bên ngoài Bên cạnh đó, các nước phương Tây tuy đã buộc phải trao trả quyền độc lập cho các nước đang phát triển, nhưng họ chưa từ bỏ ý đồ thực dân đối với các nước đó, không chịu chuyển nhượng công nghệ, không chịu mở cửa thị trường cho các nước đang phát triển và muốn kìm hãm các nước đang phát triển trong vòng lạc hậu, phụ thuộc Trong bối cảnh quốc tế đó, mô hình công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu đã ra đời như một tất yếu lịch sử

 Mục tiêu của chiến lược thay thế nhập khẩu

Do điều kiện kinh tế - xã hội của các nước và những tác động khách quan của điều kiện kinh tế quốc tế, nên việc xác định mục tiêu cụ thể trong chiến lược CNH có những điểm khác nhau giữa các nước nhưng về cơ bản các mục tiêu của mô hình công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu có thể được khái quát như sau:

- Khai thác nguồn lực tại chỗ để đáp ứng nhu cầu cơ bản, cấp bách của thị trường trong nước;

- Giảm thiểu ngoại tệ chi tiêu cho nhập hàng hoá từ nước ngoài;

- Khai thác thị trường nội địa để phát triển các ngành nghề sẵn có;

- Tạo nhiều việc làm, giảm bớt lạm phát và thất nghiệp

Thực chất mô hình công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu là mỗi nước cần phát triển mạnh mẽ việc sản xuất hàng tiêu dùng để thay thế các hàng hoá vẫn phải nhập khẩu từ các nước tư bản Sự phát triển như vậy sẽ mang lại tác dụng nhiều mặt: khai thác các nguồn lực sẵn có để thoả mãn các nhu cầu cơ bản và cấp thiết trong nước, mở rộng thị trường nội địa, phát triển sản xuất hàng hoá, tạo thêm việc làm, góp phần giải quyết các vấn đề xã hội bức xúc và tiết kiệm ngoại tệ

 Chính sách và biện pháp triển khai mô hình CNH thay thế nhập khẩu

Xuất phát từ mục tiêu trên, nội dung cơ bản của chiến lược công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu nhằm xác định được tổng cầu mỗi loại hàng hoá trong nước qua phân tích và tính toán lượng hàng hoá thực tế phải nhập khẩu trước đây, dựa vào tổng

số và cơ cấu dân cư, mức sống Nhìn chung, chiến lược hướng nội lấy trọng tâm là thị trường trong nước để phát triển sản xuất và lưu thông hàng hoá Thực tế, chiến lược này về cơ bản không đồng nghĩa với việc bế quan toả cảng" hay "đóng cửa" nền kinh

tế, mà các quan hệ kinh tế đối ngoại vẫn được chú ý, đặc biệt là nhập khẩu các tư liệu

Trang 37

sản xuất để sản xuất hàng thay thế hàng nhập khẩu hay kêu gọi đầu tư nước ngoài vào các mục tiêu thay thế nhập khẩu Chiến lược công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu đã được thực hiện thông qua hàng loạt chính sách và biện pháp sau:

- Bảo hộ sản xuất và thị trường trong nước

Để trợ giúp sản xuất trong nước có thể tồn tại và phát triển, kích thích đầu tư vào các ngành thuộc mục tiêu ưu tiên, nhà nước thiết lập hàng rào bảo hộ sản xuất trong nước bằng chính sách thuế quan, bằng hàng rào phi thuế quan, bằng chính sách hạn chế nhập khẩu v.v để bảo vệ những ngành công nghiệp trong nước non trẻ, giữ cho những ngành công nghiệp này được đặc quyền tiêu thụ hàng hoá trên thị trường nội địa Phong trào bài trừ hàng ngoại xuất hiện rất mạnh ở các nước trong thời kỳ thực hiện chiến lược này

- Khuyến khích phát triển các ngành công nghiệp thay thế hàng nhập khẩu Các nước đang phát triển đi từ điểm xuất phát thấp, nên phải nhập khẩu nhiều hàng công nghiệp từ các quốc gia đã công nghiệp hoá cao, đặc biệt là máy móc thiết

bị Các nước đang phát triển chỉ là nơi cung cấp nông phẩm, tài nguyên và là thị trường tiêu thụ hàng công nghiệp cho các nước phát triển Đây là quan hệ phụ thuộc một chiều gây nhiều bất lợi cho các nước nghèo Để giảm sự lệ thuộc này, các nước đang phát triển đã tìm cách xây dựng cho mình các ngành công nghiệp tự đáp ứng nhu cầu trong nước, thay thế dần nhập khẩu Nhiều quốc gia đặt cho mình mục tiêu xây dựng những ngành công nghiệp thiết yếu, có thể đảm bảo được những nhu cầu cơ bản của đất nước như năng lượng, luyện kim, cơ khí, hoá chất… Họ xem những ngành công nghiệp trên đây là cơ sở đảm bảo nên độc lập tự chủ nhằm trang bị cơ sở vật chất

- kỹ thuật cho nền kinh tế quốc dân và thoát khỏi sự lệ thuộc vò bên ngoài Do vậy, nhà nước chủ trương khuyến khích các nhà sản xuất trong nước đầu tư và dần dần làm chủ được kỹ thuật sản xuất Đồng thời còn khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào sản xuất hoặc cung cấp công nghệ, vốn, kỹ năng quản lý Trong quá trình

ấy, những chính sách như cố định tỷ giá đồng nội tệ thường được giữ ở mức cao để khuyến khích thay thế nhập khẩu; mức lãi suất rất thấp và bao cấp rộng rãi cho các doanh nghiệp nhà nước; nhà nước kiểm soát giá cả và thương mại, đặc biệt là ngoại thương chặt chẽ

Trang 38

Nhìn chung, hầu hết các nước khi theo đuổi mô hình công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu đều chú trọng nhiều đến việc xây dựng hệ thống các doanh nghiệp nhà nước Do vậy, trong thời kỳ công nghiệp theo hướng thay thế nhập khẩu, khu vực kinh

tế quốc doanh đã phát triển mạnh mẽ ở nhiều nước đang phát triển Từ thực tế các nước đang phát triển vào thập kỷ 50, 60 cho thấy, chính sách bảo hộ sản xuất và thị trường trong nước tiến triển qua ba giai đoạn: thứ nhất, bảo hộ với cường độ cao để khuyến khích sản xuất và tiêu dùng trong nước; thứ hai, giảm dần mức độ bảo hộ, yêu cầu các doanh nghiệp trong nước vươn lên hạ giá thành, nâng cao chất lượng hàng hoá; thứ ba, các doanh nghiệp trong nước khống chế được thị trường trong nước và vươn ra thâm nhập thị trường quốc tế

 Kết quả và hạn chế của mô hình CNH thay thế nhập khẩu

Việc thực hiện chiến lược thay thế nhập khẩu đã đem lại sự mở mang nhất định các

cơ sở sản xuất, giải quyết công ăn việc làm, quá trình đô thị hóa bắt đầu Chính sách khuyến khích công nghiệp trong nước có tác dụng mở rộng và tăng cường phát triển các doanh nghiệp cũng như đội ngũ doanh nhân dân tộc trong công thương nghiệp

Tuy vậy, thực tế cho thấy nếu dừng lại quá lâu ở giai đoạn chiến lược thay thế nhập khẩu sẽ vấp phải những trở ngại rất lớn Trong xu hướng quốc tế hoá và khu vực hoá kinh tế ngày càng tăng lên dẫn đến sự liên hệ và tuỳ thuộc tất yếu giữa các quốc gia trong quá trình sản xuất và trao đổi hàng hoá Bên cạnh đó, sự phát triển mạnh mẽ của cách mạng khoa học kỹ thuật đang trở thành yếu tố quyết định đến sự tăng trưởng kinh tế và tự bản thân nó đã phá vỡ các mối quan hệ đóng cửa giữa các quốc gia Tâm

lý nóng vội chủ quan của các nước đang phát triển đã dẫn đến thực tế là việc xây dựng

và phát triển những ngành công nghiệp qui mô lớn nhưng chu chuyển tư bản chậm, công suất máy móc sử dụng lãng phí trong khi lợi thế so sánh để tăng xuất khẩu không được khuyến khích Mặt khác các chính sách trợ cấp, trợ giá tràn lan trong điều kiện

dự trữ ngân sách nghèo nàn làm cho cán cân thanh toán, cán cân thương mại luôn luôn mất cân bằng Chính sách hướng nội trong điều kiện thị trường nội địa nhỏ hẹp, khả năng tiêu dùng của đại bộ phận cư dân còn thấp, làm cho tăng trưởng chậm và thất nghiệp tăng Thực tế ấy được biểu hiện cụ thể ở những khía cạnh sau:

Thứ nhất, hầu hết việc thay thế hàng nhập khẩu đã được thực hiện bằng việc

nhập khẩu nhiều tư liệu sản xuất và sản phẩm trung gian từ nước ngoài Do vậy, xuất

Trang 39

hiện hai kết cục: Một mặt, các ngành công nghiệp cần nhiều vốn được thiết lập, thường là phục vụ thói quen tiêu dùng của những người giàu, có rất ít tác động tạo công ăn việc làm Mặt khác, tình hình cán cân thanh toán của các nước đang phát triển trong tình trạng không được cải thiện lại càng trở nên tồi tệ hơn do thay thế hàng nhập khẩu Đồng thời, sản xuất thay thế nhập khẩu thu ngoại tệ, do đó không phải là kế sách lâu dài để bù vào chỗ thiếu hụt trong cán cân thương mại

Thứ hai, quá trình thay thế nhập khẩu giúp các công ty nước ngoài, họ có thể

đứng sau bức tường thuế quan và tận dụng ưu đãi về đầu tư và giảm thuế Vì thế, họ thu được nguồn lợi nhuận rất lớn Phần còn lại thuộc về những nhà công nghiệp trong nước có hợp tác với các công ty nước ngoài Thực tế cho thấy, xét về lợi ích quốc gia chiến lược này có nhiều bất lợi

Thứ ba, mô hình công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu có tác dụng không tốt đối

với việc xuất khẩu các sản phẩm truyền thống Để khuyến khích sản xuất trong nước qua việc nhập khẩu hàng tư liệu sản xuất và sản phẩm trung gian, nên tỷ giá hối đoái thường bị "nâng giá" giả tạo Tác động của việc này là làm giá hàng xuất khẩu tăng và giá hàng nhập khẩu giảm theo giá đồng nội tệ Như vậy vượt ra ngoài chủ định của chiến lược, các phương pháp sản xuất cần nhiều vốn có điều kiện phát triển và tác động tiêu cực đến khu vực sản xuất hàng sơ chế truyền thống do giá nông phẩm và nguyên liệu trong nước trở nên kém cạnh tranh trên thị trường thế giới Như vậy, bảo

hộ công nghiệp không có tác dụng khuyến khích xuất khẩu hàng nông phẩm Các chính sách trong mô hình công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu thực tế đã làm trầm trọng thêm bất bình đẳng về phân phối thu nhập trong nước do ưu đãi khu vực thành thị và nhóm người có thu nhập cao, trong khi đó lại phân biệt đối xử đối với khu vực nông thôn và nhóm người có thu nhập thấp

Thứ tư, chiến lược thay thế hàng nhập khẩu có khi còn gây tiêu cực với công

nghiệp trong nước Nhiều ngành "công nghiệp non trẻ" chẳng bao giờ mạnh lên vì họ bằng lòng nấp đằng sau hàng rào thuế quan bảo hộ

Thứ năm, mô hình công nghiệp hoá thay thế hàng nhập khẩu thực chất là nhằm

vào thoả mãn nhu cầu trong nước là chính, chú trọng nhiều đến tỷ lệ tự cấp của thị trường nội địa Với chiến lược như vậy, thương mại quốc tế không được coi trọng, không tận dụng được ảnh hưởng tích cực của kinh tế thế giới đối với sự phát triển kinh

Trang 40

tế trong nước Điều đó tất sẽ hạn chế việc khai thác tiềm năng của đất nước trong việc phát triển thương mại và các quan hệ kinh tế đối ngoại khác

Thứ sáu, kinh tế của các nước đang phát triển trong giai đoạn đầu công nghiệp

hoá có nhiều khó khăn, tổng cầu vượt quá tổng cung, và thường thông qua nhập khẩu

để cân bằng Xu hướng này không thể khắc phục được trong thời gian ngắn, nếu hạn chế quá mức nhập khẩu Việc thực hiện chính sách bảo hộ không thích hợp sẽ làm giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế

*Mô hình công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu (chiến lược hướng ngoại)

Từ cuối thập kỷ 60, đầu thập kỷ 70 một số quốc gia đang phát triển do nhận thức sớm về vai trò tác động của kinh tế thị trường đã nhanh chóng chuyển đổi chiến lược CNH-HĐH Do vậy, chiến lược công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu được áp dụng phổ biến ở các nước đang phát triển trong mấy thập kỷ gần đây

 Mục tiêu của chiến lược công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu

- Mục tiêu cơ bản của chiến lược là dựa vào đầu tư trực tiếp cũng như sự hỗ trợ về vốn, kỹ thuật bên ngoài để tạo ra khả năng cạnh tranh và đẩy nhanh xuất khẩu Nhân tố then chốt trong toàn bộ quá trình này là chính phủ tạo những điều kiện tốt nhất để hấp dẫn đầu tư trực tiếp của tư bản nước ngoài, đồng thời tiến hành những cải cách kinh tế trong nước tạo môi trường thuận lợi cho vốn đầu tư được sử dụng có hiệu quả hơn;

- Thực hiện mở cửa nền kinh tế hướng ra thị trường nước ngoài nhằm khai thác lợi thế so sánh trong trật tự phân công lao động quốc tế

- Đa dạng hoá trong sản xuất, kinh doanh trên cơ sở khai thác tối đa nguồn lực

để tăng nhanh xuất khẩu; Vai trò vốn nước ngoài và các công ty ngoại quốc được nhấn mạnh hơn

Như vậy, trong thời kỳ công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu, ảnh hưởng của tư bản nước ngoài với thị trường địa phương là đáng kể Các nước chủ nhà thực sự mở cửa tiếp cận với các lực lượng thị trường tự do cạnh tranh quốc tế Chính tự do cạnh tranh là yếu tố quan tọng để thúc đẩy sự phát triển Với các chủ đầu tư thì chiến lược này thực chất là dựa vào các quan hệ kinh tế quốc tế để xây dựng những nền tảng kinh

tế và các lực lượng xã hội ở các nước sở tại Đây cũng là cơ hội thuận lợi cho các nước tiếp nhận đầu tư thu hút được vốn, công nghệ và kinh nghiệm tổ chức, quản lý, kinh doanh hiện đại nhằm tăng nhanh nhịp độ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Ngày đăng: 21/02/2020, 00:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w