Luật thuế TNCN áp dụng 2 loại thuế suất: + Đối với thu nhập từ kinh doanh và tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú áp dụng theo biểu thuế luỹ tiến từng phần.. Khi thuế thu nhập cá nhâ
Trang 1Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của tôi Số liệu được nêu trong luận văn là trung thực và có trích nguồn Kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Trang 2MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN 4
1.1 Lý luận chung về Thu nhập và thuế Thu nhập cá nhân 4
1.1.1 Hoàn cảnh ra đời 4
1.1.2 Khái niệm thu nhập và thuế TNCN 4
1.1.2.1 Khái niệm thu nhập 4
1.2.2.2 Khái niệm về thuế TNCN 5
1.2.3 Các yếu tố cơ bản của thuế TNCN 5
1.2.4 Đặc điểm của thuế TNCN 7
1.2.5 Mục đích, ý nghĩa và vai trò của thuế TNCN trong nền kinh tế 8
1.2.5.1 Mục đích, ý nghĩa của thuế TNCN 8
1.2.5.2 Vai trò của thuế TNCN trong nền kinh tế 9
1.2.6 Mối quan hệ giữa thuế TNCN và thuế TNDN 11
1.2.7 Nguyên tắc và phương pháp tính thuế TNCN 12
1.2.7.1 Nguyên tắc tính thuế TNCN 12
1.2.7.2 Phương pháp tính thuế TNCN 13
1.3 Bài học về xây dựng, thực hiện chính sách thuế TNCN của một số nước trên thế giới 14
1.3.1 Luật thuế TNCN tại Trung Quốc 15
1.3.2 Luật thuế TNCN tại Nhật Bản 17
1.3.3 Luật thuế TNCN tại Thái Lan 17
1.3.4 Luật thuế TNCN tại Pháp 18
1.4 Kết luận chương 1 21
CHƯƠNG 2:THỰC TRẠNG VỀ CHÍNH SÁCH THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN Ở VIỆT NAM 22
2.1 Sự cần thiết ban hành, sửa đổi chính sách thuế TNCN tại Việt Nam 22
2.2 Chính sách thuế Thu nhập cá nhân tại Việt Nam qua các thời kỳ 23
Trang 32.2.1.1 Thời kỳ phong kiến, thực dõn trước Cỏch mạng Thỏng 8 23
2.2.1.2 Thời kỳ trước 30/4/1975 ở miền Nam Việt Nam 26
2.2.2 Giai đoạn sau năm 1990 - Phỏp lệnh thuế thu nhập đối với người cú thu nhập cao 27
2.3 Luật thuế Thu nhập cá nhân ở Việt Nam 42
2.4 Đánh giá tình hình thực hiện pháp lệnh thuế thu nhập đối với ngời có thu nhập cao và chính sách thuế thu nhập cá nhân hiện nay 49
2.4.1 Những thành tựu đạt đợc 49
2.4.2 Những hạn chế 59
2.4.3 Nguyờn nhõn 65
2.5 Kết luận chương 2 68
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN 69
3.1 Định hướng trong thời gian tới 69
3.2 Một số giải phỏp nhằm hoàn thiện chớnh sỏch thuế TNCN 73
3.2.1 Xỏc định khoản thu nhập thuộc diện chịu thuế TNCN 73
3.2.2 Xỏc định cỏc khoản thu nhập miễn thuế TNCN 74
3.2.3 Mức giảm trừ gia cảnh 77
3.2.4 Xỏc định thuế suất, biểu thuế 81
3.2.5 Cấp mó số thuế TNCN 83
3.2.6 Quản lý thu thuế 83
3.2.7 Thanh tra thuế 84
3.3 Kết luận chương 3 84
KẾT LUẬN 86
Trang 4- TNĐVNCTNC: Thu nhập đối với người có thu nhập cao.
- TNC: Thu nhập cao
- TNCN: Thu nhập cá nhân
- NSNN: Ngân sách Nhà nước
- TNDN: Thu nhập doanh nghiệp
- PL-UBTVQH: Pháp lệnh-Uỷ ban thường vụ Quốc hội
- BC-UBTVQH12: Báo cáo-Uỷ ban thường vụ Quốc hội khoá 12
- TT-BTC: Thông tư-Bộ Tài chính
- VN: Việt Nam
- TNTT: Thu nhập tính thuế
Trang 5DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Biểu thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao là công dân Việt
Nam và cá nhân khác định cư tại Việt Nam 31
Bảng 2.2: Biểu thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao là người nước ngoài cư trú tại Việt Nam và công dân Việt Nam lao động, công tác ở nước ngoài 31
Bảng 2.3: Biểu thuế TNCN đối với thu nhập từ kinh doanh và tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú 47
Bảng 2.4: Biểu thuế TNCN đối với các khoản thu nhập còn lại 48
Bảng 2.5: Số thuế thu nhập cao trong tổng thu Ngân sách Nhà nước giai đoạn 1991-2008 50
Bảng 2.6: Số thuế thu nhập cá nhân trong tổng thu Ngân sách Nhà nước giai đoạn 2009-2011 52
Bảng 2.7: Số liệu thu thuế TNCN năm 2010 và 6 tháng đầu năm 2011 54
Bảng 2.8 : Tình hình cấp mã số thuế cá nhân trên địa bàn Hà Nội 55
Bảng 2.9: Kết quả thu thuế thu nhập cao của Cục thuế Hà Nội 58
Bảng 2.10: Kết quả thu thuế TNCN của Cục thuế Hà Nội 58
Bảng 3.1: Dự thảo biểu thuế luỹ tiến từng phần 70
Bảng 3.2: Số người nộp thuế từ tiền lương, tiền công và kinh doanh 79
Bảng 3.3: Mức giảm trừ gia cảnh của một số nước trong khu vực 80
Bảng 3.4: Biểu thuế luỹ tiến từng phần theo Luật quy định 81
Bảng 3.5: Mức thuế suất cao nhất của một số nước trong khu vực 82
Bảng 3.6: Biểu thuế luỹ tiến từng phần thay đổi 82
Biểu đồ 2.1 Kết quả thu thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam qua các năm 53
Biểu đồ 2.2: Kết quả thu Thuế thu nhập cao và thuế TNCN của Cục thuế Hà Nội 58
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Quá trình mở cửa, hội nhập kinh tế trong khu vực tiến đến toàn cầu hóanền kinh tế đang dần chứng tỏ là một qui luật Để bắt kịp với quá trình này,mỗi quốc gia phải liên tục có những cải cách nhằm phù hợp và thích nghi vớimôi trường bên ngoài Trong công cuộc cải cách đó, cải cách về thuế luônđược các quốc gia đặc biệt chú trọng bởi tầm quan trọng của nó đối với sựphát triển và ổn định lâu dài về mọi mặt của mỗi quốc gia Khái niệm cạnhtranh về thuế giữa các quốc gia lớn trên thế giới đã xuất hiện trong một haithập kỉ gần đây khiến cho các quốc gia còn lại phải liên tục tiến hành cải cáchthuế nhằm tăng cường sức cạnh tranh trên các lĩnh vực thương mại mậu dịch,lực lượng lao động
Việt Nam đang đi trên con đường đổi mới và hội nhập với nền kinh tếthế giới Hiện nay chúng ta đã ký kết hiệp định về thuế quan AFTA, hiệp địnhthương mại Việt-Mỹ, đồng thời là thành viên chính thức của WTO thì nhữngbiến đổi về cơ cấu thuế và nguồn thu ngân sách là điều không thể tránh khỏi.Nhận thức được điều đó, nước ta đang từng ngày cải cách nhằm hoàn thiện hệthống thuế để theo kịp với tốc độ phát triển kinh tế của các nước trong khuvực và thế giới, đồng thời cũng có thể đạt được các mục tiêu về kinh tế-xãhội-chính trị mà Nhà nước đề ra
Thuế là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế, điều hòa thu nhập, thựchiện công bằng xã hội và là công cụ chủ yếu huy động nguồn lực vật chất choNhà nước Trong điều kiện kinh tế Việt Nam hiện nay, thuế gián thu giữ vaitrò chủ đạo Tuy nhiên, với mục đích điều hòa thu nhập, thực hiện công bằng
xã hội bằng thuế trong nền kinh tế thì thuế trực thu lại thể hiện tính ưu việthơn, đồng thời tăng nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước một cách hợp lý Vìvậy, hướng đến một chính sách thuế thu nhập là điều tất yếu nhằm góp phầnđiều tiết bớt một phần thu nhập từ các tầng lớp người có thu nhập cao trong
Trang 8xã hội, hình thành các quỹ tiền tệ tập trung giúp Nhà nước ngày càng thựchiện tốt hơn các chính sách xã hội của mình.
Qua hơn 20 năm thực thi, Quốc hội nước ta đã thay thế Pháp lệnh thuếTNĐVNCTNC bằng Luật thuế TNCN hiện nay, trải qua các lần sửa đổi, bổxung, thay thế để phù hợp hơn với điều kiện và hoàn cảnh kinh tế xã hội,chính sách thuế đã đạt được kết quả nhất định Tuy nhiên sau thời gian ápdụng Luật thuế TNCN từ 01/01/1999, Luật thuế đã bộc lộ nhiều hạn chế trongchính sách do đời sống người dân ngày càng cải thiện, đi kèm với nó là sự giatăng của lạm phát, chỉ số giá tiêu dùng ngày càng tăng cao, tổng sản phẩmquốc dân bình quân trên đầu người không ngừng gia tăng Mức giảm trừ giacảnh đối với bản thân người lao động là 4.000.000đ/người/tháng, đối vớingười phụ thuộc là 1.600.000đ/người/tháng không đủ cho nhu cầu thiết yếucủa người lao động Đồng thời Luật thuế chưa kiểm soát được toàn bộ thunhập của người lao động, nhiều khoản thu nhập miễn thuế chưa hợp lý, tìnhtrạng kê khai, trốn thuế vẫn tồn tại làm thất thu NSNN Do đó, Luật thuếTNCN cần được hoàn thiện để đảm bảo tính công bằng trong xã hội và tạo lậpnguồn thu NNN từ sắc thuế này
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài.
Xuất phát từ thực tế của Việt Nam, góp phần hoàn thiện Luật thuế thunhập cá nhân và để chống lại nạn thất thu thuế thu nhập cá nhân, tăng ngânsách nhà nước, nên tôi đã chọn nghiên cứu đề tài:
“Một số giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách thuế Thu nhập cá nhân ở Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế” làm Luận văn
tốt nghiệp Thạc sĩ kinh tế
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi của đề tài này, tôi tập trung phân tích, đánh giá thựctrạng việc áp dụng Pháp lệnh thuế TNĐVNCTNC và Luật thuế TNCN ở nước
ta từ năm 1991 đến nay, đồng thời có tham khảo việc áp dụng thuế Thu nhập
cá nhân ở một số quốc gia trên thế giới Từ đó đưa ra những vấn đề cần hoàn
Trang 9thiện và xây dựng một chính sách thuế Thu nhập cá nhân sao cho phù hợp vớiđiều kiện kinh tế xã hội tại Việt Nam trong thời gian tới
4 Phương pháp nghiên cứu.
Sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu, trong đó chủ yếu làphương pháp phân tích và tổng hợp, các phương pháp định tính, định lượng
và các công cụ thống kê, khảo sát thực tế
5 Kết cấu của luận văn
- Lời cam đoan
- Danh mục viết tắt
- Danh mục bảng biểu, sơ đồ
- Mục lục
- Mở đầu
Chương 1: Lý luận chung về thuế Thu nhập cá nhân
Chương 2: Thực trạng áp dụng chính sách thuế Thu nhập cá nhân ởViệt Nam
Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách thuế TNCN ởViệt Nam
- Kết luận
- Danh mục tài liệu tham khảo
- Phụ lục đính kèm
Trang 10Ngày 27/12/1990, Pháp lệnh Thuế thu nhập đối với người có thu nhậpcao (Income Tax on high - Income earner) đã được Ủy ban Thường vụ Quốchội thông qua Ðể phù hợp với tình hình thực tế của từng giai đoạn phát triểnkinh tế - xã hội của đất nước, từ đó đến nay đã có 06 lần sửa đổi, bổ sungPháp lệnh Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao: lần thứ nhất vàongày 10/3/1992, lần thứ hai vào ngày 1/6/1994, lần thứ ba vào ngày 6/2/1997,lần thứ 4 vào ngày 30/6/1999, lần thứ năm vào ngày 13/6/2001 có hiệu lực thihành từ ngày 1/7/2001 và lần thứ 6 là Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung số 14/2004/PL-UBTVQH11 ban hành năm 2004 có hiệu lực từ ngày 01/07/2004 đến khi
có Luật thuế TNCN được ban hành và có hiệu lực
1.1.2 Khái niệm thu nhập và thuế TNCN.
1.1.2.1 Khái niệm thu nhập.
Một vài điểm chính về thu nhập:
- Thu nhập luôn gắn với một chủ thể nhất định trong nền kinh tế,
xã hội thể hiện tính sở hữu của thu nhập
- Việc xác định thu nhập của các chủ thể khác nhau trong một thời giannhất định được biểu hiện dưới hình thức tiền tệ – là hình thức thông qua đóbiết được tổng thu nhập các nguồn khác nhau của một cá nhân hay một phápnhân
- Thu nhập được hình thành thông qua quá trình phân phối và phânphối lại thu nhập quốc dân, do thị trường và Nhà nước thực hiện
Trang 11Từ các đặc điểm trên khái niệm về thu nhập được tổng hợp như sau: Thu nhập là tổng các giá trị tài sản và của cải được biểu hiện dưới hình thức tiền tệ do một chủ thể trong nền kinh tế - xã hội tạo ra và nhận được từ các nguồn lao động, tài sản hay đầu tư thông qua quá trình phân phối tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm)
1.2.2.2 Khái niệm về thuế TNCN
Thuế TNCN là một trong các sắc thuế xuất hiện khá sớm trong lịch sửphát triển thuế khoá của hầu hết các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là nhữngnước có nền kinh tế thị trường phát triển Lần đầu tiên xuất hiện ở Anh vàonăm 1799 thuế TNCN đã được áp dụng như một hình thức thu tạm thời nhằmmục đích trang trải cho cuộc chiến tranh chống Pháp và được chính thức banhành vào năm 1842 Sau đó thuế thu nhập cá nhân đã nhanh chóng đượcnghiên cứu, ban hành và áp dụng ở các nước khác như: Nhật (1887), Mỹ(1913), Pháp (1914), Liên Xô (1922), Trung Quốc (1936)
Về nguyên tắc, bất kỳ một thể nhân hay pháp nhân nào khi nhận đượcthu nhập dưới bất cứ hình thái nào (hiện vật hay giá trị) và bất kể từ nguồnnào (do lao động, hay đầu tư…) đều phải trích một phần từ thu nhập đó đểnộp cho Nhà nước dưới dạng thuế thu nhập
Thuế TNCN là thuế trực thu đánh vào thu nhập chịu thuế có được của cá nhân trong kỳ tính thuế (thường là một năm).
1.2.3 Các yếu tố cơ bản của thuế TNCN.
*
Đối tượng nộp thuế
Cá nhân cư trú nộp thuế đối với mọi khoản thu nhập phát sinh trong vàngoài phạm vi lãnh thổViệt Nam và cá nhân không cư trú chỉ phải nộp thuếđối với khoản thu nhập phát sinh trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam
* Thu nhập chịu thuế.
Thu nhập chịu thuế của một cá nhân trong kỳ tính thuế là toàn bộ thunhập cá nhân nhận được Do đó, tổng thu nhập của một đối tượng sẽ không
Trang 12bao gồm những khoản miễn thuế Để xác định tổng thu nhập cần phải xácđịnh từng khoản cấu thành tổng thu nhập theo từng loại thu nhập cụ thể, tức làxem xét tổng thu nhập được hình thành từ những nguồn nào
Tuy nhiên, không phải mọi khoản thu nhập của người nộp thuế đều đưavào thu nhập chịu thuế Tùy theo mục đích đánh thuế mà có khoản thu nhậpkhông thuộc diện chịu thuế Hiện nay thuế TNCN có 10 khoản thu nhập chịuthuế
+ Thu nhập từ kinh doanh
+ Thu nhập từ tiền lương, tiền công
+ Thu nhập từ đầu tư vốn
+ Thu nhập từ chuyển nhượng vốn
+ Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản
* Thu nhập miễn thuế.
Thu nhập miễn thuế là phần thu nhập không phải tiến hành nộp thuếTNCN Hiện nay theo Luật thuế TNCN quy định có 14 khoản thu nhập đượcmiễn thuế vì đây là phần thu nhập Nhà nước chưa thu thuế, đồng thời là phầnthu nhập nhằm mục đích khuyến khích hoặc vì mục đích từ thiện, nhân đạo…
* Căn cứ và phương pháp tính thuế.
- Căn cứ tính thuế: Thu nhập tính thuế và thuế suất
Phương pháp tính thuế:
Số thuế TNCN phái nộp = Thu nhập tính thuế * Thuế suất
- Thu nhập tính thuế được xác định khác nhau cho cá nhân cư trú và cánhân không cư trú
Trang 13- Thu nhập tính thuế là phần thu nhập còn lại của thu nhập chịu thuếsau khi đã trừ đi một số khoản chi phí để tạo ra thu nhập đó.
*
Thuế suất.
Luật thuế TNCN áp dụng 2 loại thuế suất:
+ Đối với thu nhập từ kinh doanh và tiền lương, tiền công của cá nhân
cư trú áp dụng theo biểu thuế luỹ tiến từng phần
+ Đối với mọi khoản thu nhập khác còn lại của cá nhân cư trú và cáckhoản thu nhập của cá nhân không cư trú thì áp dụng mức thuế suất toànphần
* Chế độ giảm thuế.
Giảm thuế được áp dụng trong trường hợp đối tượng nộp thuế gặp khókhăn do thiên tai, hoả hoạn, tai nạn, bệnh hiểm nghèo ảnh hưởng đến khảnăng nộp thuế và được xét giảm thuế tương ứng với mức độ thiệt hại nhưngkhông vượt quá số thuế phải nộp
* Đăng ký thuế, khấu trừ thuế, khai thuế, quyết toán thuế và hoàn thuế.
Việc đăng ký thuế, kê khai, khấu trừ thuế, nộp thuế, quyết toán thuế vàhoàn thuế, xử lý vi phạm về pháp luật thuế và các biện pháp quản lý thuếđược thực hiện theo quy định của pháp luật về Quản lý thuế
1.2.4 Đặc điểm của thuế TNCN.
- Thuế TNCN là một loại thuế trực thu đánh trực tiếp vào thu nhập củamỗi cá nhân Do là thuế trực thu nên nó phản ánh sự đồng nhất giữa đối tượngnộp thuế theo luật và đối tượng chịu thuế theo ý nghĩa kinh tế Người chịuthuế thu nhập cá nhân không có khả năng chuyển giao gánh nặng của thuếsang cho các đối tượng khác tại thời điểm đánh thuế
- Thuế TNCN có diện đánh thuế rộng, thể hiện trên hai khía cạnh: một
là đối tượng đánh thuế TNCN là toàn bộ các khoản thu nhập của cá nhânthuộc diện đánh thuế, không phân biệt thu nhập đó có nguồn gốc phát sinhtrong nước hay ở nước ngoài; hai là đối tượng phải kê khai nộp thuế TNCN là
Trang 14toàn bộ những người có thu nhập, bao gồm tất cả công dân của nước sở tại vànhững người nước ngoài cư trú thường xuyên hay không thường xuyên nhưng
có số ngày có mặt, làm việc, có thu nhập theo mức độ quy định của pháp luậtthuế TNCN
- Thuế TNCN và thuế TNDN đều là thuế trực thu nhưng thuế TNCNkhác với thuế TNDN ở chỗ khi tính thu nhập tính thuế sẽ được trừ đi khoảnchi cần thiết cho cuộc sống cá nhân, gia đình người nộp thuế, khoản chi mangtính nhân đạo xã hội…
- Thuế TNCN có góc độ kỹ thuật tính thuế khá phức tạp bởi diện đánhthuế rộng, liên quan chặt chẽ với hoàn cảnh cá nhân, chính sách xã hội cụ thể,
có áp dụng phương pháp luỹ tiến Có như vậy mới đảm bảo công bằng xã hội,người có thu nhập cao hơn thì trước và sau khi nộp thuế họ vẫn còn mộtkhoản thu nhập cao hơn so với người có thu nhập thấp khi chưa nộp thuế
1.2.5 Mục đích, ý nghĩa và vai trò của thuế TNCN trong nền kinh tế 1.2.5.1 Mục đích, ý nghĩa của thuế TNCN
* Mục đích.
- Phân phối lại thu nhập, góp phần hạn chế khoảng cách về thu nhập tạocông bằng, thu hẹp chênh lệch giàu nghèo; tạo sự công bằng giữa các côngdân
- Tăng nguồn thu cho ngân sách quốc gia
- Hạn chế những hoạt động mà nhà nước không muốn phát triển, chẳnghạn như đầu cơ vào thị trường bất động sản
- Bảo đảm tăng trưởng kinh tế, khuyến khích tiết kiệm, đầu tư và tiêudùng trong nước, bảo đảm khuyến khích động lực sản xuất, lao động, bảođảm sự cạnh tranh của Việt Nam đối với các nước trong khu vực
- Thúc đẩy sự phát triển của một số hoạt động có đóng góp dài lâu cho
sự tăng trưởng về giá trị kinh tế của quốc gia Ví dụ, đầu tư vào chứng khoánlâu dài nên được ưu tiên vì nó thu hút vốn của người dân vào thị trường vốn
và góp phần phát triển kinh tế Hỗ trợ cho sự phát triển của nền kinh tế
Trang 15* Ý nghĩa.
- Luật thuế TNCN có ý nghĩa rất quan trọng, nguồn thu thuế thu nhập
cá nhân gia tăng cùng với sự phát triển kinh tế nói chung và sự gia tăng sốlượng lao động của mỗi quốc gia là một trong những nguồn thu chính của mỗiquốc gia
- Luật thuế TNCN còn có ý nghĩa đối với các hộ kinh doanh nhỏ ởnước ta, vì theo quy định trước đây họ phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệpvới thuế suất chung bằng với các doanh nghiệp (thông thường là những đơn vịkinh doanh có quy mô lớn) Việc áp dụng thuế suất như với các doanh nghiệp
là quá cao đối với hộ cá nhân kinh doanh Hơn nữa, quy định này cũng đảmbảo tính thông lệ quốc tế, vì hầu hết các nước đều đưa cá nhận kinh doanh vàodiện nộp thuế TNCN
- Luật thuế TNCN có nhiều điểm phù hợp với tiến trình đổi mới quản lýkinh tế của nhà nước, với quá trình hội nhập kinh tế của đất nước và phù hợpvới trình độ phát triển kinh tế - xã hội của nước ta hiện nay Với việc banhành Luật thuế quan trọng này, hệ thống thuế của chúng ta đang hướng đếnphù hợp hơn với hệ thống thuế các nước, hướng tới một hệ thống thuế công
bằng và hiện đại hơn
1.2.5.2 Vai trò của thuế TNCN trong nền kinh tế.
* Thuế TNCN là một công cụ rất cần thiết để thực hiện việc kiểm soát thu nhập của các tầng lớp dân cư, thực hiện công bằng xã hội và quản
lý, điều tiết vĩ mô nền kinh tế.
- Để kiểm soát thu nhập dân cư, nhà nước phải sử dụng đồng thời cảhai cơ chế quản lý quỹ tiền lương, tiền công, chế độ báo cáo quyết toán kinhdoanh…và cơ chế kê khai nộp thuế TNCN, tuy ban đầu có thể chưa chínhxác, nhưng sẽ là căn cứ để thống kê thu nhập dân cư phục vụ chương trìnhmục tiêu nghiên cứu quốc gia, hoạch định chính sách phát triển phù hợp khitính tuân thủ pháp luật, pháp chế xã hội được nâng lên
Trang 16- Vai trò công cụ thực hiện công bằng xã hội thể hiện ở chỗ trong mỗiquốc gia, thu nhập của mỗi cá nhân phụ thuộc chủ yếu vào các yếu tố như khảnăng và trình độ lao động, vị trí công tác, quyền sở hữu về tài sản của cá nhân
đó Tuy nhiên, các yếu tố nói trên của mỗi cá nhân thường không giống nhaunên đã tạo ra sự khác nhau về thu nhập của mỗi người Chính sự khác nhau ấy
là nguồn gốc tạo ra sự phân cực giàu nghèo, là sự bất bình đẳng trong xã hội
Để giải quyết vấn đề này, các nước đã dùng nhiều hình thức và biện phápkhác nhau trong đó thuế TNCN được xem như một công cụ hữu hiệu để điềutiết bớt thu nhập của những người có thu nhập cao, đảm bảo công bằng xãhội
- Thông qua các cơ chế và công cụ quản lý đó mà nhà nước sẽ có giảipháp tăng cường hoặc giảm bớt điều tiết thu nhập của các tầng lớp dân cư làmcho tổng cầu xã hội giảm hoặc tăng, từ đó có tác dụng co hẹp hay kích thíchkinh tế phát triển Đó chính là vai trò quản lý điều tiết vĩ mô nền kinh tế màchính sách thuế TNCN góp phần tác dụng đáng kể
* Thuế TNCN là nguồn thu quan trọng của ngân sách nhà nước
- Dù không phải là mục tiêu chủ yếu, song thực hiện phát triển chínhsách thuế trực thu nói chung, thuế TNCN nói riêng chính là là việc tạo lập vàphát triển nguồn thu vững chắc cho ngân sách nhà nước Cùng với xu hướngtăng trưởng kinh tế ngày càng cao, hội nhập và phát triển, thu nhập quốc dânđầu người ngày càng lớn thì khả năng huy động nguồn thu cho ngân sách nhànước thông qua thuế TNCN sẽ ngày càng tăng và sẽ ngày một dồi dào
- Thực tế tỷ trọng thu thuế TNCN trong tổng thu ngân sách của nhiềuquốc gia đã phản ánh tiến trình đó, tại các nước khối ASEAN: 5-10%, cácnước phát triển có tỷ trọng 15-16% có nước đạt tới tỷ trọng 30- 40% nhưAnh, Mỹ Tại Việt Nam, mới tiếp cận chính sách thu và còn phân tán ở nhiềusắc thuế nhưng cũng đã có kết quả tăng trưởng thu khá lớn trong những nămgần đây: năm 1991 thu theo chính sách thuế thu nhập đối với người có thunhập cao là 62 tỷ đồng, đến năm 2000 thu được 1.831 tỷ đồng, năm 2005 số
Trang 17thu đã đạt 4.400 tỷ đồng và tính đến năm 2011 co số này đạt 36.940 tỷ đồng.Tuy vậy tỷ trọng thu cũng mới chỉ đạt khoảng 5% tổng thu ngân sách.
* Xây dựng và phát triển, hoàn thiện chính sách thuế TNCN là góp phần hoàn thiện hệ thống chính sách thuế, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập với kinh tế thế giới
- Việc ban hành Luật thuế TNCN là bước thể chế hoá đường lối chínhsách của Đảng về lĩnh vực tài chính tiền tệ đồng thời là bước đi phù hợp lộtrình cải cách thuế theo mục tiêu chiến lược Chính phủ đã hoạch định
- Nhận thức đúng vai trò vị trí hiện tại cũng như hướng phát triển hoànchỉnh của chính sách thuế TNCN, quán triệt đầy đủ nội dung yêu cầu củaLuật thuế TNCN mới ban hành để tuyên truyền, giáo dục pháp luật thuế, vậnđộng toàn dân hiểu biết, chấp hành là nghĩa vụ và trách nhiệm của các tổchức, cơ quan, đơn vị và cán bộ, công chức, công dân theo quy định của LuậtQuản lý thuế, ban hành ngày 29/11/2006
1.2.6 Mối quan hệ giữa thuế TNCN và thuế TNDN.
- Trước đây hộ kinh doanh phải đóng thuế thu nhập doanh nghiệp vớimức thuế suất là 28% Khi thuế thu nhập cá nhân ra đời đã chuyển nhóm đốitượng này sang đóng thuế thu nhập cá nhân với mức thuế phải đóng tính trênbiểu thuế luỹ tiến từng phần, điều này là hoàn toàn phù hợp bởi vì: trên thực
tế hộ kinh doanh chỉ là cá nhân hoặc nhóm cá nhân kinh doanh nhỏ lẻ, vì vậyviệc đưa đối tượng này vào diện điều chỉnh tại Luật thuế TNCN nhằm đảmbảo sự bình đẳng về chính sách thuế đối với thu nhập cá nhân và cũng phùhợp với quy định của pháp luật thương mại về đăng ký kinh doanh Theo quyđịnh của Luật thương mại thì người đứng tên đăng ký kinh doanh của hộ cũngchỉ là một cá nhân Mặt khác, nếu tiếp tục thu thuế thu nhập doanh nghiệp đốivới đối tượng này sẽ không phù hợp vì hộ kinh doanh không phải là một loạihình doanh nghiệp
Trang 181.2.7 Nguyên tắc và phương pháp tính thuế TNCN.
1.2.7.1 Nguyên tắc tính thuế TNCN.
* Tính thuế trên cơ sở thu nhập chịu thuế hiện hữu.
- Mặc dù cá nhân có nhiều nguồn thu nhập khác nhau, nhưng trongthực tế không phải toàn bộ thu nhập phát sinh đều là đối tượng điều chỉnhcủa thuế thu nhập cá nhân Thuế thu nhập cá nhân chỉ điều chỉnh phần thunhập chịu thuế Thu nhập chịu thuế là phần thu nhập quy định cơ sở đánh thuếthu nhập Mọi hệ thống thu nhập dù đánh trên từng loại thu nhập hay trêntổng thu nhập nói chung đều tính thuế trên thu nhập ròng để phản ánh đúngkhả năng kinh tế của người nộp thuế Vì vậy thu nhập tính thuế được xác địnhtrên cơ sở các khoản thu nhập nhận được sau khi miễn trừ một số khoản chiphí của người nộp thuế
- Hiện nay trên thế giới tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm
và cách tính thu nhập nên cơ sở đánh thuế thu nhập cá nhân cũng không giốngnhau Tùy theo chính sách thuế thu nhập của mỗi nước mà nội dung, phươngpháp xác định các khoản miễn trừ và thu nhập chịu thuế có sự khác nhau Mặtkhác, trên thực tế không phải mọi khoản thu nhập phát sinh đều xếp vào thunhập chịu thuế
* Tính thuế thu nhập cá nhân theo phương pháp luỹ tiến
- Đặc trưng quan trọng nhất của thuế thu nhập cá nhân là áp dụng biểuthuế luỹ tiến, tức là mức thuế tăng lên một cách luỹ tiến theo mức thu nhậptăng lên Thuế suất luỹ tiến được coi là phương pháp hiệu quả nhất để tínhthuế theo “khả năng nộp thuế” của cá nhân Tuy nhiên trong thực tế để tínhđược mức luỹ tiến đó là điều không đơn giản
- Xung quanh vấn đề áp dụng nguyên tắc luỹ tiến đối với thuế thu nhậpcũng có nhiều ý kiến khác nhau Có ý kiến cho rằng, tính luỹ tiến của thuế thunhập cũng cần có giới hạn và khi áp dụng nguyên tắc luỹ tiến cũng cần phânbiệt nguồn gốc của các loại thu nhập để phát huy vai trò điều chỉnh của thuếthu nhập Nhưng cũng có quan điểm cho rằng làm như vậy sẽ gây phức tạp
Trang 19trong việc thiết kế thuế suất, vì không nên dùng các loại thuế khác nhau chothu nhập phát sinh từ các nguồn thu nhập khác mà nên áp dụng các khoảnmiễn, giảm thuế để đảm bảo chức năng của thuế thu nhập hoặc áp dụng thuếluỹ tiến từng phần
1.2.7.2 Phương pháp tính thuế TNCN.
Về lý thuyết, tồn tại ba phương pháp tính thuế thu nhập cá nhân:
* Tính thuế theo từng nguồn hình thành thu nhập
- Tính thuế theo từng nguồn hình thành thu nhập là phương pháp ápdụng một thuế suất tương ứng cho từng nguồn thu nhập phát sinh Tương ứngvới mỗi nguồn thu nhập khác nhau, người ta tính các chi phí được trừ củatừng loại thu nhập (nhiều trường hợp chi phí có thể được trừ hoặc không đượctrừ) và gán cho mỗi loại thu nhập đó các mức thuế suất phân biệt Số thuếphải nộp là tổng hợp số thuế thu nhập mà người nộp thuế phải nộp theo từngnguồn
- Các nhà kinh tế cho rằng, phương pháp này khó trốn thuế hơn,
vì nó thu “theo sát từng nguồn thu nhập” Tuy nhiên, tính thuế theo từngnguồn hình thành thu nhập trên thực tế đã bộc lộ nhiều hạn chế:
- Khi chia thu nhập cá nhân thành phần thu nhập để chịu các mức thuếsuất khác nhau không đơn thuần là một công việc phức tạp và khó khăn, màđiều quan trọng hơn là không áp dụng được triệt để các mức thuế suất luỹ tiến
và các suất miễn giảm thuế thu nhập cá nhân Nếu có áp dụng mức thuế suấtluỹ tiến thì cũng chỉ đúng cho một số loại thu nhập Điều đó lại gây bất bìnhđẳng giữa các đối tượng nộp thuế có các loại thu nhập khác nhau
- Việc áp dụng thuế suất cho từng loại thu nhập đòi hỏi phải phân loạithu nhập, trên thực tế công việc này lại tiềm ẩn nhiều khó khăn trong công tácquản lý Mặt khác, đó cũng là cơ sở để người nộp thuế dễ dàng trốn thuế Nếuranh giới giữa các loại thu nhập không chính xác thì sẽ mất ý nghĩa công bằngcủa thuế thuế thu nhập cá nhân
Trang 20- Trong một chừng mực nào đó cách tính thuế này cũng không hiệuquả đối với xã hội vì người nộp thuế có thể lựa chọn các hoạt động phi hiệuquả để chịu mức thuế thấp nhất
* Tính thuế trên tổng thu nhập
- Phương pháp này tiến hành tính thuế trên tổng thu nhập, bao gồm tất
cả các khoản thu nhập nhận được không phân biệt nguồn phát sinh thu nhập
và chi phí tạo ra thu nhập Tổng thu nhập và tổng chi phí sẽ được xem xét trênmột tổng thể và đánh thuế trên phần chênh lệch giữa tổng thu nhập và tổngchi phí Việc phân ra từng loại thu nhập không có ý nghĩa
- Do có ưu điểm là đơn giản và có thể áp dụng được biểu thuế luỹ tiếnkhi tính thuế nên phương pháp này đang được áp dụng rất rộng rãi ở các nướcphát triển
* Tính thuế hỗn hợp
- Thuế thu nhập cá nhân có thể được tính theo cách kết hợp cả haiphương pháp kể trên Ban đầu tính thuế theo từng nguồn hình thành thu nhập,sau đó tổng hợp tất cả các nguồn lại và tính trùm lên tổng thu nhập một mứcthuế nữa Phương pháp này cho phép áp dụng thuế suất luỹ tiến ngoài thuếsuất thông thường tính trên từng loại thu nhập Cách tính thuế này đảm bảo sựchính xác nhưng lại phức tạp khi tính toán
- Như vậy, mỗi phương pháp đều có những ưu nhược điểm riêng Việc
áp dụng một phương pháp thích hợp tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hộitừng nước, trình độ quản lý và yếu tố tâm lý, tập quán từng dân tộc
1.3 Bài học về xây dựng, thực hiện chính sách thuế TNCN của một số nước trên thế giới.
Thuế thu nhập cá nhân đã có lịch sử hàng trăm năm và hiện nay đã trởthành loại thuế phổ biến trên thế giới Có thể nói đối với hầu hết các quốc giathuế thu nhập cá nhân được xem như là “vua” của các loại thuế Không chỉbởi nguồn thu khổng lồ của nó trong tổng ngân sách để phục vụ cho việc vậnhành bộ máy hành chính Nhà nước, đảm bảo an ninh quốc gia, chính sách xã
Trang 21mà sự ra đời của sắc thuế TNCN còn góp phần quan trọng trong việc điều tiếtphân phối lại thu nhập trong xã hội trên cơ sở xem xét đến hoàn cảnh cụ thểcủa người nộp thuế.
Cho đến nay trên khắp Thế giới đã có khoảng 180 nước áp dụng thuếthu nhập cá nhân Trong đó, quốc gia đầu tiên áp dụng thuế thu nhập cá nhân
là Hà Lan năm 1797, sau đó là Anh vào năm 1799, Phổ vào năm 1808 Mỹbắt đầu áp dụng thuế TNCN vào năm 1864 Các nước Châu Âu như Úc, NiuDilân, và Nhật Bản áp dụng các loại thuế thu nhập thường xuyên vào nửacuối Thế kỷ 19 Tại các nước Châu Á: Thái Lan bắt đầu áp dụng năm 1939,Philippin năm 1945, Hàn quốc năm 1948, Indonesia năm 1949, Trung quốcnăm 1984; Các nước Đông Âu mới áp dụng như Rumani năm 1990, Nga năm
1991, Ba lan năm 1992 Ở Việt Nam thuế TNCN chính thức có hiệu lực thihành từ ngày 01/01/2009
Thời gian đầu khi mới ban hành Luật thuế TNCN, các Chính phủ ở một
số nước áp dụng luật thuế TNCN thường chọn đánh thuế vào những đối tượng
dễ đo lường được như đất đai, tài sản, hàng hoá hữu hình… Tuy nhiên chođến nay sau nhiều lần sửa đổi, bổ sung, thay thế những chế định quan trọngtrong Luật thuế TNCN đã có nhiều biến đổi Có thể nói khác với các loại thuếkhác, thuế TNCN có diện điều chỉnh rộng với tất cả các cá nhân có thu nhập
từ tiền lương, tiền công; thu nhập từ kinh doanh; từ đầu tư gián tiếp như mua,bán cổ phần, trái phiếu, cổ phiếu… Thuế TNCN điều chỉnh không chỉ cá nhântrong nước mà cả cá nhân nước ngoài nếu làm việc có thu nhập tại nước sởtại Các khoản thu nhập chịu thuế cũng có diện rộng bao gồm tất cả các khoảnthu nhập của cá nhân Tuy nhiên, thực hiện chính sách xã hội và mục tiêucông bằng của thuế TNCN, luật thuế cũng qui định cụ thể một số khoản thunhập không chịu thuế, miễn thuế
1.3.1 Luật thuế TNCN tại Trung Quốc.
Luật thuế TNCN ở Trung Quốc có quy định các đối tượng nộp thuế thunhập cá nhân là các cá nhân có chỗ ở hoặc không có chỗ ở trong nước Trung
Trang 22Quốc, mà cư trú tại Trung Quốc đủ 1 năm, thì phải nộp thuế đối với toàn bộthu nhập của người đó nhận được từ trong và ngoài nước Trung Quốc Cánhân không có chỗ ở tại Trung Quốc mà cư trú dưới 1 năm, thì phải nộp thuếđối với thu nhập phát sinh từ Trung Quốc.
Theo Luật thuế TNCN Trung Quốc, thu nhập chịu thuế thu nhập cánhân bao gồm các khoản: Thu nhập từ tiền công, tiền lương; Thu nhập từ sảnxuất kinh doanh; Thu nhập về cho thuê tài sản; Thu nhập về chuyển nhượngtài sản; Thu nhập từ kinh doanh chứng khoán; Thù lao dịch vụ; Thu nhập từnhuận bút; Thu nhập về chi phí sử dụng quyền đặc biệt; Thu nhập về lãi chovay, cổ tức, hoa hồng; Thu nhập ngẫu nhiên; Thu nhập khác
Ngoài ra ở Trung Quốc cũng quy định rất rõ các khoản thu nhập khôngphải chịu thuế thu nhập cá nhân đó là: Tiền thưởng, lợi tức tiền gửi tiết kiệm,lợi tức trái phiếu do Bộ Tài chính cho phép phát hành và trái phiếu tín dụng
do Quốc vụ viện cho phép phát hành Tiền phụ cấp, trợ cấp được chính quyềnphát cho theo quy định của Quốc vụ viện và tiền phụ cấp, trợ cấp được Quốc
vụ viện quy định miễn thuế Tiền phúc lợi, tiền dưỡng lão, tiền cứu tế Tiềnbồi thường bảo hiểm Tiền chuyển ngành, tiền phục viên của quân nhân Tiềnđược Nhà nước quy định thống nhất phát cho cán bộ viên chức về ổn định chỗ
ở, thôi việc, lương hưu Thu nhập của các đại diện ngoại giao, nhân viên lãnh
sự và các nhân viên khác thuộc các đại sứ quán, lãnh sự quán tại Trung Quốc,được miễn thuế theo Luật pháp hữu quan quy định Thu nhập được quy địnhmiễn thuế trong các công ước quốc tế, các hiệp định ký kết mà Chính phủTrung Quốc tham gia Thu nhập được ngành tài chính cho phép miễn thuế
Hiện ở Trung Quốc biểu thuế luỹ tiến từng phần (biểu tháng) chia làm
9 bậc với mức thuế suất thấp nhất là 5%, cao nhất là 45% Nếu tính ra thì thunhập chịu thuế ở Trung Quốc rơi vào khoảng 500 đến 100.000 NDT (tứckhoảng 60 đến 12.000 USD)
Trang 231.3.2 Luật thuế TNCN tại Nhật Bản.
Đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân là: những cá nhân cư trú và không
cư trú tại Nhật Bản: Cá nhân cư trú tại Nhật Bản là những người đã sống từlâu hay đã và đang định cư tại Nhật trong một thời gian dài liên tục từ mộtnăm trở lên Cá nhân không cư trú tại Nhật Bản là người có thời gian cư trútại Nhật dưới một năm
Các khoản thu nhập nằm trong diện nộp thuế của Nhật Bản gồm 10khoản chính: Thu nhập từ công việc lao động; Thu nhập từ hoạt động kinhdoanh; Thu nhập do buôn bán bất động sản; Thu nhập từ tiền lãi cổ phần; Thunhập từ lợi tức; Thu nhập từ các khoản hưu trí; Thu nhập từ buôn bán gỗ; Thunhập từ các khoản vốn; Thu nhập bất thường; Thu nhập khác
Thuế thu nhập cá nhân của Nhật bản kê khai nộp theo hai phương pháp:phương pháp khấu trừ tại nơi trả thu nhập và thuế thu nhập cá nhân kê khai.Các khoản thu nhập áp dụng thuế khấu trừ tại nơi trả thu nhập là: Tiền lương;Trợ cấp thôi việc; Tiền lương hưu; Lãi tiền gửi, lãi tiền cho vay; Lợi tức cổphần; Tiền thù lao; Các khoản khác
Trong luật thuế TNCN của Nhật Bản biểu thuế luỹ tiến từng phần chỉquy định chia làm 3 mức Với thuế suất thấp nhất là 5%, cao nhất là 37%.Như vậy thu nhập chịu thuế sẽ rơi vào khoảng 3.300.000JPY đến mức caonhất là trên18.000.000JPY
1.3.3 Luật thuế TNCN tại Thái Lan.
Đối tượng nộp thuế Luật quy định mọi cá nhân là đối tượng
cư trú và không cư trú nếu có thu nhập chịu thuế phát sinh tại Thái Lan đều
là đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân tại Thái Lan Các đối tượng cư trú làngười Thái Lan có thu nhập từ lao động, từ kinh doanh có nguồn gốc nướcngoài cũng là đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân, dù các khoản thu nhậpnày không chịu thuế tại Thái Lan
Thu nhập chịu thuế là thu nhập ròng chịu thuế tổng hợp từ các nguồncủa cá nhân Thu nhập chịu thuế được xác định bằng cách lấy toàn bộ các
Trang 24khoản thu nhập (thu nhập gộp) mà cá nhân nhận được trong năm tính thuế,không kể các thu nhập được miễn thuế, trừ đi các khoản khấu trừ cơ bản vàsuất miễn thu theo quy định cho từng loại thu nhập Thu nhập chịu thuế baogồm các loại chủ yếu sau: Thu nhập từ lao động, thu nhập từ kinh doanh
và từ hành nghề độc lập (tự do), thu nhập từ đầu tư, thu nhập từ chuyểnnhượng tài sản, thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản và thu nhập khác
Để xác định thu nhập ròng, Luật cho phép các đối tượng nộp thuế, dù
là đối tượng cư trú hay không cư trú, được trừ vào tổng thu nhập (thu nhậpgộp) các khoản khấu trừ cơ bản tính theo tỷ lệ nhất định trên thu nhập gộpnhận được tối đa là 40% trên tổng thu nhập gộp, nhưng không quá 60.000baht/năm
Sau khi áp dụng mức khấu trừ cơ bản cho từng loại thu nhập để xácđịnh mức thu nhập ròng, mỗi đối tượng nộp thuế sẽ được tiếp tục trừ khỏi thunhập ròng các suất miễn thu cá nhân tuỳ theo tình trạng hôn nhân, tính chấtđối tượng nộp thuế hay căn cứ vào các khoản đóng góp xã hội của từng cánhân Kết quả tính được sẽ là thu nhập ròng chịu thuế tương ứng của loại thunhập đó
Hiện nay Thái Lan có 6 bậc thuế thấp nhất là 0%, cao nhất là 37%đánh vào khoản thu nhập ròng chịu thuế theo đó khoản thu nhập từ 4.000.000baht trở lên nộp theo mức thuế suất 37%
1.3.4 Luật thuế TNCN tại Pháp.
Các thể nhân là đối tượng cư trú thuế tại Pháp hoặc không là đối tượng
cư trú thuế tại Pháp nhưng có nhận được thu nhập tại Pháp đều là đối tượngphải nộp thuế thu nhập cá nhân Cá nhân là đối tượng cư trú phải nộp thuế thunhập cá nhân trên toàn bộ thu nhập, không phân biệt nguồn phát sinh thu nhập
ở trong nước hay ở nước ngoài Cá nhân là đối tượng cư trú tại Pháp chỉ phảinộp thuế cho phần thu nhập có được tại Pháp hoặc trên thu nhập khoán bằng 3lần giá trị cho thuê tài sản thuộc sở hữu của cá nhân đó nếu thu nhập phát sinhtại Pháp nhỏ hơn mức khoản trên
Trang 25Thu nhập chịu thuế có 8 loại Thu nhập ròng làm căn cứ tính thuế là
tổng hợp thu nhập ròng của từng loại thu nhập mà mỗi đối tượng nộp thuế cóđược trong năm bao gồm: thu nhập từ tiền lương, thu nhập từ kinh doanh, thunhập từ nông nghiệp, thu nhập từ hành nghề độc lập và từ các dịch vụ tư vấnnghề nghiệp, thu nhập từ đầu tư chứng khoán, thu nhập từ cho thuê bất độngsản (nhà, đất), thu nhập từ chuyển nhượng tài sản, thù lao của nhữngngười điều hành công ty
Tổng thu nhập chịu thuế của hộ nộp thuế bằng tổng các khoản thu nhậpròng từ mọi nguồn thu nhập của đối tượng nộp thuế cộng với tổng thu nhậpcủa vợ (hoặc chồng) và của các con sáp nhập vào hộ (nếu có) sau khi trừ cáckhoản lỗ của từng loại thu nhập Ngoài ra, hộ nộp thuế còn được trừ khỏi tổngthu nhập chịu thuế một khoản chi phí (nếu thỏa mãn các điều kiện quy định)như: trợ cấp đời sống bắt buộc theo phán quyết của tòa đối với vợ (chồng)
đã ly thân hay ly dị cho mỗi người con tối đa là 30.330 FR, chi nuôi dưỡngngười già trên 75 tuổi tối đa 17.680 FR… và khoản lỗ chưa trừ hết trong 5năm trước
Thuế thu nhập cá nhân áp dụng biểu luỹ tiến từng phần gồm 7 bậc(0%, 8,25%, 21,75%, 31,75%, 41,25% và 53,25%) trong đó, thuế suất thấpnhất 0% cho mức thu nhập 26.600 FR, cao nhất 53,25% cho mức thu nhậpvượt trên 299.200 FR
Tóm lại:
Chính sách thuế TNCN của các nước có những điểm như sau:
- Đa số các nước đánh thuế theo nguyên tắc “cư trú” đối với đối tượng
cư trú tại nước mình và phải chịu thuế TNCN trên thu nhập toàn cầu, khôngphân biệt nguồn thu nhập phát sinh trong nước hay ở nước ngoài, đánh thuếtheo nguyên tắc “nguồn phát sinh thu nhập” đối với đối tượng không cư trú,đối tượng này chỉ phải nộp thuế cho phần thu nhập có được phát sinh trongnước Tuy nhiên mỗi nước qui định đối tượng cư trú và không cư trú là khônggiống nhau
Trang 26- Đơn vị tính thuế được đa số các nước áp dụng là cá nhân như ở Nhật,Thái Lan, Trung Quốc…, Pháp xác định đơn vị tính thuế là hộ gia đình, đâyđược xem là cách thu thuế hợp lý nhất và công bằng nhất, vì có xét đến điềukiện hoàn cảnh cụ thể của từng gia đình.
- Thu nhập chịu thuế: Thu nhập chịu thuế là thu nhập ròng (thu nhậpsau khi trừ các khoản chiết trừ gia cảnh hoặc chi phí hợp lý tạo ra thu nhập).Tuy nhiên mỗi nước xác định thu nhập chịu thuế có những điểm khác nhaunhư:
+ Trung Quốc xác định thu nhập chịu thuế theo từng nguồn hình thành
thu nhập, tùy từng loại thu nhập mà xác định thu nhập chịu thuế khácnhau như: đối với thu nhập từ lao động, thu nhập chịu thuế được xác địnhbằng tổng thu nhập trừ đi các khoản được khấu trừ, sau đó tính thuế theobiểu thuế lũy tiến từng phần; đối với thu nhập từ chuyển nhượng tài sản,thu nhập chịu thuế là phần thu nhập còn lại sau khi trừ các chi phí liênquan và chịu thuế suất 20%…
+ Nhật Bản xác định thu nhập chịu thuế theo từng nguồn hình thành
thu nhập, mỗi loại thu nhập chịu thuế được xác định bằng tổng thu nhậptrừ đi các khoản khấu trừ hoặc các khoản chi phí hợp lý tùy thuộc vàonguồn hình thành thu nhập
+ Đối với Thái Lan thu nhập chịu thuế được xác định tương tư như ở
Pháp là tổng thu nhập ròng chịu thuế tổng hợp từ các nguồn của cá nhân,nhưng khác so với Pháp là Thái Lan có đơn ví tính thuế là cá nhân nênthu nhập ròng chịu thuế được tính cho cá nhân chứ không cộng vào thunhập của cả hộ như ở Pháp
+ Đối với Pháp xác định 8 loại thu nhập chịu thuế Thu nhập ròng làm
căn cứ tính thuế là tổng hợp thu nhập ròng của từng loại thu nhập mà mỗiđối tượng nộp thuế có được trong năm Tổng thu nhập chịu thuế của hộnộp thuế bằng tổng các khoản thu nhập ròng từ mọi nguồn thu nhập củađối tượng nộp thuế cộng với tổng thu nhập của vợ (hoặc chồng) và của
Trang 27các con sáp nhập vào hộ (nếu có) sau khi trừ các khoản lỗ của từng loạithu nhập Ngoài ra, hộ nộp thuế còn được trừ khỏi tổng thu nhập chịu thuếmột khoản chi phí như: trợ cấp đời sống bắt buộc theo phán quyết của tòađối với vợ (chồng) đã ly thân hay ly hôn, chi nuôi dưỡng người già trên
75 tuổi… và khoản lỗ chưa trừ hết trong 5 năm trước
- Về thuế suất: Thuế suất cao nhất trong biểu thuế có sự khác nhau,chẳng hạn như ở Pháp 53,25%; Thái Lan 37%; Trung Quốc 45%; Nhật Bản37% …
để nghiên cứu, đánh giá thực trạng chính sách thuế TNCN Việt Nam và xâydựng các giải pháp hoàn thiện trong thời gian tới
Trang 28CHƯƠNG 2:THỰC TRẠNG VỀ CHÍNH SÁCH THUẾ
THU NHẬP CÁ NHÂN Ở VIỆT NAM.
2.1 Sự cần thiết ban hành, sửa đổi chính sách thuế TNCN tại Việt Nam.
+ Ban hành Luật thuế thu nhập cá nhân là cần thiết để thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà Nước.
Nghị Quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã đề ra:
“Áp dụng thuế thu nhập cá nhân thống nhất và thuận lợi cho mọi đối tượngchịu thuế, đảm bảo công bằng xã hội và tạo động lực phát triển” Nghị QuyếtĐại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng tiếp tục khẳng định: “Hoànthiện hệ thống pháp luật về thuế theo nguyên tắc công bằng, thống nhất vàđồng bộ… Điều chỉnh chính sách thuế theo hướng giảm và ổn định thuế suất,
mở rộng đối tượng thu, điều tiết hợp lý thu nhập” Thực hiện các Nghị quyếtcủa Đảng, Bộ Chính trị đã thông qua chiến lược cải cách hệ thống thuế giaiđoạn 2011 - 2020, trong đó đặt ra yêu cầu: “Xây dựng hệ thống chính sáchthuế đồng bộ, thống nhất, công bằng, hiệu quả, phù hợp với thể chế kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa, mức động viên hợp lý nhằm tạo điềukiện thúc đẩy sản xuất trong nước và là một trong những công cụ quản lý kinh
tế vĩ mô có hiệu quả, hiệu lực của Đảng và Nhà nước”
+ Ban hành Luật thuế thu nhập cá nhân nhằm thực hiện công bằng
xã hội, tăng cường kiểm tra, kiểm soát thu nhập và điều tiết, phân phối lại thu nhập, thu hẹp hợp lý sự chênh lệch về thu nhập giữa các tầng lớp dân
cư, đảm bảo sự phát triển ổn định của nền kinh tế.
Khác với thuế gián thu (thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt…)động viên thu nhập xã hội thông qua tiêu dùng của các tổ chức và cá nhân,khác với thuế thu nhập doanh nghiệp, điều tiết vào thu nhập của doanhnghiệp, thuế thu nhập cá nhân động viên một phần thu nhập của cá nhân, thểhiện nghĩa vụ cụ thể của công dân đối với đất nước Công dân được hưởngnhững thành quả của đất nước: cơ sở hạ tầng, phúc lợi xã hội, an ninh trật tự,
Trang 29… thì đồng thời có nghĩa vụ đóng góp một phần thu nhập của mình cho xãhội thông qua việc nộp thuế Thuế thu nhập cá nhân được xây dựng trênnguyên tắc “công bằng” và “khả năng nộp thuế”, được thể hiện: người có thunhập thấp thì chưa nộp thuế, người có thu nhập cao thì nộp thuế nhiều hơn,người có thu nhập như nhau nhưng có hoàn cảnh khác nhau thì mức nộp thuếcũng khác nhau Thực hiện nộp thuế thu nhập cá nhân góp phần làm giảm hợp
lý khoảng cách chênh lệch giữa các tầng lớp dân cư
Chính vì vậy mà thuế thu nhập cá nhân đã được nhiều nước áp dụng từrất sớm, ngay từ khi nền kinh tế chưa phát triển, thu nhập của dân cư cũngchưa cao, điều kiện kiểm soát thu nhập còn hạn chế Đến nay, đã có trên 180nước trên thế giới áp dụng loại thuế này
+ Sửa đổi Luật thuế thu nhập cá nhân góp phần hoàn thiện hệ thống chính sách thuế, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế.
Hiện nay, Luật thuế TNCN của chúng ta vẫn còn bộc lộ nhiều khuyếtđiểm, hạn chế chưa phù hợp với thực tế cuộc sống Vì thế chúng ta cần hoànthiện hơn về chính sách thuế TNCN để chính sách thuế đi vào thực tế đờisống giúp cải thiện đời sống cuả người lao động cũng như đảm bảo đượcnguồn thu của NSNN
Do vậy, việc sửa đổi Luật thuế thu nhập cá nhân là để hoàn thiện mộtbước hệ thống chính sách thuế của nước ta, góp phần khuyến khích cá nhântích cực lao động, đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, làm giàu chính đáng
và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội ổn định, bền vững tiến đến hội nhậpkinh tế quốc tế
2.2 Chính sách thuế Thu nhập cá nhân tại Việt Nam qua các thời kỳ 2.2.1 Giai đoạn trước năm 1990.
2.2.1.1 Thời kỳ phong kiến, thực dân trước Cách mạng Tháng 8
Trong thời kỳ thực dân, phong kiến, Nhà nước phong kiến có thu thuếthu nhập cá nhân nhưng với tên gọi là thuế thân
Trang 30Thuế thân, còn gọi là thuế đinh, thuế đầu người là một thứ thuế của
chế độ phong kiến Đây là sắc thuế tiêu biểu trong các sắc thuế khoán
Thời kỳ Nhà Lý có lệ mỗi năm khai số hộ (gọi là đơn số), đàn ông 18
tuổi gọi là hoàng nam, từ 20 tuổi trở lên gọi là đại nam Thuế đinh được
"bổ" theo đinh bộ hay hộ tịch của mỗi làng Thuế thân thời này được tínhcăn cứ theo số ruộng của mỗi người, ai không có ruộng thì không phảinộp
Thời kỳ Nhà Trần : Theo quyển III Đại Việt sử ký toàn thư thì, các
trấn hễ có việc binh thì lệnh cho mỗi huyện có bao nhiêu ruộng thì phải nộp bao nhiêu vàng, bạc, tiền, lụa, không tính thêm theo số nhân đinh sinh
ra, cũng không trừ bớt theo số người đã chết Nếu phục dịch việc binh, thì đều thu bổ theo số ruộng cả Các lộ có đơn binh, là phải phục dịch việc binh, những người này đời đời làm lính, không được ra làm quan Người nào có ruộng, bãi dâu, đầm cá thì phải đóng thuế, không có thì thôi.
Tháng 7 năm Mậu Ngọ (năm 1378) đời vua Phế Đế nhà Trần, Hành khiển
Đỗ Tử Bình bắt chước phép đánh "thuế dung" của nhà Đường tâu Vua thumỗi hộ đinh nam 3 quan tiền một năm
Thời kỳ Nhà Hồ : Tương tự như nhà Lý - Trần, lấy ruộng làm căn cứ
để thu thuế
Thời kỳ Bắc thuộc nhà Minh thì hộ chế cũng như điền chế tính theo
kiểu của Trung Quốc Mỗi người dân đều có một cái thẻ biên tên tuổi,hương quán để phục vụ cho việc thu thuế
Thời kỳ Nhà Lê : năm Hồng Đức thứ nhất (1470) định cứ 3 năm sửa hộ
tịch một lần (tiểu điền), sáu năm sửa lại một lần (đại điền) Mỗi làng phảikhai số chính hộ và khách hộ Ai biết chữ thì cho vào hạng học nhiều; thứđến xét hạng chức sắc; sau cùng xét hạng dân đinh và chia làm: tráng hạng(hay lính hạng), quân hạng, dân hạng, lão hạng, cố hạng, cùng hạng Thuếđinh không tính theo số ruộng mà định nhất luật mỗi người đồng niên phảiđóng 8 tiền Đến đời Huyền Tôn (1664) thì bỏ cách tính này mà dùng lệ
Trang 31khai ở xứ Nghệ An và Thanh Hoá, và lệ bình ở các trấn Theo cách này,nhà nước không cần theo định kỳ duyệt lại hộ tịch như trước mà chỉ làmmột lần nhất định (hoặc bằng lời khai của xã trưởng mà thôi), thuế đinhmỗi suất là 1 quan 8 tiền Năm Bảo Thái thứ tư, chúa Trịnh Cương sửa lại
ngạch thuế đinh gọi là "dung", định rằng: "con trai từ 17-19 tuổi là hoàng đinh, từ 20-48 là chính đinh, từ 50-59 là lão hạng, từ 60 tuổi trở lên là lão nhiêu" Hạng chính đinh phải nộp mỗi người 1 quan 2 tiền và 4 bát gạo,
hạng sinh đồ cùng hoàng đinh và lão hạng được miễn thuế Ngạch thuếđiệu (là các thứ thuế phụ đời trước để bổ sung vào các việc tế tự và côngtác của nhà nước) nay dồn lại thành một, mỗi suất đinh phải nộp 6 quantiền
Thời kỳ Nhà Nguyễn : sau khi lên ngôi, vua Gia Long định lại việc thu
thuế:
o Thuế suất: Thuế đinh thì lệ định theo vùng: từ Nghệ An ra đến nội ngoại Thanh Hóa, mỗi suất đồng niên phải chịu: Thuế thân 1 quan 2 tiền Mân tiền 1 tiền Cước mễ 2 bát Ở 5 nội trấn Bắc Thành và phủ Phụng Thiên, mỗi suất đinh đồng niên phải chịu: Thuế thân 1 quan 2 tiền Mân tiền 1 tiền Điệu tiền (tạp dịch) 6 tiền Cước mễ 2 bát Ở 6 ngoại trấn Bắc Thành, mỗi suất đinh đồng niên phải chịu: Thuế thân 6 tiền Mân tiền
1 tiền Điệu tiền 3 tiền Cước mễ 1 bát
o Giảm thuế khi có thiên tai: Năm nào ở đâu mất mùa, như là bị hoàng trùng, đại hạn hay là nước lụt, v.v thì nhà nước chiếu theo sự thiệt hại nhiều, ít mà giảm thuế cho dân Lúa 10 phần thiệt hại tới 4 phần thì giảm cho hai phần thiệt; thiệt hại 5 phần thì giảm cho 3; thiệt hại 6 phần thì giảm cho 4; thiệt hại 7 phần thì giảm cho 5; thiệt hại 8 phần thì giảm cho 6; thiệt hại 9 phần thì giảm cho 7; thiệt hại hết cả thì giảm cả Hoặc nhà nước có lấy dân đinh đi làm đường, đào sông, xây thành v.v thì cũng được giảm thuế.
Trang 32o Thu thuế: Nhà vua lại tùy từng địa phương mà định vụ thuế Từ Quảng Bình đến Bình Thuận cứ mỗi năm một vụ thu thuế, khởi đầu từ tháng 4 đến tháng 7 thì hết Từ Nghệ An ra đến Thanh Hóa ngoại, cùng các trấn ở Bắc thành mỗi năm thu thuế 2 vụ: mùa hạ thì khởi tự tháng 4 đến tháng 6 thì hết; mùa đông thì khởi sự tự tháng 10 đến tháng 11 thì hết.
o Kê khai: Lệ định 5 năm một lần làm sổ đinh, trong làng từ chức sắc cho đến quân dân, đều phải vào sổ Kể từ 18 tuổi trở lên, 59 tuổi trở xuống, đều phải khai vào sổ (Đinh bạ).
Thời Pháp thuộc : Thuế thân đánh vào các "suất đinh", là đàn ông từ
13 đến 53 tuổi, trừ những người làm trong bộ máy chính quyền và một sốtrường hợp được miễn khác Theo thống kê vào những năm 1890, thuếthân trung bình khoảng 5 đồng bạc Đông Dương/đinh, trong khi thu nhậpbình quân trên đầu người chỉ khoảng 2 đồng
Ngày 2 tháng 6 năm 1897 Toàn quyền Đông Dương là Paul Dumer đã ranghị định về chính sách thuế thân đối với người dân ở Bắc Kỳ Nội dung
như sau: "thuế thân đánh vào người từ 18 tuổi đến 60 tuổi Tất cả những ai trong diện đóng thuế thân đều phải có thẻ thuế thân Trên thẻ có chữ ký hoặc điểm chỉ, có dấu triện của Lý trưởng Mỗi nǎm thay thẻ một lần, màu sắc thẻ cũng phải thay đổi hàng nǎm Đi đâu cũng phải mang thẻ Trường hợp không mang thẻ mà bị cảnh sát bắt giữ thì phải nộp tiền để lấy thẻ mới Nếu dùng thẻ của người khác phải nộp phạt Người cho mượn thẻ cũng bị phạt."
2.2.1.2 Thời kỳ trước 30/4/1975 ở miền Nam Việt Nam
Ở miền Nam Việt Nam trước năm 1975, chính quyền Sài Gòn đã ápdụng thuế thu nhập cá nhân nhưng với tên gọi là thuế lợi tức lương bổng
"Thuế lương bổng" đánh vào đời sống vốn đã quá khó khăn cho người laođộng, chỉ một ngày sau khi ban hành, một Ủy ban vận động yêu sách giảm
"thuế lương bổng" đã được thành lập Cuộc đấu tranh chống "thuế lươngbổng" của công nhân và lao động thành phố có qui mô khá lớn và kéo dài
Trang 33Mãi đến ngày 14/ 1/1972 chính quyền ngụy mới buộc phải tuyên bố hủy bỏchính sách thuế lương bổng và hứa sẽ bồi thường một tỷ rưỡi đồng cho côngnhân lao động, tư chức đã bị thiệt hại do thứ thuế này gây ra.
2.2.2 Giai đoạn sau năm 1990 - Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người
có thu nhập cao.
UBTVQH nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ban hành Pháplệnh thuế TNĐVNCTNC vào ngày 27/12/1990, và có hiệu lực thi hành từ01/04/1991 Qua hơn 15 năm thực thi, Pháp lệnh thuế TNĐVNCTNC đã 5 lầnsửa đổi cho phù hợp hơn với điều kiện và hoàn cảnh kinh tế xã hội
- Pháp lệnh về sửa đổi Thuế thu nhập đối với người có thu nhập caongày 19/05/1994, có hiệu lực từ ngày 01/06/1994
- Pháp lệnh số 01/1997/PL- UBTVQH9 ngày 06/02/1997, có hiệu lực
từ ngày 06/02/1997 sửa đổi một số điều của Pháp lệnh Thuế thu nhập đối vớingười có thu nhập cao năm 1994
- Pháp lệnh số 14/1999/PL- UBTVQH10 ngày 30/06/1999, sửa đổi một
số điều của Pháp lệnh Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao, có hiệulực từ ngày 01/07/1999
- Pháp lệnh số 35/2001/PL- UBTVQH10 ngày 19/05/2001, thay thếPháp lệnh Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao ngày 19/05/1994, đãđược sửa đổi theo Pháp lệnh sửa đổi một số điều của Pháp lệnh Thuế thu nhậpđối với người có thu nhập cao ngày 06/02/1997 và Pháp lệnh sửa đổi một sốđiều của Pháp lệnh Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao ngày30/06/1999, có hiệu lực ngày 01/07/2001
- Pháp lệnh số 14/2004/PL- UBTVQH11 ngày 24/03/2004 sửa đổi, bổsung một số điều của Pháp lệnh Thuế thu nhập đối với người có thu nhập caothông qua ngày 19/05/2001, có hiệu lực ngày 01/07/2004
Nội dung cơ bản của thuế Thu nhập đối với người có thu nhập cao (TNĐVNCTNC) hiện hành ở Việt Nam.
a) Đối tượng nộp thuế.
Trang 34- Công dân Việt Nam ở trong nước hoặc đi công tác, lao động ở nướcngoài có thu nhập;
- Cá nhân là người không mang quốc tịch Việt Nam nhưng định
cư không thời hạn tại Việt Nam có thu nhập (sau đây gọi là cá nhân khác định
cư tại Việt Nam);
- Người nước ngoài làm việc tại Việt Nam trong các doanh nghiệp, các
tổ chức kinh tế, văn hoá, xã hội, các văn phòng đại diện, các chi nhánh công
ty nước ngoài tại Việt Nam; các cá nhân hành nghề độc lập tại Việt Nam
b) Căn cứ và phương pháp tính thuế
Căn cứ tính thuế là thu nhập chịu thuế và thuế suất.
Thu nhập chịu thuế
* Thu nhập thường xuyên chịu thuế
+ Các khoản thu nhập thường xuyên chịu thuế
- Các khoản thu nhập dưới các hình thức tiền lương, tiền công, tiềnthù lao, bao gồm cả tiền lương làm thêm giờ, lương ca 3, lương tháng thứ 13(nếu có); tiền phụ cấp; tiền trợ cấp thay lương nhận từ quỹ bảo hiểm xã hội;tiền ăn trưa, ăn giữa ca (nếu nhận bằng tiền);
- Tiền thưởng tháng, quý, năm, thưởng đột xuất nhân dịp ngày lễ, tết,ngày thành lập ngành, thưởng từ các nguồn, dưới các hình thức tiền hoặc hiệnvật;
- Thu nhập do tham gia dự án, hiệp hội kinh doanh, hội đồng quản trị,hội đồng quản lý, hội đồng doanh nghiệp;
- Tiền bản quyền sử dụng sáng chế, nhãn hiệu, tác phẩm; thu nhập
về tiền nhuận bút;
- Các khoản thu nhập của các cá nhân không thuộc đối tượng nộp thuếthu nhập doanh nghiệp như: thu nhập từ dịch vụ khoa học, kỹ thuật, dịch vụtin học, dịch vụ tư vấn, thiết kế, kiến trúc, đào tạo; hoạt động biểu diễn, tổchức biểu diễn; quảng cáo; hoạt động thể dục thể thao; dịch vụ đại lý; thunhập từ hoa hồng môi giới; dịch vụ khác;
Trang 35- Các khoản thu nhập không tính trong tiền lương, tiền công được chitrả hộ như tiền nhà, điện, nước; riêng tiền nhà tính theo số thực tế chi trả hộnhưng không vượt quá 15% tổng thu nhập chịu thuế
- Các khoản thu nhập khác mà cá nhân được hưởng từ cơ quan chitrả thu nhập
+ Xác định thu nhập thường xuyên chịu thuế
- Đối với công dân Việt Nam và cá nhân khác định cư tại Việt Nam,thu nhập thường xuyên chịu thuế là số tiền của từng cá nhân thực nhận tínhbình quân tháng trong năm trên 5 triệu đồng
Riêng đối với ca sỹ như diễn viên thanh nhạc biểu diễn các loại hìnhnghệ thuật ca-nhạc kịch, cải lương, tuồng, chèo, dân ca; nghệ sỹ xiếc, múa;cầu thủ bóng đá; vận động viên chuyên nghiệp có xác nhận của cơ quan quản
lý Nhà nước chuyên ngành, được trừ 25% thu nhập khi xác định thu nhậpchịu thuế
- Đối với người nước ngoài được coi là cư trú tại Việt Nam, thu nhậpthường xuyên chịu thuế là tổng số thu nhập phát sinh tại Việt Nam và thunhập phát sinh tại nước ngoài, được tính bình quân tháng trong năm trên 8triệu đồng
- Đối với người nước ngoài được coi là không cư trú tại Việt Nam, thunhập chịu thuế là tổng thu nhập phát sinh tại Việt Nam, không phân biệt nơinhận thu nhập ở Việt Nam hay ở nước ngoài
Người nước ngoài được coi là cư trú tại Việt Nam nếu ở tại Việt Nam
từ 183 ngày trở lên tính cho 12 tháng liên tục kể từ khi đến Việt Nam; đượccoi là không cư trú tại Việt Nam nếu ở tại Việt Nam dưới 183 ngày
* Thu nhập không thường xuyên chịu thuế
+ Các khoản thu nhập không thường xuyên chịu thuế
- Thu nhập về chuyển giao công nghệ (trừ trường hợp biếu, tặng) bao
gồm:
Trang 36+ Chuyển giao các đối tượng sở hữu công nghiệp: sáng chế, giải pháphữu ích, kiểu dáng công nghiệp, tên gọi, xuất xứ hàng hoá, thiết kế bố trímạch tích hợp bán dẫn và nhãn hiệu hàng hóa đang trong thời hạn được phápluật Việt Nam bảo hộ và được phép chuyển giao.
+ Chuyển giao các bí quyết về công nghệ, kiến thức dưới dạng phương
án công nghệ, các giải pháp kỹ thuật, quy trình công nghệ, tài liệu thiết kế
sơ bộ và thiết kế kỹ thuật, công thức, thông số kỹ thuật, bản vẽ, sơ đồ kỹthuật, phần mềm máy tính (được chuyển giao theo Hợp đồng chuyển giaocông nghệ), thông tin dữ liệu về công nghệ chuyển giao có kèm hoặc khôngkèm theo máy móc thiết bị
+ Chuyển giao các giải pháp hợp lý hóa sản xuất, đổi mới công nghệ…
- Trúng thưởng xổ số dưới các hình thức, kể cả trúng thưởng khuyến
mại
+ Xác định thu nhập không thường xuyên chịu thuế
- Đối với thu nhập về chuyển giao công nghệ là khoản thu nhập có giátrị trên 15 triệu đồng tính cho từng hợp đồng, không phân biệt số lần chi trả;
- Đối với thu nhập về trúng thưởng xổ số dưới các hình thức là khoảnthu nhập có giá trị trên 15 triệu đồng tính cho từng lần trúng thưởng và nhậngiải thưởng
Thuế suất
* Đối với thu nhập thường xuyên
Thuế suất đối với thu nhập thường xuyên áp dụng theo Biểuthuế luỹ tiến từng phần quy định tại khoản 4 Điều 1 Pháp lệnh sửa đổi,
bổ sung một số Điều của Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhậpcao như sau:
Trang 37Bảng 2.1: Biểu thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao là công dân
Việt Nam và cá nhân khác định cư tại Việt Nam.
- Đối với người nước ngoài không cư trú tại Việt Nam: áp dụng thuế
suất 25% tính trên tổng thu nhập chịu thuế
* Đối với thu nhập không thường xuyên
Thuế suất đối với thu nhập không thường xuyên được áp dụng đối vớitổng thu nhập chịu thuế
- Đối với thu nhập chịu thuế về chuyển giao công nghệ: Thuế suất 5%
- Đối với thu nhập chịu thuế về trúng thưởng xổ số, trúng thưởngkhuyến mại: Thuế suất 10%
c) Các khoản thu nhập không chịu thuế
Trang 38- Các khoản phụ cấp do Nhà nước Việt Nam quy định áp dụng đối vớithu nhập phát sinh tại Việt Nam;
- Tiền công tác phí;
- Tiền ăn định lượng theo chế độ quy định đối với một số công việc,một số nghề đặc biệt; bữa ăn tại chỗ, ăn trưa, ăn giữa ca (trừ trường hợp nhậnbằng tiền);
- Các khoản trợ cấp xã hội của các đối tượng hưởng chính sách xã hội;
- Tiền bồi thường bảo hiểm do tham gia bảo hiểm con người và tài sản;
- Trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm theo chế độ Nhà nước quyđịnh;
- Trợ cấp điều động về cơ sở sản xuất theo quy định của Nhà nước, baogồm cả trợ cấp chuyển vùng một lần của người nước ngoài đến cư trú tại ViệtNam;
- Tiền thưởng về cải tiến kỹ thuật, sáng chế, phát minh, các giải thưởngquốc tế, các giải thưởng quốc gia do Nhà nước Việt Nam tổ chức, công nhận;
- Tiền thưởng kèm theo các danh hiệu được Nhà nước phong tặng;
- Tiền nộp về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế từ tiền lương, tiền côngcủa người lao động;
- Thu nhập của chủ hộ kinh doanh cá thể, của các cá nhân đã thuộc diệnchịu thuế thu nhập doanh nghiệp;
- Các lợi ích được hưởng do cơ quan chi trả thu nhập thanh toán như:chi phí đào tạo nhân viên trả cho nơi đào tạo, chi vé máy bay về phép củangười nước ngoài (là đối tượng nộp thuế), học phí cho con của người nướcngoài trả trực tiếp cho các cơ sở giáo dục tại Việt Nam thuộc các cấp giáo dục
từ mầm non đến trung học phổ thông
Tạm thời chưa thu thuế thu nhập đối với cá nhân các khoản thu nhập
về lãi tiền gửi ngân hàng, lãi tiền gửi tiết kiệm, lãi tiền cho vay vốn, lãi mua tín phiếu, trái phiếu, kỳ phiếu, cổ phiếu, thu nhập từ hoạt động đầu tư chứng khoán, chênh lệch mua bán chứng khoán
Trang 39d) Đăng ký, kê khai, quyết toán thuế
* Đăng ký thuế
- Đăng ký thuế thông qua cơ quan chi trả thu nhập: Đối với trường hợpxác định được cơ quan chi trả thu nhập, việc kê khai, nộp thuế TNĐVNCTNCđược thực hiện theo nguyên tắc khấu trừ tại nguồn Tổ chức, cá nhân chi trảthu nhập (gọi tắt là cơ quan chi trả thu nhập) có nghĩa vụ khấu trừ tiền thuếthu nhập cá nhân để nộp vào ngân sách Nhà nước trước khi chi trả thu nhậpcho cá nhân
- Đăng ký thuế tại cơ quan thuế: Đối với các trường hợp khác thì cánhân tự thực hiện nộp tờ khai đăng ký cấp mã số thuế cho cơ quan thuế, tự kêkhai, nộp thuế tại cơ quan thuế
* Kê khai thuế
+ Đối với thu nhập thường xuyên
Trường hợp kê khai, nộp thuế tại cơ quan chi trả thu nhập.
- Thực hiện khấu trừ thuế theo Biểu thuế luỹ tiến từng phần đối vớikhoản chi trả thu nhập cho cá nhân thuộc sự quản lý của cơ quan chi trả thunhập;
- Thực hiện khấu trừ thuế 10% trên tổng thu nhập đối với các khoảnchi trả cho cá nhân có thu nhập từ 500.000 đồng/lần trở lên mà khoản thunhập này có được từ các hoạt động đại lý hưởng hoa hồng, môi giới (kể cảtiền thưởng); tiền nhuận bút, tiền giảng dạy; tiền bản quyền sử dụng sáng chế,nhãn hiệu, tác phẩm; tiền thù lao do tham gia dự án, hiệp hội kinh doanh, hộiđồng quản trị, hội đồng thành viên; dịch vụ khoa học, kỹ thuật, dịch vụ tinhọc, dịch vụ tư vấn, thiết kế, kiến trúc, đào tạo, hoạt động biểu diễn, hoạtđộng thể dục thể thao và các khoản tiền chi trả thuộc diện chịu thuế khác Riêng đối với cá nhân là công dân Việt Nam và cá nhân khác định
cư tại Việt Nam thuộc đối tượng được trừ 25% thu nhập khi xác định thunhập chịu thuế quy định, thì thu nhập làm căn cứ khấu trừ 10% là khoản thunhập đã trừ 25%
Trang 40Cuối tháng, cơ quan chi trả thu nhập lập Tờ khai thuế thu nhập đối vớithu nhập thường xuyên của cá nhân theo mẫu quy định để tổng hợp số tiềnthuế đã khấu trừ và nộp vào tài khoản tạm thu của cơ quan thuế
- Đối với khoản chi trả thu nhập cho cá nhân là người nước ngoàikhông cư trú tại Việt Nam thì cơ quan chi trả thu nhập có trách nhiệm khấutrừ tiền thuế và lập tờ khai theo mẫu quy định
Trường hợp kê khai, nộp thuế tại cơ quan thuế.
Hàng tháng, cá nhân nộp tờ khai thuế TNĐVNCTNC cho cơ quan thuếtheo mẫu qui định
+ Đối với thu nhập không thường xuyên: Thuế thu nhập đối với thu nhập
không thường xuyên nộp cho từng lần phát sinh thu nhập Cơ quan chi trả thunhập thực hiện khấu trừ tiền thuế và cấp biên lai thuế khi chi trả cho người
có thu nhập
* Quyết toán thuế
- Quyết toán thuế đối với thu nhập thường xuyên được thực hiện theonăm dương lịch
- Quyết toán thuế thu nhập tại cơ quan chi trả thu nhập áp dụng đối với
cá nhân trong năm chỉ có thu nhập duy nhất tại một nơi
- Quyết toán thuế tại cơ quan thuế áp dụng đối với cá nhân trong năm
có thu nhập từ hai nơi trở lên, cá nhân đăng ký nộp thuế tại cơ quan thuế vàcác trường hợp khác
- Người nước ngoài không cư trú tại Việt Nam đã nộp thuế khấu trừ tạinguồn thì không phải quyết toán thuế