2.2.1. Tác động của chính sách phân phối thu nhập cá nhân tới thu nhập và mức sống chung trong xã hội
Sau hơn 20 năm thực hiện đường lối đổi mới, tình hình kinh tế - xã hội nước ta đã có những chuyển biến sâu sắc và toàn diện. Việc thực hiện nhất quán chính sách phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, xây dựng một nền kinh tế hàng hóa với nhiều thành phần kinh tế cùng tồn tại đã tạo ra động lực thúc đẩy sự phát triển, nền kinh tế nước ta tăng trưởng liên tục với tốc độ cao. Cùng với các chính sách kinh tế - xã hội vĩ mô khác, chính sách phân phối thu nhập cá nhân đã đóng góp vào thành tích đáng tự hào của nền kinh tế.
GDP tăng bình quân hàng năm của thời kỳ 1991-1995 là 8,2%, thời kỳ 1996-2000 là 7%, thời kỳ 2001-2005 là 7,51%, năm 2006 là 8,17% và năm 2007 đạt 8,48%, đây là tốc độ tăng cao thứ hai ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương, chỉ sau Trung Quốc. Quy mô nền kinh tế năm 2007 ƣớc đạt 461.443 tỷ đồng (theo giá
so sánh năm 1994), đã gấp 3,3 lần năm 1991 và bằng 1,67 lần năm 2000. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực (Xem Bảng 9). GDP bình quân đầu người liên tục tăng, đạt 1.122 USD năm 2007 (theo giá hiện hành). Đời sống chung của dân cƣ đƣợc cải thiện rõ rệt.
Bảng 9: Cơ cấu ngành kinh tế Việt Nam một số năm trong giai đoạn 1991-2007 Đơn vị tính: %
Năm 1991 1995 2000 2005 2006 2007
Nụng, lõm nghiệp và thuỷ sản 40,49 27,18 24,53 20,97 20,36 16,52 Cụng nghiệp và xõy dựng 23,79 28,76 36,73 41,02 41,56 38,33
Dịch vụ 35,72 44,06 38,74 38,01 38,08 45,15
Tổng số 100 100 100 100 100 100
Nguồn: Tổng cục Thống kê: Niên giám thống kê năm 2006, http://www.chinhphu.vn: Tình hình kinh tế - xã hội năm 2007.
Bảng 10: Thu nhập bình quân đầu người 1 tháng một số năm trong giai đoạn 1992 - 2007
Đơn vị tính: 1.000 đồng
Năm 1992 1995 1999 2002 2004 2006 2007*
Toàn quốc 92,09 206,1 295,0 356,1 484,4 636 1.515 Chia theo khu vực
Thành thị 151,25 452,83 516,7 622,1 815,4 1058 Nông thôn 77,39 172,50 225,0 275,1 378,1 206 Chia theo vùng
Tây Bắc 197,0 265,7 373
Đông Bắc** 66,74 160,65 210,0 268,8 379,9 511 ĐB sông Hồng 91,32 201,18 280,0 353,1 488,2 653 Bắc Trung Bộ 63,58 160,21 212,4 235,4 317,1 418 DH Nam Trung Bộ 71,12 176,03 252,8 305,8 414,9 551
Tây Nguyên 70,99 241,14 344,7 244,0 390,2 522 Đông Nam Bộ 157,69 378,91 527,8 619,7 833,0 1065 ĐB sông Cửu
Long
105,48 221,96 342,1 371,3 471,1 628
Nguồn: Tổng cục Thống kê: Niên giám thống kê năm 2003, 2006, 2007 và Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Tổng cục Thống kê: Kết quả tóm tắt khảo sát mức sống hộ gia đình năm 2006, Hà Nội, ngày 26-12-2007, http://www.chinhphu.vn: Tình hình kinh tế - xã hội năm 2007.
Ghi chú: * Số liệu năm 2007 mới chỉ có số liệu chung cho toàn quốc, tính theo giá thực tế.
** Từ năm 1999 trở về trước, số liệu được tính chung cho cả vùng Đông Bắc và Tây Bắc.
Mặc dù thu nhập của hộ gia đình thành thị và nông thôn đều tăng, nhƣng do thu nhập của hộ nghèo và đa số hộ ở nông thôn tăng chậm, nên khoảng cách thu nhập có xu hướng gia tăng. Đây là điều mà trong thời gian tới các chính sách phân phối thu nhập nói riêng và chính sách kinh tế – xã hội nói chung cần hết sức chú ý để có hướng điều chỉnh thích hợp, tránh tình trạng phân cách thu nhập quá lớn dẫn đến các vấn đề xã hội.
Trong giai đoạn 2000 đến nay, bình quân mỗi năm tạo việc làm cho 1,5 triệu lao động; các thành phần kinh tế ngoài nhà nước thu hút gần 91% lực lượng lao động xã hội và tạo 90% việc làm mới. Xuất khẩu lao động và chuyên gia bằng 2,3 lần so giai đoạn 1995 - 2000. Chỉ số phát triển con người liên tục được nâng lên.
Theo Báo cáo phát triển con người năm 2005 của Liên hợp quốc, chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam năm 2003 là 0,704, xếp thứ 108/177 nước, trong khi tại các nước kém phát triển, chỉ số này là 0,518; tại các nước có thu nhập trung bình là 0,774 [10, tr. 156]. Đến Báo cáo phát triển con người năm 2007, HDI của Việt Nam là 0,733, xếp thứ 105/177 nước [34, tr. 236], nằm trong nhóm các nước trung bình. Như vậy so với năm 2005 chỉ số này của nước ta đã gia tăng đáng kể và tiến được 3 bậc trên bảng xếp hạng. Xếp hạng GDP đầu người (GDP PPP) trừ đi
xếp hạng HDI của nước ta là +18. Điều này cho thấy sự ưu việt của chế độ ta, dù kinh tế phát triển còn thấp nhƣng đã có những ƣu tiên đáng kể cho sự phát triển con người, thu hẹp khoảng cách xã hội.
Sự nghiệp giáo dục - đào tạo, y tế, văn hoá, thể dục thể thao tuy còn có khó khăn nhƣng đã có nhiều đổi mới và tiến bộ. Từ năm 2000, Chính phủ đã chính thức công bố với cộng đồng quốc tế: Việt Nam đã hoàn thành mục tiêu phổ cập giáo dục tiểu học và xoá nạn mù chữ. Đây là thành tựu hết sức quan trọng trong lịch sử giáo dục nước ta. Cùng với củng cố kết quả xoá mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học, việc phổ cập giáo dục trung học cơ sở đã đƣợc triển khai tích cực, đến hết năm 2005 có 31 tỉnh đạt tiêu chuẩn phổ cập trung học cơ sở. Tỉ lệ học sinh trong độ tuổi đi học ở bậc tiểu học đạt 97,5%. Đào tạo đại học, cao đẳng, trung học và dạy nghề đều có bước phát triển. Số học sinh trung học chuyên nghiệp tăng 15,1%/năm và dạy nghề dài hạn tăng 12%/năm, sinh viên đại học và cao đẳng tăng 8,4%/năm.
Sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ của nhân dân có bước tiến bộ đáng khích lệ. Hoạt động y tế dự phòng được đẩy mạnh hơn. Mạng lưới y tế, đặc biệt là y tế cơ sở được củng cố và phát triển; hầu hết các xã, phường trong cả nước đều có trạm y tế, trên 65% trạm có bác sĩ. Một số cơ sở y tế chuyên ngành đƣợc nâng cấp, ứng dụng công nghệ tiên tiến. Chế độ khám, chữa bệnh cho người nghèo, khám, chữa bệnh miễn phí cho trẻ em dưới 6 tuổi đang được triển khai thực hiện. Tỉ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng giảm từ 33,4% năm 2000 xuống dưới 25% năm 2005; tỉ lệ tử vong của trẻ em dưới 1 tuổi còn 18‰ trẻ đẻ sống. Tuổi thọ bình quân của dân số nước ta từ 67,8 tuổi vào năm 2000 đã nâng lên 71,5 tuổi vào năm 2005 và theo Báo cáo phát triển con người 2007/2008, tuổi thọ bình quân đạt 73,7.
Đời sống tinh thần của người dân cũng tăng lên đáng kể. Số lượng thư viện tăng từ 575 năm 1995 lên 642 năm 2000 và đến năm 2006 là 679; số bản sách trong thư viện cũng tăng tương ứng là 14,5 triệu, 15,5 triệu và 20 triệu bản. Số rạp chiếu phim, rạp hát và cơ sở thể dục thể thao cũng gia tăng đáng kể.
Tóm lại, các chính sách kinh tế – xã hội của Đảng và Nhà nước nói chung, trong đó có chính sách phân phối thu nhập cá nhân ở nước ta thời gian qua đã tạo
cho đời sống vật chất và tinh thần của các tầng lớp dân cƣ đƣợc cải thiện rõ rệt. Các chính sách đã khuyến khích mọi người dân làm giàu chính đáng, thu nhập của các dân cƣ đều tăng, kể cả các hộ nghèo, hộ chính sách, hộ ở vùng sâu, vùng xa đều được hưởng thành quả của tăng trưởng kinh tế thông qua các chính sách điều tiết thu nhập, chính sách xã hội, chương trình xoá đói, giảm nghèo. Các chính sách phân phối thu nhập cá nhân của Nhà nước đã đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện chủ trương của Đảng: gắn tăng trưởng kinh tế với và công bằng xã hội ngay trong từng bước phát triển.
2.2.2. Một số vấn đề đặt ra đối với chính sách phân phối thu nhập cá nhân ở Việt Nam thời gian qua
Vấn đề lớn nhất đặt ra với chính sách phân phối thu nhập cá nhân ở nước ta thời gian qua đó là sự phân hoá giầu - nghèo trong xã hội ngày càng tăng. Theo kết quả điều tra của Tổng cục thống kê, nếu so sánh thu nhập 20% nhóm hộ có thu nhập cao nhất với thu nhập 20% nhóm hộ có thu nhập thấp nhất chênh lệch nhau là 7,3 lần (năm 1996) đã tăng lên 8,9 lần (năm 1999), tuy đã giảm còn 8,1 lần năm 2002, nhƣng sau đó lại tăng lên 8,3 lần năm 2004 và 8,6 lần năm 2006 và tiếp tục có xu hương gia tăng. Năm 2006, mức chi tiêu cho đời sống khu vực thành thị gấp 2,06 lần khu vực nông thôn, chi tiêu đời sống của nhóm hộ giàu nhất cao gấp 4,54 lần nhóm hộ nghèo nhất.
Bảng 11: Chênh lệch thu nhập giữa 20% dân số thu nhập cao nhất với 20% dân số thu nhập thấp nhất
Đơn vị tính: lần
1994 1999 2002 2004 2006*
Toàn quốc 6,5 8,9 8,1 8,3 8,4
Chia theo khu vực
- Thành thị 7,0 9,8 8,0 8,1
- Nông thôn 5,4 6,3 5,9 6,3
Chia theo vùng
- Tây Bắc 5,2 6,8 5,9 6,4
- Đông Bắc** 5,2 6,8 6,2 7,0
- ĐB sông Hồng 5,6 7,0 6,8 7,0
- Bắc Trung Bộ 5,2 6,9 5,8 6,0
- DH Nam Trung Bộ 4,9 6,3 5,8 6,5
- Tây Nguyên 10,1 12,9 6,4 7,6
- Đông Nam Bộ 7,4 10,3 9,03 8,72
- ĐB sông Cửu Long
6,1 7,9 6,81 6,74
Nguồn: Điều tra mức sống hộ gia đình các năm 1999, 2002, 2004 và 2006 và tính toán của tác giả.
Ghi chú: * Số liệu năm 2006 mới chỉ có số liệu chung cho toàn quốc.
** Từ năm 1999 trở về trước, số liệu được tính chung cho cả vùng Đông Bắc và Tây Bắc.
Sự phân hoá giầu nghèo còn đƣợc nhận biết qua sự biến đổi của hệ số Gini và tỷ lệ thu nhập của 40% số hộ có thu nhập thấp trong tổng thu nhập của toàn bộ dân cư. Hệ số Gini ở nước ta như sau: năm 1994 là 0,35; 1999 là 0,39, 2002 là 0,418, 2004 là 0,42 và 2006 là 0,42. Nhƣ vậy, hệ số Gini tăng qua các năm chứng tỏ sự bất bình đẳng có tăng nhƣng không nhiều. Tỷ lệ thu nhập của 40% số hộ có mức thu nhập thấp nhất chiếm trong tổng thu nhập của các hộ điều tra năm 1994 là 20%; 1999 là 18,7%; 2002 là 17,98%; 2004 là 17,4% và 2006 là 17,4%. Có thể nhận thấy Việt Nam cú phân bố thu nhập dân cư ở mức tương đối bỡnh đẳng nhưng đang có xu hướng tăng lên mức bất bỡnh đẳng vừa. Đây là điều cần hết sức tránh vì sự phân hoá giầu - nghèo ngày càng dãn rộng sẽ lan sang các lĩnh vực khác nhƣ giáo dục, chăm sóc sức khoẻ, nhà ở và các dịch vụ cơ bản khác,… Điều đó đƣa đến hệ quả không mong muốn, làm xuất hiện những nhóm xã hội dễ bị tổn thương trong kinh tế thị trường, tác động đến tư tưởng, tâm lý, niềm tin về công bằng xã hội.
Các chính sách tiền lương, chính sách thuế thu nhập cá nhân, các chính sách xã hội là những công cụ của Nhà nước để phân phối thu nhập và thực hiện công bằng xã hội. Trong thời gian qua, các chính sách đó đã đƣợc đổi mới về cơ bản và
đã mang lại những kết quả tích cực, nhƣng trong quá trình hoạt động cũng nhƣ trong bối cảnh mới hiện nay, các chính sách đó đã bộc lộ những hạn chế, những vấn đề đặt ra cần đƣợc giải quyết, hoàn thiện.
Chính sách tiền lương là một trong những chính sách phân phối chủ yếu, nhưng hiện nay tiền lương tối thiểu thấp, không đủ chi phí cho nhu cầu thiết yếu của người lao động, tiền lương thực tế có xu hướng giảm. Chính sách tiền lương còn mang tính bình quân. Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ƣơng Đảng khoá IX đã nhận định: tiền lương của cả người đang công tác và người nghỉ hưu, người hưởng trợ cấp ưu đãi nhìn chung còn thấp; đời sống của một bộ phận đối tượng này còn khó khăn, chính sách tiền lương chưa bảo đảm tốt nguyên tắc phân phối theo lao động. Vì thế, tiền lương hiện nay còn chưa thực hiện tốt các chức năng của nó. Thu nhập từ lương của những người làm việc trong khu vực hành chính sự nghiệp chỉ khoảng 30%, thu nhập ngoài lương chiếm một tỷ trọng lớn, điều đó đƣa đến những hậu quả nghiêm trọng, hệ thống phân phối bị rối loạn. Tiền lương chưa thực sự là giá cả sức lao động được hình thành trên cơ sở thảo luận giữa người lao động và người sử dụng lao động, mà phần lớn các thoả thuận đó chỉ dựa trên điều kiện do người sử dụng lao động đưa ra.
Do đó, vấn đề đặt ra là phải tiến hành cải cách chính sách tiền lương đảm bảo cho tiền lương thực hiện được các chức năng của nó và phù hợp với thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN.
Chính sách thuế thu nhập cá nhân cũng là chính sách phân phối cơ bản và là công cụ chủ yếu để Nhà nước thực hiện tái phân phối. Hiện nay thuế thu nhập cá nhân chƣa bao quát đƣợc hết các nguồn thu, tính công bằng của hệ thống chƣa cao, mới chỉ điều tiết đối với những cá nhân có thu nhập cao, chƣa điều tiết vào đại bộ phận dân cư (vấn đề này đã bước đầu được khắc phục trong Luật thuế thu nhập cá nhân mới có hiệu lực thi hành từ ngày 1-1-2009). Chƣa có biện pháp để có thể xác định chính xác thu nhập cá nhân để từ đó áp mức thuế suất phù hợp, vừa đảm bảo sự công bằng trong hệ thống thuế, vừa tránh đƣợc tình trạng gian lận thuế. Ngoài
ra, hệ thống thuế hiện nay còn nhiều điểm chƣa phù hợp với thông lệ quốc tế, chƣa đảm bảo tính tương thích cần thiết cho việc hội nhập kinh tế quốc tế.
Để thuế thu nhập cá nhân thực sự trở thành công cụ phân phối đắc lực của Nhà nước, vấn đề đặt ra là cần tiếp tục cải cách nhằm xây dựng hệ thống thuế có tính linh hoạt, ổn định, công bằng và hiệu quả; đảm bảo để thuế thực hiện đƣợc các chức năng của nó.
Các chính sách xã hội là công cụ của Nhà nước để giảm bớt sự chênh lệch quá lớn về mức sống giữa các tầng lớp dân cƣ, thực hiện công bằng xã hội. Trong thời gian qua việc giải quyết việc làm đạt kết quả tích cực, công tác xoá đói giảm nghèo đạt thành tựu nổi bật, tỷ lệ đói nghèo dù theo tiêu chuẩn nào cũng giảm nhanh. Hệ thống an sinh xã hội được hoàn thiện, có mạng lưới rộng khắp, nội dung hoạt động đa dạng và đã thực sự đi vào chiều sâu. Tuy nhiên, phúc lợi xã hội còn chiếm một tỷ trọng thấp trong tổng thu nhập của dân cƣ, điều đó có nghĩa là dân cƣ Việt Nam chủ yếu có thu nhập từ lao động. Trong việc phân phối phúc lợi xã hội, có thể thấy, các tầng lớp trung lưu được hưởng nhiều hơn chứ không phải là nhóm thu nhập thấp, đặc biệt các dịch vụ xã hội cơ bản nhƣ vui chơi giải trí, y tế, giáo dục… Có thể thấy rõ điều này qua tình trạng trường học, bệnh viện ở vùng đồng bằng, thành thị đƣợc đầu tƣ từ ngân sách tốt hơn hẳn những vùng sâu, vùng xa, vùng cao… trong khi đáng ra những vùng này có thể huy động đƣợc nhiều nguồn lực khác cho các phúc lợi chung này. Mức trợ cấp xã hội hiện nay là quá thấp, khiến cho ý nghĩa của chính sách xã hội này bị giảm đi rất nhiều. Tất nhiên việc nâng mức trợ cấp xã hội là khó khăn vì đối tượng cần hưởng trợ cấp quá lớn, trong khi ngân sách lại eo hẹp. Chính vì vậy cần rất nhiều những cơ chế tạo nguồn thu hiệu quả để giảm gánh nặng ngân sách cho hỗ trợ những đối tƣợng yếu thế trong xã hội.
Vấn đề việc làm cũng đặt ra cho các nhà quản lý và hoạch định chính sách khá nhiều câu hỏi hóc búa. Tỷ lệ thất nghiệp tuy giảm nhƣng hiệu suất lao động, thời gian lao động thấp, đặc biệt ở khu vực nông thôn. Chất lƣợng lao động thấp,
thừa lao động tay nghề thấp trong khi lại thiếu lao động có tay nghề phục vụ trong các ngành đòi hỏi trình độ công nghệ cao. Hiện nay, rất nhiều khu vực trong cả nước diễn ra tình trạng lấy đất nông nghiệp có chất lượng tốt, vị trí thuận lợi, phải mất hàng nghìn năm cải tạo mới đƣợc nhƣ hiện tại, để xây dựng các khu công nghiệp, sân gôn. Người nông dân mất ruộng đất nhưng lại không được đào tạo nghề mới dẫn đến việc họ tuy có một lượng tiền đền bù nhưng mất đi môi trường lao động, môi trường sinh hoạt truyền thống nghìn đời của mình. Đây là điều rất nguy hại cả trước mắt và trong dài hạn. Mất việc làm, không có khả năng lao động vì không được đào tạo bài bản, đó là con đường dẫn đến đói nghèo, đến các bất ổn xã hội. Đó còn chƣa kể việc lấy đất cho các mục đích trên dẫn đến tình trạng bêtông hoá đất đai, nếu các khu trên hoạt động không hiệu quả, muốn quay trở lại trồng trọt cũng không thể thực hiện đƣợc trong thời gian ngắn. Sẽ phải rất tốn kém tiền của, công sức và thời gian để cải tạo đất đai, có đƣợc chất lƣợng đất nhƣ ban đầu.
Tỷ lệ đói nghèo giảm nhƣng, nhƣ trên đã trình bày, chƣa bền vững, tỷ lệ tái đói nghèo cao, đặc biệt trong khu vực nông nghiệp. Chuẩn đói nghèo còn thấp so với thế giới. Đây là vấn đề rất đáng quan tâm đối với Việt Nam. Chúng ta phát triển mạnh sản xuất nông nghiệp hàng hoá, thế nhƣng vẫn còn một bộ phận dân cƣ làm nông nghiệp xảy ra tình trạng thiếu đói mùa giáp hạt, hay sau thiên tai, dịch hoạ.
An ninh lương thực cần phải đảm bảo trong bất cứ tình huống nào, đó là cơ sở đảm bảo ổn định xã hội, phát triển bền vững. Chính sách xoá đói giảm nghèo của chúng ta là một hệ thống gồm rất nhiều chính sách khác nhau, tuy nhiên các chính sách này dường như vẫn quá chú trọng giải quyết những vấn đề liên quan đến đầu vào cho phát triển sản xuất của người nghèo. Tuy nhiên giải quyết đầu ra cho các sản phẩm của người nghèo dường như lại chưa được quan tâm đúng mức, chính vì vậy khi họ đã mất nhiều công sức, tiền của phát triển đƣợc sản xuất, tạo ra đƣợc sản phẩm thì lại không có hoặc không có đủ thị trường tiêu thụ. Những người dân nghèo phải bán sản phẩm dưới giá thành, thậm chí phải vứt bỏ khiến cho cuộc sống của họ càng thêm cơ cực, nợ chồng lên nợ, đã nghèo lại càng nghèo thêm. Chuẩn