Quan điểm hoàn thiện chính sách phân phối thu nhập cá nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam

Một phần của tài liệu Chính sách phân phối thu nhập cá nhân ở Việt Nam (Trang 95 - 100)

QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH PHÂN PHỐI THU NHẬP CÁ NHÂN Ở VIỆT NAM

3.1. Quan điểm hoàn thiện chính sách phân phối thu nhập cá nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam

3.1.1. Phân phối thu nhập cá nhân trong kinh tế thị trường định hướng XHCN phải lấy nguyên tắc phân phối XHCN làm chủ đạo, gắn với việc thực hiện các nguyên tắc thị trường

Việt Nam đang trong thời kỳ quá độ lên CNXH, nền kinh tế chúng ta đang xây dựng là nền KTTT định hướng XHCN với nhiều thành phần kinh tế cùng song song tồn tại. Chính vì vậy, sẽ tồn tại nhiều hình thức phân phối thu nhập tương ứng trong nền kinh tế, đó là: phân phối theo lao động, phân phối theo tài sản, phân phối thông qua phúc lợi xã hội. Với mục tiêu xây dựng nền kinh tế theo định hướng XHCN nên các nguyên tắc phân phối thu nhập của CNXH - phân phối theo lao động và phân phối thông qua phúc lợi xã hội - sẽ là chủ đạo trong quan điểm xây dựng chính sách phân phối ở Việt Nam trước mắt cũng như trong tương lai.

Chúng ta đều biết phân phối theo lao động là đặc trƣng bản chất của kinh tế thị trường định hướng XHCN, là hình thức thực hiện về mặt kinh tế của chế độ công hữu. Nếu không thực hiện phân phối theo lao động thì không thể thực hiện được quyền bình đẳng của người lao động đối với tư liệu sản xuất thuộc chế độ công hữu, do đó tính định hướng XHCN của nền kinh tế nước ta cũng không được thực hiện. Phân phối theo lao động được thực hiện dưới hình thức tiền lương và các khoản thu nhập có tính chất lương. Để thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao động, cần loại bỏ triệt để chế độ phân phối bình quân, nghĩa là hình thức phân phối làm triệt tiêu động lực phát triển của mỗi cá nhân. Tiền lương phải được xây dựng dựa trên hiệu quả chung của tổ chức sử dụng lao động (doanh nghiệp, tổ chức, cơ quan hành chính…). Từ đó, các tổ chức này sẽ được quyền quyết định mức lương của mỗi cá nhân căn cứ vào năng suất, chất lƣợng công việc của cá nhân đó.

Phân phối thu nhập thông qua phúc lợi xã hội cũng là nguyên tắc phân phối thể hiện bản chất của CNXH. Hình thức phân phối này có ý nghĩa quan trọng trong việc thực hiện công bằng xã hội, nâng cao mức sống chung của nhân dân, đặc biệt những người có thu nhập thấp; giảm sự chênh lệch về thu nhập giữa các tầng lớp nhân dân, tạo điều kiện cho con người phát triển toàn diện.

Bên cạnh việc thực hiện nguyên tắc phân phối thu nhập của CNXH, chúng ta cũng phải chú trọng thực hiện cả nguyên tắc thị trường trong phân phối thu nhập, tức là dựa trên các quy luật cung – cầu, cạnh tranh để thay thế cho việc áp đặt các mệnh lệnh hành chính. Nói cách khác, cơ chế phân phối vẫn phải đảm bảo các nguyên tắc của CNXH, đồng thời cũng phải phù hợp với thể chế kinh tế thị trường. Có như vậy mới đảm bảo đƣợc tính hiệu quả của cơ chế phân phối, đồng thời không đi chệch hướng XHCN.

3.1.2. Phân phối thu nhập cá nhân trong KTTT định hướng XHCN cần kết hợp hài hoà các lợi ích kinh tế để tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

Hệ thống lợi ích kinh tế trong nền KTTT định hướng XHCN bao gồm lợi ích của người lao động, lợi ích của doanh nghiệp và lợi ích xã hội mà Nhà nước là đại diện, trong đó lợi ích cá nhân người lao động là động lực trực tiếp thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội. Nếu các lợi ích kinh tế đó đƣợc kết hợp một cách hài hoà sẽ tạo thành động lực tổng hợp lớn nhất thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội.

Nhà nước cần có các cơ chế, chính sách kết hợp được các lợi ích nói trên để tạo ra hiệu quả kinh tế – xã hội lớn nhất, đặc biệt chú trọng tới các chính sách phân phối tác động trực tiếp đến thu nhập cá nhân là chính sách tiền lương, chính sách thuế thu nhập cá nhân (và một số loại sắc thuế khác nhƣ thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế tiêu thụ đặc biệt…) và các chính sách an sinh xã hội.

Lợi ích của người lao động được thể hiện ở tiền lương, tiền thưởng và các khoản phụ cấp lương. Để tiền lương trở thành đòn bẩy thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế, trước tiên cần phải xác định tương đối chính xác mức tiền lương tối thiểu. Trên cơ sở đó xây dựng hệ thống các thang, bảng lương hợp lý, phản ánh được mối quan hệ về tiền lương giữa những người lao động có trình độ lành nghề khác nhau trong

cùng một ngành nghề và giữa các ngành nghề với đặc thù công việc khác nhau.

Mức độ phức tạp của lao động càng cao, trình độ lao động càng cao thì tiền lương càng cao. Tiền lương phải gắn với năng suất, chất lượng và hiệu quả thì mới tạo ra kích thích đối với người lao động.

Bên cạnh chính sách tiền lương, cần nghiên cứu chế độ phân chia lợi nhuận doanh nghiệp, thực hiện chia một phần lợi nhuận cho người lao động trong doanh nghiệp. Ở nước ta hiện nay, việc phân chia lợi nhuận cho người lao động mới bước đầu đƣợc áp dụng trong các doanh nghiệp cổ phần. Thời gian tới cần mở rộng hình thức phân phối thu nhập này vì một mặt nó nâng cao thu nhập của người lao động, mặt khác cũng là hình thức kích thích người lao động hăng hái và có trách nhiệm cao hơn trong công việc. Cần từng bước thể chế hoá chế độ phân phối lợi nhuận đảm bảo kết hợp hài hoà lợi ích của người lao động và của doanh nghiệp, đảm bảo mối quan hệ hợp lý giữa tích luỹ và tiêu dùng, nhờ đó tạo cơ sở cho sự phát triển của doanh nghiệp.

Chính sách thuế thu nhập cá nhân có vai trò quan trọng đối với phân phối thu nhập, góp phần thực hiện công bằng xã hội. Thuế thu nhập phản ánh quan hệ lợi ích của cả ba chủ thể là cá nhân, doanh nghiệp và Nhà nước, có tác động mạnh đến điều tiết thu nhập giữa các tầng lớp dân cƣ và là một nguồn thu quan trọng của ngân sách. Vì thế, Nhà nước cần xây dựng một hệ thống thuế thu nhập có hiệu quả, công bằng đối với tất cả đối tƣợng nộp thuế để không những điều hoà đƣợc lợi ích kinh tế của các chủ thể mà còn khuyến khích phát triển sản xuất. Hướng hoàn thiện chính sách thuế thu nhập là giảm mức thuế suất và mở rộng diện chịu thuế, nhờ đó kích thích các hoạt động kinh tế. Cụ thể là đƣa hầu hết các loại thu nhập của cá nhân vào diện chịu thuế thu nhập cá nhân, giảm mức thuế suất tối đa và cơ cấu lại bậc thang giữa các mức thuế suất.

Hệ thống các chính sách an sinh xã hội cũng cần chú trọng xây dựng để tạo ra lưới an toàn xã hội, đảm bảo để những người có thu nhập thấp nhất trong xã hội cũng đƣợc tiếp cận với các dịch vụ xã hội tối thiểu nhƣ y tế, giáo dục, vệ sinh…

Các chính sách xã hội nhƣ chính sách giải quyết việc làm, chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, chính sách xóa đói giảm nghèo có vai trò rất quan trọng để tạo

ra sự công bằng xã hội giữa những người có thu nhập khác nhau, góp phần thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các tầng lớp trong xã hội.

3.1.3. Phân phối thu nhập trong KTTT định hướng XHCN cần giải quyết hợp lý mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội theo hướng tăng trưởng kinh tế gắn liền với đảm bảo tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước phát triển

Sự thống nhất giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội là yêu cầu khách quan của kinh tế thị trường định hướng XHCN. Mục tiêu chung của sự vận hành kinh tế thị trường định hướng XHCN là không ngừng tăng của cải xã hội để thoả mãn ngày càng đầy đủ hơn nhu cầu vật chất và tinh thần của nhân dân. Điều đó đòi hỏi sự thống nhất giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng trong phân phối, nếu thiên lệch về một phía, thì sự vận hành của nền kinh tế sẽ không đạt đƣợc kết quả nhƣ mong muốn. Tăng trưởng kinh tế tạo ra điều kiện vật chất để thực hiện công bằng và tiến bộ xã hội. Chỉ có không ngừng tăng trưởng kinh tế làm tăng thêm khối lƣợng của cải vật chất thì sự phân phối công bằng mới có điều kiện thực hiện.

Ngƣợc lại, phân phối công bằng sẽ khơi dậy, kích thích tính tích cực, sáng tạo của mọi người, nhờ đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Cùng với sự phát triển kinh tế thị trường, việc hình thành khoảng cách về thu nhập là không thể tránh khỏi. Vấn đề là phải giữ khoảng cách về thu nhập ở mức độ vừa phải để đảm bảo động lực cho tăng trưởng kinh tế. Nếu khoảng cách về thu nhập không hợp lý sẽ dẫn đến mở rộng mâu thuẫn giữa tăng trưởng và công bằng.

Kinh nghiệm phân phối thu nhập ở nhiều nước trên thế giới cho thấy, nếu thu nhập của 10% dân số giàu nhất so với thu nhập 10% dân số nghèo nhất có chỉ số chênh lệch trong khoảng từ 6 đến 9 lần là khung hợp lý, an toàn và đảm bảo công bằng, có tác dụng kích thích tăng trưởng kinh tế. Bên cạnh việc hạn chế mở rộng quá mức khoảng cách thu nhập, cũng cần xoá bỏ chế độ phân phối bình quân, không có khoảng cách về thu nhập là cơ chế phân phối triệt tiêu động lực của phát triển.

Để hiện thực hóa quan điểm này cần quan tõm tới cỏc khớa cạnh sau:

- Trong phân phối lần đầu cần coi trọng hiệu suất, phát huy tác dụng của cơ chế thị trường nhằm hướng vào mục tiêu tăng trưởng; với phõn phối lại phải coi trọng cụng bằng, gắn liền với nâng cao năng lực điều tiết của Nhà nước trong phân phối thu nhập; điều tiết sự chênh lệch quá lớn về trỡnh độ phát triển, thu nhập, nhất là trong các lĩnh vực độc quyền nhƣ điện, xăng dầu,...

- Công bằng trong kinh tế cần nhấn mạnh đến việc tạo, duy trỡ điều kiện, cơ hội phát triển sản xuất và tăng trưởng kinh tế công bằng giữa các vùng, địa bàn kinh tế (giữa miền núi với đồng bằng, giữa nông thôn với thành thị, giữa các vùng trọng điểm kinh tế với các vùng khác, giữa vùng phát triển công nghiệp với vùng phát triển nông nghiệp...), các thành phần và chủ thể kinh doanh (giữa doanh nghiệp nhà nước và các loại hỡnh doanh nghiệp khỏc, giữa kinh tế trong nước và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài). Ở đây, công bằng xó hội được hiểu theo cả hai khía cạnh: công bằng về các quyền cơ bản của con người và công bằng về cơ hội phát triển.

- Khi hoạch định đường lối, chiến lược phát triển kinh tế - xó hội phải đảm bảo gắn kết chặt chẽ các chính sách kinh tế với chính sách xó hội một cỏch hữu cơ;

phân bổ nguồn lực phát triển hợp lý giữa cỏc mục tiờu, nhiệm vụ kinh tế và xó hội trong một thể thống nhất. Khi xây dựng một chương trình phát triển kinh tế, ngay từ đầu cần chú ý tới các động về mặt xã hội mà việc thực hiện chính sách đó có thể gây ra, lường trước được những hậu quả có thể xảy ra trong tương lai, từ đó dự trù các phương án thích hợp (tài chính, kỹ thuật...) để xử lý vấn đề nếu có phát sinh.

Nhà nước thực hiện các chính sách phân phối lại thu nhập quốc dân một cách hợp lý, đảm bảo công bằng, hạn chế sự phân hoá giàu nghèo; đồng thời các vấn đề giải quyết việc làm, xoá đói giảm nghèo, cứu trợ xã hội cần đƣợc giải quyết theo tinh thần xã hội hoá.

3.1.4. Phân phối thu nhập trong KTTT định hướng XHCN cần đặc biệt quan tâm đến tầng lớp dân cư có thu nhập thấp, các vùng còn kém phát triển

Cùng với sự phát triển kinh tế thị trường cũng diễn ra sự phân tầng xã hội theo mức sống, sự phân hoá giàu nghèo; cơ hội phát triển của người giàu sẽ nhiều

hơn người nghèo. Những khác biệt như vậy diễn ra trước hết trong lĩnh vực kinh tế, sau đó sẽ lan sang các lĩnh vực khác nhƣ giáo dục, chăm sóc sức khoẻ, nhà ở và các dịch vụ cơ bản khác. Một bộ phận dân cƣ rơi vào cảnh nghèo đói, xuất hiện những nhóm người dễ bị tổn thương trong cơ chế thị trường.

Công cuộc đổi mới đất nước đã nâng cao mức sống cho nông dân, đời sống khá hơn trước, nhưng hiện nay khoảng cách chênh lệch mà trước tiên là chênh lệch thu nhập giữa thành thị và nông thôn lại khắc sâu thêm, tốc độ tăng trưởng kinh tế của khu vực thành thị vẫn cao hơn rất nhiều so với khu vực nông thôn. Nhóm dân cƣ nghèo đói vẫn tập trung chủ yếu ở nông thôn, trên 90% hộ nghèo tập trung ở nông thôn, trong đó tuyệt đại bộ phận là hộ thuần nông. Những vùng núi, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số vẫn là vùng có tỷ lệ nghèo đói cao nhất (xem thêm Chương 2, phần 2.2).

Phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN là để phát triển lực lượng sản xuất, xây dựng CNXH, thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Vì vậy, một trong những nhiệm vụ trọng yếu cần đƣợc giải quyết trong quá trình xây dựng kinh tế thị trường định hướng XHCN là nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, đặc biệt là tầng lớp dân cƣ có thu nhập thấp, thực hiện công bằng xã hội, giảm sự chênh lệch về trình độ phát triển giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng, miền.

Xét từ phương diện tái phân phối, Nhà nước cần chú trọng thực hiện các chính sách xã hội nhƣ chính sách giáo dục - đào tạo, chính sách y tế và chăm sóc sức khoẻ, chính sách bảo hiểm xã hội, chính sách giải quyết việc làm, chính sách xoá đói giảm nghèo, chính sách ƣu đãi xã hội để cải thiện và nâng cao đời sống của nhân dân, đặc biệt là những người có thu nhập thấp.

Một phần của tài liệu Chính sách phân phối thu nhập cá nhân ở Việt Nam (Trang 95 - 100)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(128 trang)