1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Skkn ngữ văn thpt (4)

101 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Skkn ngữ văn thpt (4)
Trường học Trường THPT Lý Tự Trọng
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Báo cáo sáng kiến
Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 1,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giúp học sinh nắm chắc kiến thức cơ bản về các tác giả, tác phẩm trong chương trình để có chất liệu làm tốt bài viết nghị luận văn học 10 b.. Từ cơ sở lý luận và thực tiễn ấy, tôi đã

Trang 1

MỤC LỤC

MỤC LỤC:

BÁO CÁO SÁNG KIẾN:

I ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN: 1

II MÔ TẢ GIẢI PHÁP 3

1 Thực trạng năng lực làm bài nghị luận văn học của học sinh trường THPT Lý

Tự Trọng trước khi áp dụng sáng kiến

3

1.1 Câu nghị luận văn học trong đề thi tốt nghiệp THPT được ra rất linh hoạt

và có yêu cầu phân hóa đối với đa số học sinh lớp 12

3

1.2 Đa số học sinh tỏ ra lúng túng khi đối diện với câu nghị luận văn học trong

đề thi tốt nghiệp THPT …vì chương trình SGK ít có những tiết lý thuyết và thực

hành riêng cho kiểu đề phân hóa này

7

1.3 Kết quả kiểm tra năng lực viết bài nghị luận văn học trong đề thi thử tốt

nghiệp THPT hoặc đề thi chất lượng các kì của học sinh còn hạn chế

9

2 Một vài kinh nghiệm giúp học sinh lớp 12 nâng cao năng lực viết bài nghị

luận văn học trong đề thi tốt nghiệp THPT ở trường THPT Lý Tự Trọng

9

2.1 Trước hết, giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh nắm vững những kĩ năng

chung nhất khi viết một bài nghị luận văn học nói chung và trong đề thi tốt

nghiệp THPT nói riêng

10

a Giúp học sinh nắm chắc kiến thức cơ bản về các tác giả, tác phẩm trong

chương trình để có chất liệu làm tốt bài viết nghị luận văn học

10

b Căn cứ vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể, vào tâm thế và ý đồ sáng tác của tác

giả, để hiểu đúng, hiểu sâu tác phẩm

11

c Phải đảm bảo tính thống nhất hữu cơ giữa nội dung và hình thức của văn

bản

12

d Bài văn nghị luận cần có hệ thống luận điểm rõ ràng, mạch lạc, những luận

cứ đúng đắn, sinh động và lập luận thuyết phục

13

e Phải có kĩ năng đưa kiến thức lí luận và nhận định lí luận văn học vào bài

làm văn nghị luận văn học

13

g Kĩ năng chuyển đoạn và liên kết trong bài văn nghị luận văn học 20

h Lời văn của một bài nghị luận văn học cần chuẩn xác, trong sáng, thể hiện

rung cảm chân thành, tự nhiên của người viết

23

Trang 2

2.2 Học sinh cần phải nắm vững khung Hướng dẫn chấm của Bộ Giáo dục và Đào tạo trong đề thi tốt nghiệp THPT những năm gần đây

24

3 Giúp học sinh nhận diện được các kiểu, dạng của câu nghị luận văn học trong đề thi tốt nghiệp THPT

24

4 Cách làm các dạng bài nghị luận văn học trong đề thi tốt nghiệp THPT 25

4.2 Nghị luận về một tác phẩm/đoạn trích văn xuôi 28

5 Hướng dẫn học sinh cách viết từng phần của bài nghị luận văn học trong đề thi tốt nghiệp THPT

3 Một vài số liệu cụ thể về giá trị lợi ích của SKKN 60

Trang 3

1

BÁO CÁO SÁNG KIẾN

I ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN:

Thực hiện Nghị quyết số: 29-NQ/TW, ngày 4/11/2013 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế đã được Hội

nghị Trung ương 8 (khóa XI) thông qua Trong những năm gần đây ngành Giáo dục và

Đào tạo đã và đang triển khai nhiều dự án nhằm đổi mới căn bản, toàn diện Giáo dục

và Đào tạo Đó là một quá trình đổi mới toàn diện: từ mục tiêu, nội dung, phương

pháp đến phương tiện giáo dục, đánh giá chất lượng giáo dục, kể cả việc đổi mới cách xây dựng chương trình và những hoạt động quản lý của quá trình này Trong các khâu của quá trình đổi mới ấy, trên các phương tiện thông tin, đại chúng, Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Vinh Hiển đã khẳng định, đổi mới kiểm tra, đánh giá là

giải pháp đột phá đổi mới căn bản và toàn diện Giáo dục và Đào tạo Thứ trưởng

Nguyễn Vinh Hiển cũng cho rằng, đối với từng môn, việc kiểm tra, đánh giá đầu tiên

là phải hướng tới đánh giá năng lực người học, trong đó có năng lực chung và yêu cầu riêng cho từng lĩnh vực, từng môn học

Riêng đối với môn Ngữ văn, mấy năm gần đây nhằm thực hiện đồng thời hai mục đích, vừa xét tốt nghiệp, vừa xét tuyển đại học, các đề thi đã có nhiều thay đổi từ cấu trúc đến nội dung theo định hướng đánh giá phẩm chất, năng lực học sinh, tránh học tủ, học vẹt Bên cạnh việc đưa phần Đọc – hiểu vào đề thi mà ngữ liệu nằm ngoài chương trình Sách giáo khoa và đặt câu hỏi ở các cấp độ: nhận biết – thông hiểu – vận dụng thay cho kiểu câu hỏi tái hiện kiến thức, thiên về kiểm tra trí nhớ trước đó Phần Làm văn có 2 câu hỏi, câu viết đoạn nghị luận xã hội rút xuống còn 200 chữ, bàn về một khía cạnh của vấn đề ngắn gọn và cô đúc hơn so với trước đây viết bài nghị luận

xã hội dài khoảng 600 chữ và bàn về cả một vấn đề trọn vẹn Câu nghị luận văn học trong kỳ thi Tốt nghiệp Trung học phổ thông (THPT) đều theo xu hướng tiếp cận ngày một gần hơn với các đề thi Đại học, Cao đẳng khối C và khối D trước đây Có nghĩa

là, mức độ đề thi khó hơn so với đề thi Tốt nghiệp trước đây, nhưng lại nhẹ hơn so với

đề thi Đại học, Cao đẳng Đặc biệt, sự xuất hiện của đại dịch Covid-19 ảnh hưởng nghiêm trọng đến mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội, học sinh phải chuyển sang học trực tuyến, học trên truyền hình trên diện rộng trong một thời gian dài, vì vậy Bộ

Trang 4

Tuy nhiên, đây cũng là dạng đề khó đối với học sinh, nhất là các em có học lực trung bình Bởi nó đòi hỏi học sinh năng lực tư duy cao, biết huy động kiến thức cho

ph hợp và bày tỏ r quan điểm, chính kiến của bản thân về những vấn đề được đặt ra

ở đề bài Hơn nữa, trong chương trình Sách giáo khoa Ngữ văn THPT ít có những tiết học riêng về lý thuyết và thực hành cho ý nhận xét nâng cao để phân hóa học sinh Vì thế, khi đối diện với dạng đề này, các em gặp rất nhiều khó khăn trong việc giải quyết vấn đề và kết quả bài làm của các em chưa đạt được hiệu quả như mong muốn

Từ cơ sở lý luận và thực tiễn ấy, tôi đã chọn chuyên đề Một vài kinh nghiệm giúp học sinh lớp 12 nâng cao năng lực viết bài nghị luận văn học trong đề thi tốt nghiệp THPT ở trường THPT Lý Tự Trọng làm Sáng kiến kinh nghiệm (SKKN),

nhằm trao đổi với các bạn đồng nghiệp cách thức hướng dẫn học sinh ôn tập môn Ngữ văn lớp 12 nói chung, nâng cao năng lực làm bài nghị luận văn học, nhằm đáp ứng yêu

Trang 5

3

cầu kỳ thi Tốt nghiệp phổ thông 2022, 2023, 2024 nói riêng mà bản thân tôi đã thực hiện trong quá trình giảng dạy, góp phần nhỏ bé của mình vào công cuộc đổi mới và nâng cao chất lượng giảng dạy môn Ngữ văn THPT tỉnh Nam Định

II MÔ TẢ GIẢI PHÁP

1 Thực trạng năng lực làm bài nghị luận văn học của học sinh trường THPT Lý

Tự Trọng trước khi áp dụng sáng kiến:

1.1 Câu nghị luận văn học trong đề thi tốt nghiệp THPT được ra rất linh hoạt và

có yêu cầu phân hóa đối với đa số học sinh lớp 12:

Như đã nói ở trên, những năm gần đây, theo xu hướng đổi mới kiểm tra, đánh giá để tiếp cận gần nhất với Chương trình giáo dục phổ thông mới 2018, câu nghị luận văn học được ra gần như là bắt buộc trong các đề kiểm tra, đề thi học sinh giỏi cấp tỉnh, cấp quốc gia, các kì thi tốt nghiệp THPT môn Ngữ văn Cách ra đề cũng biến hóa, linh hoạt, đòi hỏi thí sinh phải có kiến thức về tác giả, tác phẩm, nhân vật, chi tiết trong tác phẩm, thậm chí so sánh giữa hai tác phẩm, hai tác giả, hai nhân vật, hai chi tiết …của c ng một tác giả hoặc hai tác giả khác nhau Đặc biệt trong những năm gần đây, trong đề thi tốt nghiệp THPT còn có thêm câu hỏi phân hóa trình độ năng lực của học sinh Vì vậy, để nâng cao chất lượng bài viết của học sinh ở câu nghị luận văn học, giáo viên không chỉ cung cấp cho các em những kĩ năng cơ bản khi làm một bài nghị luận văn học mà còn phải rèn cho các em các năng lực cần thiết khi đối diện với các câu nghị luận văn học trong đề thi tốt nghiệp THPT một cách hiệu quả nhất

Từ năm 2019, câu nghị luận văn học trong đề thi tốt nghiệp THPT đã được ra theo hướng phân hóa năng lực người học:

d 1: Đề thi THPT Quốc gia năm 2019:

Câu 2 (5,0 điểm):

Trong những dòng sông đẹp ở các nước mà tôi thường nghe nói đến, hình như chỉ sông Hương là thuộc về thành phố duy nhất Trước khi về đến vùng châu thổ êm đềm, nó đã là một bản trường ca của rừng già, rầm rộ giữa bóng cây đại ngàn, mãnh liệt qua những ghềnh thác, cuộn xoáy như cơn lốc vào những đáy vực bí ẩn, và cũng

có lúc nó trở nên dịu dàng và say đắm giữa những dặm dài chói lọi màu đỏ của hoa

đỗ quyên rừng Giữa lòng Trường Sơn, sông Hương đã sống một nửa cuộc đời của mình như một cô gái Di-gan phóng khoáng và man dại Rừng già đã hun đúc cho nó một bản lĩnh gan dạ, một tâm hồn tự do và trong sáng Nhưng chính rừng già nơi đây,

Trang 6

4

với cấu trúc đặc biệt có thể lí giải được về mặt khoa học đã chế ngự sức mạnh bản băng ở người con gái của mình để khi ra khỏi rừng, sông Hương nhanh chóng mang một sắc đẹp dịu dàng và trí tuệ, trở thành người mẹ phù sa của một vùng văn hóa xứ

sở Nếu chỉ mải mê nhìn ngắm khuôn mặt kinh thành của nó, tôi nghĩ rằng, người ta sẽ không hiểu một cách đầy đủ bản chất của sông Hương với cuộc hành trình gian truân

mà nó đã vượt qua, không hiểu thấu phần tâm hồn sâu thẳm của nó mà dòng sông hình như không muốn bộc lộ, đã đóng kín lại ở cửa rừng và ném chìa khóa trong

những hang đá dưới chân núi Kim Phụng

(Trích Ai đã đặt tên cho dòng sông? – Hoàng Phủ Ngọc Tường, Ngữ văn

12, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2018, tr.198)

Cảm nhận của anh/chị về hình tượng sông Hương trong đoạn trích trên Từ đó, nhận xét cách nhìn mang tính phát hiện về dòng sông của nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường

d 2: Đề thi Tốt nghiệp THPT năm 2020, đợt 1:

Vào bốn nghìn năm Đất Nước

Năm tháng nào cũng người người lớp

lớp

Con gái, con trai bằng tuổi chúng ta

Cần cù làm lụng

Khi có giặc người con trai ra trận

Người con gái trở về nuôi cái cùng con

Ngày giặc đến nhà thì đàn bà cũng đánh

Nhiều người đã trở thành anh hùng

Nhiều anh hùng cả anh và em đều nhớ

Nhưng em biết không

Họ đã sống và chết Giản dị và bình tâm Không ai nhớ mặt đặt tên Nhưng họ đã làm ra Đất Nước

Họ giữ và truyền cho ta hạt lúa ta trồng

Họ chuyền lửa qua mỗi nhà từ hòn than, qua con cúi

Họ truyền giọng điệu mình cho con tập nói

Họ gánh theo tên xã, tên làng trong mỗi chuyến di dân

Họ đắp đập be bờ cho người sau trồng cây hái trái

Có ngoại xâm thì chống ngoại xâm

Trang 7

5

Có biết bao người con gái, con trai

Trong bốn nghìn lớp người giống ta lứa

tuổi

Có nội thù thì vùng lên đánh bại

Để Đất Nước này là Đất Nước Nhân dân Đất Nước của Nhân dân, Đất Nước của ca dao thần thoại

(Trích Đất Nước, trường ca Mặt đường khát vọng, Nguyễn Khoa Điềm, Ngữ văn

12, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam,

2019, tr.121)

d 3: Đề thi Tốt nghiệp THPT năm 2020, đợt 2:

Câu 2 (5,0 điểm):

Phân tích khung cảnh h ng tráng của Việt Bắc trong kháng chiến được nhà thơ

Tố Hữu thể hiện qua đoạn thơ sau:

Nhớ khi giặc đến goặc lùng

Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây

Núi giăng thành lũy sắt dày

Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù

Mênh mông bốn mặt sương mù

Đất trời ta cả chiến khu một lòng

Nghìn đêm thăm thẳm sương dày Đèn pha bật sáng như ngày mai lên Tin vui chiến thắng trăm miền Hòa Bình, Tây Bắc, Điện Biên, vui về Vui từ Đồng Tháp, An Khê Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng

(Trích Việt Bắc, Tố Hữu, Ngữ văn 12, Tập

một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2019, 113)

d 4: Đề thi Tốt nghiệp THPT năm 2021, đợt 1

Câu 2 (5,0 điểm):

Trong bài thơ Sóng, nhà thơ Xuân Quỳnh viết:

Trước muôn trùng sóng bể

Trang 8

Em cũng không biết nữa Khi nào ta yêu nhau

Con sóng dưới lòng sâu Con sóng trên mặt nước

Ôi con sóng nhớ bờ Ngày đêm không ngủ được Lòng em nhớ đến anh

Cả trong mơ còn thức

(Ngữ văn 12, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2020, tr.155)

Cảm nhận của anh/chị về đoạn thơ trên Từ đó, nhận xét vẻ đẹp nữ tính trong thơ Xuân Quỳnh

d 5: Đề thi Tốt nghiệp THPT năm 2021, đợt 2

Câu 2 (5,0 điểm):

Trong bài Tây Tiến, tác giả Quang Dũng viết:

Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa Kìa em xiêm áo tự bao giờ

Khèn lên man điệu nàng e ấp Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ Người đi Châu Mộc chiều sương ấy

Có thấy hồn lau nẻo bến bờ

Có nhớ dáng người trên độc mộc Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa (Ngữ văn 12, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2020, tr.88-89)

Trình bày cảm nhận của anh chị về đoạn thơ trên; từ đó nhận xét cảm hứng lãng

mạn của Quang Dũng trong đoạn thơ

Trang 9

7

Như vậy, qua thống kê, chúng tôi nhận thấy câu nghị luận văn học, cách ra đề rất linh hoạt: khi thì là phân tích/cảm nhận một đoạn văn/đoạn thơ; khi thì phân tích/cảm nhận hình tượng trong tác phẩm hoặc trong đoạn trích; khi thì phân tích/cảm nhận một phương diện thuộc về nội dung, tư tưởng hoặc nghệ thuật; khi lại phân tích/cảm nhận đoạn văn/đoạn thơ, sau đó nhận xét nâng cao về một khía cạnh nội dung, tư tưởng hay nghệ thuật…Có thế thấy, đây là dạng đề mở, yêu cầu học sinh phát huy tính độc lập suy nghĩ, chủ động sáng tạo khi làm bài Nó không chỉ kích thích khả năng tư duy, phát triển trí thông minh của học sinh, giúp các em có cơ hội phát huy năng lực sáng tạo của mình, mà còn có khả năng phân hóa trình độ, năng lực, đáp ứng

yêu cầu đổi mới kiểm tra đánh giá mang tính đột phá trong giai đoạn hiện nay.

Tuy nhiên, đây cũng là dạng đề khó với học sinh nhất là học sinh có học lực trung bình Đặc biệt, đối với học sinh trường THPT Lý Tự Trọng, khi mà mấy năm trở lại đây điểm tuyển sinh đầu vào (do nhiều nguyên nhân khách quan, chủ quan) mà không đủ chỉ tiêu, phải lấy thêm nguyện vọng 2, hoặc các em có vào được trường theo nguyện vọng một, thì cũng đăng kí chủ yếu là khối A, B, A1, rất ít em đăng kí khối D

và khối C Vì vậy, các em thường hoang mang, lúng túng khi đối diện với dạng đề này Bởi đề yêu cầu ở học sinh khả năng tư duy cao, biết lựa chọn nội dung viết sao cho

ph hợp yêu cầu đề, biết bàn bạc và mở rộng vấn đề Vì thế khi gặp dạng đề này, các

em gặp rất nhiều khó khăn trong việc giải quyết vấn đề và kết quả bài làm của các em chưa đạt được hiệu quả như mong muốn

1.2 Đa số học sinh tỏ ra lúng túng khi đối diện với câu nghị luận văn học trong đề thi tốt nghiệp THPT …vì chương trình Sách giáo khoa ít có những tiết lý thuyết

và thực hành riêng cho kiểu đề phân hóa này:

Mặc d các em học sinh đã được làm quen với kỹ năng làm bài nghị luận văn học từ những năm cuối của chương trình Ngữ văn Trung học cơ sở (THCS) và tiếp tục được củng cố, rèn luyện trong suốt ba năm của Chương trình Ngữ văn THPT, nhưng trong chương trình Sách giáo khoa Ngữ văn ở cả hai cấp học này có rất ít những tiết học riêng về lý thuyết và thực hành của những kiểu bài này Hoặc là, đa số giáo viên chúng ta dành ít thời gian cho dạy lí thuyết, cứ mặc nhiên là các em đã biết làm rồi Đó

là một trong những nguyên nhân cơ bản khiến hầu hết học sinh tỏ ra lúng túng khi đối diện với dạng đề nghị luận văn học và kết quả làm bài dạng này của các em đạt hiệu quả chưa tốt

Trang 10

8

Hơn nữa, câu nghị luận văn học trong đề thi tốt nghiệp THPT những năm gần đây, do yêu cầu đổi mới nên nó không giống với những dạng cơ bản trong sách giáo khoa các em được học mà là kiểu bài nghị luận tổng hợp, liên quan đến nhiều phương diện, không chỉ đòi hỏi học sinh nắm chắc những kiến thức cơ bản, mà còn phải rèn luyện nhiều kĩ năng, đặc biệt là kĩ năng phân tích, tổng hợp, phản biện, đánh giá vấn đề… Trong khi đó, thực tế cho thấy những kĩ năng này ở học sinh, nhất là những trường có đầu vào tuyển sinh môn Ngữ văn thấp, học sinh không đăng kí ban Khoa học xã hội …đa phần là rất hạn chế Mặt khác, tâm lí chung, nhiều thầy cô giáo cũng

tỏ ra e ngại khi đưa ra dạng đề nghị luận văn học này đối với học sinh chỉ cần tốt nghiệp, mà thường chỉ dành riêng cho đối tượng học sinh tham gia đội tuyển học sinh giỏi, hoặc có thiên hướng lấy kết quả bài thi môn Ngữ văn trong kỳ thi THPT để xét tuyển Đại học

Một lí do khác nữa là trong chương trình Ngữ văn lớp 12, THPT thời lượng luyện tập kĩ năng làm văn nghị luận còn rất hạn hẹp, chỉ có một số tiết ít ỏi, nếu không

có sự sắp xếp hợp lí không thể đem lại hiệu quả thực hành Vì thế, đa số giáo viên thường chỉ hướng dẫn học sinh lập dàn ý cho một số đề bài trong sách giáo khoa Một

số giáo viên khác, dù có cập nhật hướng ra đề mới nhưng không đủ thời gian rèn kĩ năng cho các em hoặc hướng dẫn các em thực hành Bên cạnh đó, đa số học sinh không yêu thích môn Ngữ văn, chưa chủ động tìm hiểu, tích lũy các đề bài (câu hỏi) hay, mới lạ Không ít học sinh vẫn còn có thói quen học vẹt, học tủ Thậm chí, một số

em học bài mà chẳng hiểu gì về tác giả, tác phẩm, nhân vật, không thể đưa ra những ý kiến đánh giá độc lập, không thể bình luận về tác phẩm đã học, không biết đóng góp của tác giả với nền văn học nước nhà Nhiều em, cách nhìn nhận về tác phẩm và các vấn đề văn học còn chủ quan, phiến diện Vì thế, khi gặp câu nghị luận văn học với các dạng đề trên thì đa số các em không biết phải làm thế nào, bắt đầu ra sao? Thậm chí, không ít học sinh chưa có nhận thức đúng đắn về yêu cầu của đề bài Nhiều em còn có suy nghĩ bài làm đơn thuần chỉ là sự chép lại nội dung bài học mà cô giáo dạy văn cho ghi trên lớp Không ít trường hợp các em chép lại cả tác phẩm, không quan tâm đề bài chỉ cho một đoạn Hoặc có em chỉ cảm nhận chung chung đoạn văn mà không làm hết yêu cầu của đề bài Có những học sinh gặp gì viết nấy, không đáp ứng đúng nội dung, yêu cầu của đề bài, nên chất lượng, hiệu quả bài làm của các em không như các thầy cô mong muốn

Trang 11

12, tôi thấy, kết quả câu nghị luận văn học (thang điểm 5/10) của học sinh THPT Lý

Tự Trọng, khi chưa áp dụng sáng kiến kinh nghiệm (SKKN) này như sau:

Tổng số HS dự thi Điểm 4,0 đến 5,0 Điểm 2,5 đến dưới 3,5 Điểm 2,0 đến 0

Qua bản thống kê trên, điều dễ thấy là khi chưa áp dụng sáng kiến kinh nghiệm này kết quả kiểm tra phần nghị luận văn học của học sinh còn rất hạn chế Tỷ lệ học sinh đạt điểm giỏi quá ít (6,57%) và đa số nằm ở những lớp chọn xã hội (khối C, D), tỷ

lệ học sinh trung bình chiếm đa số (79%), học sinh dưới trung bình cũng chiếm tỉ lệ tương đối (14,4%) Mà nguyên nhân chính, như đã nói ở trên là do các em có thói quen làm bài một cách thụ động, chưa có kiến thức lý thuyết soi đường, chưa có nhiều thời gian rèn luyện kỹ năng thực hành và đặc biệt là làm với tâm lí chỉ cần đạt đủ điểm để tốt nghiệp

2 Một vài kinh nghiệm giúp học sinh lớp 12 nâng cao năng lực viết bài nghị luận văn học trong đề thi tốt nghiệp THPT ở trường THPT Lý Tự Trọng

Thực tế, trong chương trình làm văn hiện hành, không còn sự phân chia các kiểu bài nghị luận văn học như trước đây nữa (giải thích, chứng minh, phân tích, bình luận, bình giảng) Sự thay đổi này nhằm phản ánh đúng hơn bản chất của một bài văn, quy trình làm một bài văn nghị luận văn học Thực tế cũng hiếm có bài văn nào từ đầu đến cuối chỉ hoàn toàn tuân theo một yêu cầu, chỉ vận dụng một thao tác Trong một bài nghị luận văn học, người viết thường kết hợp sử dụng nhiều thao tác, kĩ năng và nhiều khi khó tách bạch một cách rạch ròi giải thích, chứng minh, phân tích, bình giảng, bình luận Nói như vậy cũng không có nghĩa bài nghị luận văn học đòi hỏi tính tổng hợp của tri thức, của kĩ năng Muốn làm một bài văn nghị luận văn học hay, c ng với kiến thức, năng lực cảm thụ, người viết cần có kĩ năng kết hợp đồng thời, linh hoạt

Trang 12

2.1 Trước hết, giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh nắm vững những kĩ năng chung nhất khi viết một bài nghị luận văn học nói chung và trong đề thi tốt nghiệp THPT nói riêng

a Giúp học sinh nắm chắc kiến thức cơ bản về các tác giả, tác phẩm trong chương trình để có chất liệu làm tốt bài viết nghị luận văn học

Bên cạnh việc nắm chắc đặc điểm chung và yêu cầu riêng của mỗi kiểu dạng nghị luận văn học, cũng như xây dựng tốt hệ thống câu hỏi tương ứng để khơi dậy tính chủ động, tích cực của học sinh (sẽ trình bày ở phần sau), giáo viên phải hướng dẫn các em nắm vững kiến thức trọng tâm, cơ bản về tác giả, tác phẩm văn học để có chất

liệu làm tốt bài văn Bởi có bột mới gột nên hồ Phải nắm chắc những kiến thức trọng

tâm, cơ bản về tác giả, tác phẩm văn học các em mới có những minh chứng xác đáng nhất để luận giải về những vấn đề đặt ra ở đề bài Trong thực tế, qua kết quả làm bài của học sinh cho thấy, không ít em nắm kiến thức về tác giả, tác phẩm văn học còn rất

mơ hồ Thậm chí một số học sinh còn có tình trạng râu ông nọ cắm cằm bà kia, hiểu

sai, hoặc hiểu chưa sâu sắc về tác phẩm, thậm chí còn nhầm tên nhân vật dẫn đến những nhận xét đánh giá của các em về tác phẩm thường chung chung, v đoán, thiếu sức thuyết phục Vậy để giúp các em nắm chắc kiến thức trọng tâm, cơ bản về tác giả, tác phẩm văn học, làm tốt các kiểu bài nghị văn học giáo viên cần hướng dẫn học sinh:

-Nắm chắc những chi tiết quan trọng về cuộc đời mỗi tác giả, như: Năm sinh năm mất, đặc điểm, không khí thời đại ảnh hưởng tới thế giới quan, nhân sinh quan và nhất là cảm hứng sáng tác của nhà thơ, nhà văn; tên khai sinh, bút danh (nếu có); ảnh hưởng của quê hương, gia đình và những chi tiết, sự kiện quan trọng trong cuộc đời tới

sự nghiệp sáng tác của tác giả; những tác phẩm tiêu biểu thể hiện r nhất đặc điểm phong cách của nhà văn, nhà thơ…

Trang 13

11

-Đối với văn bản thơ phải học thuộc tác phẩm, nắm chắc cảm hứng chủ đạo, phát hiện ra cấu tứ, các từ ngữ, hình ảnh, nhịp điệu, các biện pháp tu từ tiêu biểu, đặc sắc… Đối với các tác phẩm văn xuôi phải tóm tắt được cốt truyện, nắm được những chi tiết cơ bản, đặc điểm nổi bật của các nhân vật chính, nhận diện được ngôi kể, giọng

kể, điểm nhìn trần thuật, phương thức trần thuật

- Nắm chắc và hiểu sâu giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật đặc sắc của tác phẩm; biết cảm thụ, phân tích, cắt nghĩa, lý giải một số chi tiết (câu, đoạn) đặc sắc; có vốn văn học cần thiết để liên hệ, so sánh, đối chiếu các hình tượng văn học c ng loại, các tác phẩm có chung đề tài, chủ đề để để hiểu sâu sắc hơn về tác phẩm, cũng như đóng góp riêng, độc đáo của tác giả với nền văn học dân tộc

b Căn cứ vào hoàn cảnh lịch sử c thể, vào tâm thế và ý đồ sáng tác của tác giả, để hiểu đúng, hiểu sâu tác phẩm

Tác phẩm văn chương được sinh thành trong một môi trường lịch sử, xã hội, văn hóa nhất định, đồng thời mang dấu ấn tinh thần của cá nhân nhà văn Nếu tách nó

khỏi môi trường này chẳng khác nào đưa con cá ra khỏi nước Bởi thế, để hiểu đúng,

hiểu sâu tác phẩm, người phân tích cần trả nó về với hoàn cảnh sinh thành cụ thể, cần vận dụng những hiểu biết về lịch sử, xã hội, văn hóa, cần căn cứ vào tâm thế, ý đồ sáng tác cụ thể của nhà văn

Ví dụ 1: Phân tích các bài thơ nói về người chiến sĩ vệ quốc như Tây Tiến của Quang Dũng, Đồng chí của Chính Hữu, ta không thể không đặt chúng vào hoàn cảnh

đất nước thiếu thốn, gian khổ ở những năm đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, vào dòng thơ viết về anh bộ đội lúc bấy giờ với những thành công và hạn chế

nhất định Khi hiểu Tây Tiến được viết trong nỗi nhớ chơi vơi của Quang Dũng, chúng

ta mới có thể phân tích kĩ đặc sắc của nhiều hình ảnh, của giọng điệu trữ tình của bài thơ…

Ví dụ 2: Đặt Việt Bắc trong thời điểm đặc biệt, bước ngoặt lớn lao của đời sống

dân tộc (tháng 10/1954), chúng ta mới hiểu đúng giá trị của bài thơ này Ra đời trong

bước ngoạt này, Việt Bắc có ý nghĩa tổng kết các chặng đường lịch sử của dân tộc, gắn

bó c ng căn cứ địa cách mạng, chiến khu kháng chiến, là bản anh h ng ca về cách mạng và kháng chiến, bản tình ca về đời sống tâm hồn phong phú, cao đẹp của con người Việt Nam…Mặt khác, đối với các tác phẩm c ng đề tài, chúng ta cũng rất cần

Trang 14

12

sự hiểu biết về đặc điểm phong cách của mỗi nhà văn, nhà thơ, bút pháp của từng tác giả để làm sáng tỏ cái hay riêng của từng tác phẩm

c Phải đảm bảo t nh thống nhất hữu cơ giữa nội dung và hình thức của văn bản

Khi phân tích, cảm nhận tác phẩm văn chương cần tránh hai khuynh hướng: Thứ nhất: Chỉ giảng giải qua nội dung cụ thể của văn bản rồi lấy đó làm cái cớ

để tán dương, ca ngợi một cách chung chung Khuynh hướng này biến các tác phẩm văn chương thành một tác phẩm tuyên truyền, chính trị và dễ làm cho bài nghị luận trở thành sáo rỗng

Thứ hai: Quá sa đà vào các chi tiết nghệ thuật vụn vặt, chăm chút vào tỉa tót câu chữ mà không nêu được giá trị biểu đạt của các yếu tố hình thức đó Khuynh hướng này khó đi đến phát hiện nghĩa lí của văn bản tác phẩm, chỉ ra được các tầng lớp ý nghĩa được hàm chứa

Khi nghị luận về một tác phẩm văn học, cần xem xét nội dung phản ánh, tình cảm, tư tưởng của nhà văn đã được thể hiện qua phương thức, bút pháp như thế nào, ngược lại các yếu tố hình thức có giá trị gì trong việc biểu đạt nội dung Phân tích nội dung tức là giảng giải, đánh giá một nội dung đang được biểu hiện qua một hình thức

cụ thể Phân tích hình thức chính là phân tích quá trình xâm nhập của hình thức ấy vào nội dung, đánh giá sức mạnh biểu đạt nội dung của hình thức ấy Bài nghị luận văn

học tối kị lỗi phát biểu ý kiến một cách chung chung hoặc chỉ diễn nôm nội dung Muốn bình đúng, bình hay, trước tiên phải phân tích đúng, giảng sâu Giảng có nghĩa

là khám phá, giải thích nội dung, ý nghĩa của tác phẩm, là phân tích, khẳng định, nghĩa

lí của văn bản Nó có nhiệm vụ chỉ ra các tầng lớp nội dung và chứng minh một cách thuyết phục rằng nội dung ấy tất phải được thể hiện qua hình thức nghệ thuật ấy, còn

hình thức nghệ thuật ấy hợp lẽ thuận tình, có tính độc đáo hơn cả trong việc thể hiện

nội dung

Trong quá trình phân tích, chứng minh tính độc đáo của sự thống nhất giữa nội dung và hình thức của ở văn bản tác phẩm, người nghị luận cần tìm trúng những chỗ hay, chỗ lạ của các phương thức, thủ pháp thể hiện và khẳng định được rằng hình thức

nghệ thuật ấy là phương án tối ưu để thể hiện sinh động nội dung, bất kì sự đổi thay

nào đó (d rất nhỏ) cũng có thể phá vỡ nghĩa lí, phá vỡ tính chỉnh thể của tác phẩm

Ví dụ: Khi cảm nhận đoạn thơ đầu trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng, ta không thể không chú ý đến từ chơi vơi Chỉ từ chơi vơi ấy mới diễn tả đúng và hết sức

Trang 15

13

gợi cảm nỗi nhớ không có hình có lượng, nó nhẹ tênh mà cũng nặng khôn c ng, không thể nào cân đo, đong đếm được…Chỉ nó mới ph hợp để diễn tả tâm trạng của người lính đã gắn bó mật thiết với núi rừng miền Tây, với đồng đội, vậy mà giờ đây phải chia xa…Có lẽ không thể thay vào đó, bất kì một từ nào khác, để diễn tả đúng và gợi cảm như thế!

d Bài văn nghị luận cần có hệ thống luận điểm rõ ràng, mạch lạc, những luận cứ đúng đắn, sinh động và lập luận thuyết ph c

Nói một cách hình tượng thì bài văn nghi luận phải như một nắm xôi: từng hạt dẻo khô nhưng lại vắt được thành nắm Nó khác với chảo cơm rang: từng hạt săn đét,

rời rạc Các ý trong bài văn cần r ràng nhưng lại được liên kết thành một hệ thống Một bài văn nghị luận hay thường có hệ thống luận điểm r ràng, được kết dính một cách tự nhiên, liền mạch, ý nọ gợi ý kia Nó không phải là một phép cộng cơ học các ý

mà là kết quả của sự tổ chức, sắp xếp có định hướng, có nghệ thuật

Không chỉ đòi hỏi sự mạch lạc trong hệ thống các luận điểm, màu sắc cá nhân của các nhận xét, đánh giá, bài văn nghị luận còn yêu cầu tính cụ thể, thuyết phục của những luận cứ Nếu cứ sa đà vào các dẫn chứng, phân tích cụ thể mà không nâng lên được tầm khái quát, không đúc kết được thành các nhận định, bài văn sẽ nhạt tính tư tưởng, khó gây ấn tượng Mặt khác, nếu cứ nêu nhận định, ca ngợi hay phê phán một cách chung chung mà không qua các căn cứ cụ thể, dẫn chứng sinh động thì bài văn cũng sẽ yếu tính thuyết phục, dễ trở nên sáo rỗng Kết hợp linh hoạt, tự nhiên giữa phân tích, chứng minh cụ thể với nhận xét, đánh giá khái quát vừa là phương pháp tư duy, vừa là kĩ năng làm bài mà người viết văn nghị luận cần rèn luyện

Ví dụ: Khi nghị luận về một tác phẩm truyện, những nhận xét đánh giá phải xuất phát từ chủ đề, ý nghĩa của cốt truyện, từ tính cách, số phận của nhân vật, từ kết cấu ngôn ngữ của tác phẩm Khi nghị luận về một nhân vật, cần phân tích, đánh giá từng phương diện cơ bản của nhân vật được nhà văn phản ánh (lai lịch, ngoại hình, nội tâm, cử chỉ, hành động…) gắn liền với những chi tiết nghệ thuật đặc sắc

e Phải có kĩ năng đưa kiến thức l luận và nhận định l luận văn học vào bài làm văn nghị luận văn học

Lí luận văn học là bộ môn nghiên cứu về lí thuyết văn chương Nó là một tri

thức khoa học và hơn thế nữa, còn là một phương tiện để tìm hiểu, giải mã tác phẩm văn học một cách thấu đáo, khoa học, giúp ta thấu cảm hết cái hay, cái đẹp của văn

Trang 16

14

chương Dạy chúng ta nắm vững kiến thức lí luận một cách khoa học, đầy đủ thì khi phân tích, cảm nhận một tác phẩm văn học hay làm một bài văn sẽ tránh được sự cảm thụ, lập luận chủ quan và khô khan

Việc nắm vững các kiến thức lí luận sẽ giúp học sinh vận dụng trong từng dạng

đề, dạng bài thì bài làm sẽ trở nên chỉnh chu, sâu sắc, chặt chẽ, sẽ có nét riêng trong chất văn của mình Và đây là một yếu tố hết sức quan trọng đối với một bài nghị luận văn học nói chung

Tầm quan trọng của việc sử dụng kiến thức lí luận vào bài văn nghị luận văn học:

Khi viết một bài văn, học sinh cần phải hiểu và nắm vững hệ thống kiến thức lí luận để lồng ghép, găm cài vào việc giải thích, đánh giá và diễn đạt để ý kiến đưa ra khi cảm nhận hoặc phân tích có cơ sở vững chắc, có chiều sâu

Bài viết có kiến thức lí luận thì lập luận, hành văn diễn đạt sẽ có chủ kiến, lí lẽ, luận luận, bảo vệ những ý kiến bàn luận sẽ đúng đắn, khoa học và cảm xúc Những kiến thức lí luận văn học giúp học sinh phát hiện được vấn đề, phát hiện những tín hiệu thẩm mĩ hay độc đáo, khúc chiết và logic

Khi làm văn, học sinh cũng phải biết và lựa chọn đơn vị kiến thức lí luận hợp lí

và phải biết cách vận dụng vào bài viết Bởi một bài viết có kết hợp kiến thức lí luận văn học sẽ ph hợp với đặc trưng bộ môn và phương pháp dạy học kết hợp từ lí luận đến thực tiễn

Biết chọn lọc những kiến thức lí luận ph hợp sẽ tạo nên những điểm nhấn, điểm sáng cho bài viết, thể hiện cảm xúc, dấu ấn cá nhân và tư duy sáng tạo của người viết góp phần nâng cao chất lượng của bài viết, dấu ấn của người viết

Những yêu cầu cơ bản khi đưa kiến thức lí luận văn học vào bài làm văn nghị luận văm học:

Để đưa được kiến thức lí luận văn học vào bài làm văn thì giáo viên phải hướng dẫn học sinh nắm được vai trò và ý nghĩa của lí luận văn học qua các chuyên đề trọng tâm để có kiến thức khi tiếp cận một đề thi, có lí luận văn học thì chúng ta sẽ định hình được dàn ý, cách lập luận và kiến thức lí luận văn học để đưa vào bài làm Khối lượng chuyên đề lí luận văn học rất lớn nhưng với phạm vi bài thi tốt nghiệp THPT thì chỉ cần nắm vững kiến thức lí luận của 3 năm THPT:

Lớp 10: Văn bản văn học (Đặc trưng văn học); Nhà văn và quá trình sáng tạo Lớp 11: Đặc trưng các thể loại văn học (Thơ, truyện – Tập 1; Kịch, kí – Tập 2)

Trang 17

15

Lớp 12: Các giá trị văn học, tiếp nhận văn học; Phong cách văn học

Và tập trung vào 3 vấn đề cơ bản sau:

-Nắm chắc các khái niệm (Trả lời câu hỏi: Là gì?)

-Biểu hiện của vấn đề lí luận trong tác phẩm văn học (Trả lời câu hỏi: Như thế nào?)

-Vai trò, ý nghĩa của vấn đề lí luận đối với tác phẩm văn học (Trả lời câu hỏi:

Vì sao?)

Học thuộc những câu nhận định lí luận văn học hay về tác phẩm thơ, truyện ngắn, tác giả, phong cách…tiêu biểu để linh hoạt sử dụng khi làm bài Khi làm bài, kiến thức phải được xử lí một cách khoa học dựa trên nền tảng lí luận sao cho hòa quyện, logic

Chú ý: Không nên ôm ồm, phô diễn kiến thức lí luận một cách t y tiện, không

gắn với yêu cầu của đề hoặc đưa vào mà không phân tích, lí giải thấu đáo Nên tinh, gọn khi chọn kiến thức lí luận để làm sáng tỏ cho vấn đề đang bàn luận, không sa đà thì bài làm văn mới sâu sắc, có điểm nhấn, trọng tâm và mang dấu ấn của người viết

Khi vận dụng kiến thức lí luận phải biết tích hợp nhiều thao tác làm văn Bài văn hay là nhờ vận dụng một cách linh hoạt, hợp lí giữa nhiều kiến thức lí luận, kiến thức văn học đực diễn đạt cảm xúc và giàu hình ảnh r nét

Một số cách để đưa kiến thức lí luận văn học vào bài làm văn:

Để viết một bài nghị luận hay, có chất riêng thì đầu tiên phải viết đúng (đúng trọng tâm), sau đúng là đủ (đủ là đủ ý), sau c ng mới là viết hay (muốn hay thì phải cần lí luận) Vì vậy, việc áp dụng kiến thức và đưa lí luận vào bài làm đòi hỏi người viết không chỉ nắm vững kiến thức về lí luận mà phải có kĩ năng luồn lách vận dụng linh hoạt trong toàn bộ bài viết của mình Vậy nên đặt kiến thức lí luận vào phần nào trong bài làm và đưa vào như thế nào cho hợp lí?

Trong thực tế, khi làm bài nghị luận văn học thì kiến thức lí luận văn học không phải nằm một chỗ mà sẽ đưa rải rác trong toàn bộ bài làm văn (mở bài, thân bài, kết bài) và linh động ở từng kiểu dạng đề, có nghĩa là từng phần của bài làm sẽ có những kiến thức lí luận tương ứng, hợp lí được đưa vào Giáo viên có thể hướng dẫn học sinh

sử dụng kiến thức lí luận văn học vào bài văn ở một số cách sau:

Sử dụng một số nhận định lí luận văn học cho bất cứ dạng đề và bài làm nào cũng được:

Trang 18

16

Trong các chuyên đề về lí luận văn học sẽ có những kiến thức chỉ áp dụng cho các dạng bài riêng nhưng cũng có những kiến thức lí luận văn học mà ta có thể sử dụng chung cho tất cả các dạng đề Những kiến thức lí luận văn học thuộc các phạm

tr sau đây có thể sử dụng cho tất cả các dạng đề:

-Tư tưởng – tình cảm (Nhà văn)

-Nội dung – hình thức (Tác phẩm văn học)

-Phản ánh – sáng tạo (Quá trình sáng tác)

-Cái tâm – cái tài (Nhà văn)

-Cái mới mẻ - cái ổn định (Phong cách)

-Tính cụ thể - tính khái quát (Hình tượng văn học)

-Sáng tạo – đồng sáng tạo (Quá trình tiếp nhận)

T y đề cụ thể mà ta có thể diễn đạt và dẫn lí luận văn học vào phần mơt bài, thân bài, kết bài cho ph hợp Những cách dẫn chung này, khi diễn đạt, chủ ý hướng tới giá trị, ý nghĩa của văn chương, cái tài, cái tâm, phong cách của nhà văn Ví dụ: một số nhận định sau, ta có thể linh hoạt cho các dạng đề khi làm bài:

Một nghệ sĩ chân chính phải là nhà nhân đạo từ trong cốt tủy (Sê-khốp)

Văn học thực chất là cuộc đời Văn học sẽ không là gì cả nếu không vì cuộc đời

mà có Cuộc đời là nơi xuất phát và cũng là nơi đi tới của văn học (Tố Hữu)

Nghệ thuật không cần phải là là ánh trăn lừa dối, nghệ thuật không nên là ánh trăng lừa dối, nghệ thuật chỉ có thể là tiếng đau khổ kia thoát ra từ những kiếp lầm than (Nam Cao, Trăng sáng)

Một tác phẩm nghệ thuật là kết quả của tình yêu Tình yêu con người, ước mơ cháy bỏng vì một xã hội công bằng, bình đẳng, bác ái luôn luôn thôi thúc các nhà văn sống và viết, vắt cạn kiệt những dòng suy nghĩ, hiến dâng bầu máu nóng của mình cho nhân loại (Leptoxtoi)

Viết văn là một quá trình đấu tranh để nói ra sự thật Đã là sự thật thì không tầm thường, dù phải đạp vỡ những thần tượng trong lòng người đọc (Tô Hoài)

Ví dụ cụ thể về cách đưa lí luận văn học vào bài làm văn cụ thể:

Ví dụ 1: Saltykov Shchedrin đã từng nói: Nghệ thuật nằm ngoài quy luật của sự băng hoại Chỉ cần nó không thừa nhận cái chết Vậy điều gì đã khiến các tác phẩm

nghệ thuật bất tử? Ở tài năng hay ở tấm lòng người cầm bút? Ý kiến của nhà phê bình Nga trên đây đã khẳng định vai trò đặc biệt quan trọng, thậm chí quyết định tư tưởng,

Trang 19

17

tình cảm, hay nói cách khác, cái tâm của người cầm bút quyết định sức sống của một tác phẩm nghệ thuật, ở đây được hiểu là tác phẩm văn học Tác phẩm văn học chỉ sống được trong những tư tưởng, tình cảm mãnh liệt của người cầm bút mà thôi

Ví dụ 2: Trong Vũ trụ thơ, Đặng Tiến từng viết: Nghệ thuật tạo vẻ đẹp cho những dòng nước mắt và biến đổi thống khổ của nhân loại thành tiếng hát vô biên Ấy

chính là sứ mệnh chân chính của nghệ thuật Trong đau khổ, trong đớn đau c ng quẫn, văn học nghệ thuật vẫn tìm ra vẻ đẹp khuất lấp bị chôn v i như ánh sao xa sáng chói trong đêm tối tăm mịt m ? Nghênh ngang mà đi vào đời sống văn học, những giọt nước mắt xót xa, những vết cắt rỉ máu, những tiếng nỉ non âm thanh vẫn được nghệ thuật trao tặng cho vẻ đẹp riêng biệt và trở thành khúc hát muôn đời về quyền được hạnh phúc an yên của con người Chỉ có như vậy, nghệ thuật mới hoàn thành trọn vai trò của nó như người mẹ nâng đỡ giấc mơ và tâm hồn con người khi c ng đường tuyệt

lộ

Cách sử dụng kiến thức lí luận văn học dùng cho dạng đề nghị luận khác nhau -Cách đưa lí luận văn học bằng cách diễn đạt, sự am hiểu về đặc trưng thể loại:

Ví dụ 1: Có ai yêu một loài hoa không hương, không sắc, có ai yêu cánh chim bay không gửi lại cuộc đời tiếng hót ngọt ngào đắm say, có ai yêu những áng văn chương nghệ thuật ép khô vào trong xác chữ vô cảm! Bởi tư tưởng, tình cảm chính là linh hồn của văn chương hay hương sắc, tiếng ca là linh hồn của một đời hoa, đời chim

vậy! Nhà thơ Raxun Gamzatop từng nói: Thơ sinh ra từ tình yêu và lòng căm thù, từ

nụ cười trong sáng hay những giọt nước mắt cay đắng Thơ là cây đàn muôn điệu gảy lên những cung bậc cảm xúc của con người, là biểu hiện cho những tình cảm thầm kín, hồn nhiên nhất Thơ ca khơi dạy những cảm xúc thẩm mĩ tuyệt đẹp, thanh lọc tâm hồn con người, chắp cánh cho tâm hồn con người bay tới những ước mơ khát vọng, hay tới cõi Chân – Thiện – Mĩ

Ví dụ 2: Thơ ca chính là sự kết tinh giữa chũ tình và chữ tài của thi nhân Tình chính là tâm, còn cái tài lại là cái cách biểu đạt qua từng con chữ Để có thể chạm vào trái tim người đọc thì mỗi tác phẩm không chỉ mang theo tâm tình, nỗi lòng, tình yêu của tác giả mà nó còn là sự chắt lọc, trau chuốt trên từng vần thơ, câu chữ Nhà thơ vĩ

đại của văn học Xô- Viết Mai-a-cop-xki từng cho rằng: Làm thơ là cân một nghìn miligam quặng chữ Câu nói ấy là bàn về trách nhiệm của người làm thơ và đặc điểm

Trang 20

18

của ngôn từ, bởi thơ ca cũng như văn chương nói chung đều bắt nguồn từ cuộc sống hiện thực và được xây dựng bằng vật liệu ngôn từ Người nghệ sĩ luôn phải d ng tài nghệ của chính mình để biến ngôn từ đời thường thành ngôn ngữ văn học, để có thể tạo nên những câu thơ không chỉ đẹp riêng về ngôn ngữ mà còn đẹp cả về ý tứ

-Cách đưa lí luận văn học vào bằng các nhận định lí luận văn học:

Ví dụ 1: Văn như con người của nó, văn thâm hậu thì con người nó trầm và tỉnh, văn ôn nhu thì con người của nó khiêm mà hòa, văn cao khiết thì con người của

nó đạm mà giản, văn hùng hồn thì con người của nó cương và nhanh, văn chuyên sâu thì con người nó thuần túy mà đứng đắn (Nguyễn Đức Đạt) Và cũng có rất nhiều định nghĩa về người nghệ sĩ, nói như Sê-khốp: Nhà văn chân chính phải là nhà nhân đạo từ trong cốt tủy Hay nói như Entra Triole: Nhà văn là người cho máu Họ nhìn nhà văn

từ khía cạnh tư tưởng và đề cao giá trị tâm hồn người nghệ sĩ Mỗi nhà văn chân chính bước lên văn đàn thực chất là sự cất tiếng bằng nghệ thuật của một giá trị nhân văn nào đó Nhà văn phải chạm khắc vào trang viết những giá trị nghệ thuật, những tư

tưởng vĩ đại chưng cất từ những trải nghiệm sâu sắc trong trường đời thì tác phẩm

mới chân chính và bất tử

Ví dụ 2: Nam Cao đã từng triết lí rằng: Văn chương không cần đến những người thợ khéo tay, làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho, văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu, khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa

có Đã là nghệ sĩ thì không thể thiếu vắng được cái tôi riêng biệt, như Viên Mai đã từng viết: Làm người không cần có cái tôi nhưng làm thơ thì phải có cái tôi Cái tôi

gắn liền với phong cách nghệ thuật, với dấu ấn của người nghệ sĩ Một Huy Cận với

tâm hồn buồn tẻ mênh mông, một Xuân Diệu vội vàng rạo rực mãnh liệt lại cháy bỏng, tất cả đã tạo nên thế giới riêng trong tác phẩm của họ Sự cất tiếng của mỗi nhà văn là

kết tinh của một cá tính sáng tạo độc đáo, của những xúc cảm và rung động thẩm mĩ

của họ được chưng cất từ những trải nghiệm sâu sắc trong trường đời Nhà văn cũng

là con người – những con người được tạo hóa ưu ái biết khóc, biết cười trước bộn bề cuộc sống Và họ đem những rung động ấy vào tác phẩm cũng như chúng ta trút hết nỗi niềm vào chốn riêng của mình vậy Nó là bức tranh vừa cụ thể, cảm tính; vừa khái quát vừa có ý nghĩa lớn lao

Cách sử dụng kiến thức lí luận dùng cho mở bài và kết bài trong bài văn nghị luận

Trang 21

19

-Đối với mở bài:

Mở bài là phần tạo hứng thú, thu hút và ấn tượng của người viết đối với người

đọc Khi mở bài bằng lí luận văn học sẽ tạo được ấn tượng rất tốt cho bài làm Bởi lí luận văn học rất khô khan và cứng nhắc nếu như biết vận dụng thì bài văn sẽ có giá trị cao về mặt ý nghĩa

Tuy nhiên, để mở bài hay bằng cách này, cần phải nắm chắc các kiến thức lí luận và biết cách diễn dạt, hành văn Có thể cho học sinh tham khảo cách mở bài bằng kiến thức lí luận văn học trong các ví dụ sau đây:

Ví dụ 1: Thơ là âm nhạc của tâm hồn, nhất là những tâm hồn cao cả, đa cảm

(Voltaire) Thơ chỉ bật ra khi trong tim người nghệ sĩ đang rung lên những nhịp đập thổn thức, đang ngân lên những điệu ngân của tâm hồn Chính bởi vậy, mỗi vần thơ d ngắn gọn nhưng lại có sức truyền tải lớn tới người đọc Và có những bài thơ hay đã ra

đời cách chúng ta hàng chục năm nhưng tới nay vẫn còn nguyên giá trị Tây Tiến của

Quang Dũng là một thi phẩm như vậy!

Ví dụ 2: Thơ ca làm cho tất cả những gì tốt đẹp nhất trên đời trở thành bất tử

(Shelly) Có những giá trị vững bền của cuộc sống được lưu giữ lại nhờ những vần thơ, có những nhịp ngân của tâm hồn được in dấu lại qua mỗi trang văn Có lẽ, thơ ca

ra đời để làm bạn với con người, để đồng cảm, sẻ chia với con người trong mọi vui buồn của cuộc sống Chính bởi vậy, khi đứng trước cửa biển, trước muôn ngàn con sóng lớn của đại dương, Xuân Quỳnh đã thổn thức lòng mình và cất lên những vần thơ

Sóng đầy xúc cảm

-Đối với kết bài:

Nếu như mở bài là cái thiện cảm, cái dấu ấn tốt đẹp đầu tiên cho người đọc thì kết bài sẽ là sự khắc sâu vấn đề, sự lan tỏa, gợi mở và đọng lại một sự thích thú, thỏa mãn trong lòng người đọc

Thực tế cho thấy, học sinh thường hay ít quan tâm, chăm chút đến phần kết bài (do nhiều nguyên nhân) nên cũng ảnh hưởng đến kết quả của bài làm văn Giáo viên

có thể cho các em tham khảo một số kết bài sau đây:

Ví dụ 1: Cái đẹp cứu vớt con người (Đôxtôiepxki) Vâng, Vợ nhặt của nhà văn

Kim Lân thể hiện r sức mạnh kì điệu ấy Ánh sáng của tình người, lòng tin yêu vào cuộc sống là nguồn mạch giúp Kim Lân hoàn thành tác phẩm Ông đã đóng góp cho văn học Việt Nam nói chung, về đề tài nạn đói nói riêng một quan niệm mới về lòng

Trang 22

20

người và tình người Bởi Người nghệ sĩ phải là nhà nhân đạo từ trong cốt tủy

(Sê-khốp), nên họ sống, cảm nhận, vắt kiệt suy nghĩ để đóng góp vào trang viết tình người, tinh thần nhân đạo, hiến dâng bầu máu nóng của mình để sáng ngời lên cốt cách và niềm tin ở con người

Ví dụ 2: Tôi nhớ, nhà văn Nguyễn Minh Châu từng nói: Nhà văn phải là người tìm ra những hạt ngọc ẩn giấu trong bề sâu tâm hồn con người Nhà văn ấy không

được im lặng trước cường quyền, trước bạo lực, không thể thản nhiên khi nhìn thấy con người bị chà đạp Ngôn từ chính là vũ khí, trí tuệ cũng là vũ khí, những nhà văn chân chính từ bao đời vẫn chiến đấu cho con người như thế Họ chính là những nhà nhân đạo chủ nghĩa lớn, là những nghệ sĩ vĩ đại

g Kĩ năng chuyển đoạn và liên kết trong bài văn nghị luận văn học

Để làm bài văn trọn vẹn cả về nội dung lẫn hình thức, sâu sắc, ấn tượng và có giọng điệu riêng thì người viết phải có kiến thức, kĩ năng, hiểu biết sâu rộng về mọi mặt và kể cả những cái là tiểu tiết Bởi thế, kĩ năng liên kết đoạn trong bài văn nghị luận hết sức quan trọng, nó kết dính các đoạn văn với nhau tạo thành một bài văn hoàn chỉnh mạch lạc về ý nghĩa và hoàn chỉnh về hình thức

Bài văn có liên kết đoạn, chuyển đoạn tốt sẽ giúp người đọc hiểu và cảm nhận được toàn bộ bài văn mà tác giả đã viết Đồng thời, nó giúp bài văn mượt mà, uyển chuyển, thuyết phục hơn Thường thì chuyển đoạn giữa phần mở bài và thân bài, giữa phần thân bài với phần kết bài và giữa các đoạn trong từng phần, nhất là giữa các đoạn trong phần thân bài Có rất nhiều cách để liên kết chuyển đoạn khi làm bài, ở phạm vi này, giáo viên chỉ nên giới thiệu một số cách chuyển đoạn cơ bản nhất

-Dùng từ ngữ có chức năng để liên kết chuyển đoạn

T y theo mối quan hệ giữa các đoạn, các phần mà ta có các cách chuyển đoạn thích hợp Và đây là cách chuyển đoạn thông thường dễ d ng nhất trong bài văn:

Nối các đoạn có quan hệ từ thứ tự, ta có các từ ngữ sau: Trước tiên, trước hết, thoạt nhiên, tiếp theo, sau đó, cuối cùng, một là, hai là, bắt đầu là…

Nối các đoạn có quan hệ từ song song, ta có các từ: Một mặt, mặt khác, ngoài

ra, bên cạnh đó, không chỉ mà còn, nếu…thì…

Nối các đoạn có quan hệ tương phản, ta có: Nhưng, song song, tuy nhiên, tuy thế, tuy vậy, thế nhưng, trái lại, ngược lại…

Trang 23

từng nhận xét về thơ Xuân Quỳnh: Thơ Xuân Quỳnh là cánh chuồn chuồn bay đi tìm chốn nương thân trong nắng nôi và giông bão cuộc đời Chị là người phụ nữ có tâm hồn nhạy cảm, có sức mạnh phi thường như cây xương rồng kiên cường và kì diệu trên

sa mạc, vắt kiệt mình để nở những chùm hoa tuyệt quý cho đời (Nguyễn Thị Minh

Khai) Sử dụng phép thế

Ví dụ 2: Nhà thơ đã mượn hình tượng sóng để diễn tả những cung bậc tình cảm

trong tâm hồn mình, Cắt nghĩa bản thể sóng hay chính là cắt nghĩa bản thể tình yêu để

người đọc thấy được dòng nội tâm đầy xáo trộn của một kẻ đang yêu Nhà thơ đã để cái cảm xúc của mình trở thành dòng trạng thái chuyển đổi của những con sóng, tưởng như đối cực nhưng lại thống nhất, luân phiên không ngừng để mãi mãi là mình Những

từ ngữ dữ dội, dịu êm, ồn ào, lặng lẽ đặt ngoài văn cảnh là đối nghĩa nhưng ở đây lại là hai mặt của một thực thể, tạo hình cho con sóng sống động Đó là con sóng vô c ng nữ

tính, nó không mang theo sự hủy diệt, đe dọa, càng không phải là con sóng thần mà là con sóng thơ, sóng yêu, cho nên nó đổ về trái tim của người phụ nữ đọng lại cuối c ng nơi đáy tâm hồn vẫn là sự dịu êm, lặng lẽSử dụng phép lặp

-Sử dụng ý diễn đạt để liên kết, chuyển đoạn

Đây là một kĩ năng cơ bản rất hay trong bài làm văn nghị luận để liên kết và chuyển ý cho luận điểm mới Ở kĩ năng này, ý chuyển phải khơi mào, kết dính, liền mạch với ý sắp trình bày thì bài làm mới mềm mại, uyển chuyển

Ví dụ 1: Phân tích diễn biến tâm lí của Mị trong đêm tình m a xuân (Trích Vợ chồng A Phủ, Tô Hoài), học sinh có thể tham khảo cách chuyển đoạn như sau:

Nếu có một hoàn cảnh làm tê liệt sức sống của Mị thì cũng có một hoàn cảnh phục sinh Mị Ta tưởng chừng như sức mạnh của cường quyền, cái bóng ma của thần quyền sẽ cấm đoán và giam hãm, bóp nghẹt mọi niềm tự tin, triệt tiêu tinh thần phản kháng, lòng ham sống trong Mị Căn buồng Mị nằm là địa ngục trần gian, là cái nhà

Trang 24

22

mồ chôn sống tuổi thanh xuân của Mị Sống trong những ngày tháng đó, không biết vô tình hay cố ý mà ngòi bút Tô Hoài đã phát hiện ra một quy luật: Khi niềm thiết tha với cuộc sống mất đi, nó cũng cuốn theo cả phần nữ tính Mị vừa có cái gì đó chết mòn, chết mỏi, nhưng cũng vừa có cái gì đó không chịu chết hẳn Khát vọng sống trong Mị không bao giờ chết hẳn Nó vẫn âm ỉ cháy đâu đó đằng sau cái dáng hình lầm lũi, câm lặng Ngọn lứa ấy, nếu gặp ngọn gió lành tất sẽ b ng lên Và nó đã b ng lên mãnh liệt khi m a xuân đến ở Hồng Ngài

Ví dụ 2: Khi phân tích hình tượng con sông Đà, ta cũng có thể dẫn dắt từ Tây Bắc:

Tây Bắc ư? Có riêng gì Tây Bắc

Khi lòng ta đã hóa những con tàu Khi Tổ quốc bốn bề lên tiếng hát Tâm hồn ta là Tây Bắc chứ còn đâu

(Tiếng hát con tàu, Chế Lan Viên) Trong những ngày tháng cả nước rộn ràng lên đường theo tiếng gọi của tâm hồn Tây Bắc để xây dựng lại một miền quê của Tổ quốc, có biết bao nhà văn, nhà thơ đã

thực hiện quá trình lột xác để đến với cách mạng Một trong những nhà nghệ sĩ yêu nước ấy là Nguyễn Tuân – cây độc huyền cầm của nền văn học Việt Nam, người đã

mang lại những tờ hoa thơm thảo cho đời Nguyễn Tuân, bằng niềm say mê, khao khát khám phá, sáng tạo trong chủ nghĩa xê dịch của mình đã ngược gót đến với Tây Bắc,

để bắt gặp dòng Đà giang qua t y bút Người lái đò sông Đà - một tác phẩm thể hiện r

nét và sâu sắc phong cách nghệ thuật độc đáo của mình

-Sử dụng một nhận định lí luận để liên kết chuyển đoạn

Đây là một cách chuyển đoạn, liên kết đoạn rất hay cho bài làm văn Khi sử dụng phải chắt lọc và trích dẫn những nhận định chính xác, những nhận định lí luận văn học ph hợp với đề bài đang bàn luận Nhận định đặt ở đầu, giữa hay cuối thì t y dụng ý của người viết để vận dụng cho linh hoạt, ph hợp

Ví dụ 1: Một nghệ sĩ chân chính bao giờ cũng là một nhà nhân đạo từ trong cốt tủy (Sê-khôp) Tấm lòng nhân đạo khiến Tô Hoài không thể nhẫn tâm dìm mãi cuộc

đời Mị trong cái tăm tối, khốn c ng của một kiếp trâu, kiếp ngựa, kiếp r a…mà còn thôi thúc nhà văn thiết tha hướng về phía ánh sáng, phía sự sống để khơi lên niềm khát

Trang 25

23

khao ham sống, ham hạnh phúc, tự do và để khẳng định sức sống tiềm tàng nơi tâm hồn Mị

Ví dụ 2: Thơ trước hết là cuộc đời, sau đó mới là nghệ thuật (Bêlinxki) Một ý

kiến thật xúc động và đầy giá trị Đến với thơ, nghĩa là ta đến với cuộc đời qua lăng kính nghệ thuật của nhà thơ Thơ ca khơi dậy trong lòng ta lớp lớp những đợt sóng cuộn trào và muôn vàn cung bậc tình cảm: yêu thương, căm giận, xót xa, nghẹn ngào, xao xuyến, bâng khuâng…bởi thơ là đời, thơ là hoa nảy nở từ mảnh đất cuộc đời dào dạt nhựa sống Thơ không phải là thứ tôn giáo cao siêu huyền bí, cũng không phải là những ghi chép tủn mủn, vặt vãnh vô giá trị về cuộc đời, về con người quanh ta Thi sĩ

không thể làm nên thơ nếu cửa lòng đóng khép, nếu không mở hồn ra đón lấy tất cả những vang động của đời (Nam Cao) Cuộc sống cuộn xoay không một giây dừng lại,

thơ ca cũng không ngừng nảy nở sinh sôi, cống hiến cho đời những đóa hoa đẹp nhất

h Lời văn của một bài nghị luận văn học cần chuẩn xác, trong sáng, thể hiện rung cảm chân thành, tự nhiên của người viết

Khi viết một bài văn, một tiểu luận, hơn nhau không chỉ ở chỗ viết cái gì, mà quan trọng còn là viết như thế nào, bằng tình cảm ra sao? Cần cân nhắc từ cách d ng

từ, đến cách ngắt câu Ngôn từ phải làm sao diễn tả sát, trúng bản chất của đối tượng, điều mình muốn nói Giọng văn làm sao phải hợp với vấn đề, với nội dung, nhiều khi như có hình có khối, giàu nhịp điệu Viết văn cũng như giao tiếp trong đời sống, không nên hài hước khi cần trữ tình, cảm thương, cảm thương và ngược lại

Ví dụ: Giọng điệu, lời văn khi phân tích thân phận tủi nhục c ng sức sống tiềm

tàng của nhân vật Mị trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ của nhà văn Tô Hoài tất nhiên cần khác với khi phân tích các nhân vật trong tác phẩm Số đỏ của Vũ Trọng Phụng Phân tích câu thơ cuối của bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử (Ai biết tình ai có đậm đà?) có thể viết rằng, đó là một lời hỏi cất lên đầy khắc khoải Trong chữ khắc khoải này có ước mong tha thiết tận c ng nhưng cũng ngậm ng i, xót xa đến tận c ng

Nó khẩn thiết mà đau đớn Nó đúng với cảnh ngộ Hàn Mặc Tử khi ấy…

Từ ví dụ trên, giáo viên cần lưu ý cho học sinh: không nên lầm rung cảm nơi lời

văn qua các câu cảm thán, qua những lời hô to gọi giật kiểu như: chao ôi…; đẹp làm sao…; hay biết bao nhiêu… Nếu lạm dụng một cách ngây thơ, nếu ngụy trang cho

tâm hồn nghèo nàn của mình theo kiểu ấy, bài văn sẽ trở nên sáo rỗng, nhiều khi buồn

Trang 26

24

cười Rung cảm phải thật sự xuất phát từ đáy lòng, từ sự vỡ lẽ của chính mình Khi ấy,

nó tự toát lên trong ý tứ, trong giọng điệu bài văn mà người đọc không khó nhận ra

Trên đây, là các yêu cầu cơ bản về kiến thức, kĩ năng của một bài văn nghị luận văn học T y theo vấn đề, đối tượng nghị luận, đặc biệt t y theo thể loại tác phẩm mà mỗi dạng bài lại có các yêu cầu, đòi hỏi các phương pháp riêng

2.2 Học sinh cần phải nắm vững khung Hướng dẫn chấm của Bộ Giáo dục và Đào tạo trong đề thi tốt nghiệp THPT những năm gần đây

Trong quá trình ôn luyện, giáo viên luôn luôn phải nhắc nhở và hướng các em ghi nhớ khung Hướng dẫn chấm môn Ngữ văn trong đề thi tốt nghiệp những năm gần đây để các em không bỏ sót các yêu cầu khi làm bài văn Khi chấm trả bài cho học sinh, giáo viên cũng tuân thủ khung hướng dẫn chấm này:

a Đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận: Mở bài giới thiệu được vấn đề; Thân

bài triển khai được vấn đề; Kết bài khái quát được vấn đề

0,25

c Triển khai vấn đề nghị luận:

Học sinh vận dụng hợp lí các thao tác lập luận để triển khai và đánh giá vấn

đề rất đa dạng, phong phú, đề cập đến nhiều vấn đề văn học khác nhau nhằm đánh giá đúng năng lực, phẩm chất học sinh, tạo điều kiện để các em bày tỏ quan điểm, chính kiến của mình trước những vấn đề về văn học

Trang 27

Dạng 2: Cảm nhận/phân tích từng đoạn thơ/đoạn văn có định hướng

Dạng 3: Kiểu bài phân tích/cảm nhận nhân vật (hoặc một đặc điểm của nhân vật trong tác phẩm truyện/trong một đoạn trích truyện

Dạng 4: Nghị luận về hình tượng trong văn bản kí, kịch

Lưu ý: Nhằm mục đích phân hóa đối tượng học sinh: Giỏi, khá, trung bình, hay

yếu kém khi viết bài nghị luận văn học, trong đề thì tốt nghiệp THPT năm 2019, 2020,

2021 (đợt 1, 2) đều có thêm câu hỏi phân hóa, thường là: Liên hệ/nhận xét về một phương diện nào đó (tác giả, tác phẩm)

Ví dụ:

-Phân tích cơ sở pháp lí của bản Tuyên ngôn độc lập qua đoạn trích (cho sẵn

đoạn trích) Từ đó, anh/chị hãy nhận xét nghệ thuật lập luận của chủ tịch Hồ Chí Minh trong đoạn trích

-Cảm nhận về vẻ đẹp của bức tranh thiên nhiên v ng Tây Bắc Tổ quốc trong

đoạn thơ (đoạn thơ gồm 14 câu đầu trong bài thơ Tây Tiến) Từ đó, khái quát về bút

pháp nghệ thuật của nhà thơ Quang Dũng

-Cảm nhận của anh/chị về tâm trạng bà cụ Tứ trong đoạn trích (đoạn trích) Từ

đó, nhận xét về tấm lòng của nhà văn Kim Lân dành cho người nông dân

4 Cách làm các dạng bài nghị luận văn học trong đề thi tốt nghiệp THPT

4.1.Nghị luận về một bài thơ/đoạn thơ

Giáo viên hướng dẫn học sinh ghi nhớ khung bài chung khi gặp dạng bài này:

Mở bài -Dẫn dắt (từ tác giả, tác phẩm; đề tài; nhận định – đánh giá; lí luận văn

học, câu thơ gần gũi ) -Giới thiệu bài thơ/đoạn thơ (khái quát về bài thơ/đoạn thơ và trích dẫn)

-Khái quát về tác giả, tác phẩm, đoạn thơ:

+Tác giả: vị trí, phong cách +Tác phẩm: vị trí, hoàn cảnh, xuất xứ, +Đoạn thơ: vị trí, mạch cảm xúc

Trang 28

26

Thân bài -Cảm nhận đoạn thơ:

+Nội dung: các luận điểm, luận cứ

+Nghệ thuật: thể thơ, ngôn ngữ, hình ảnh, giọng điệu, nhịp điệu, các

biện pháp tu từ

-Đánh giá về bài thơ/đoạn thơ

+Nét đặc sắc, độc đáo của bài thơ/đoạn thơ

+Vai trò của đoạn thơ với tác giả, tác phẩm

-Liên hệ/ nhận xét về một phương diện nào đó (tác giả, tác phẩm)

Kết bài -Khái quát, đánh giá lại vấn đề

-Nêu tình cảm, suy nghĩ của bản thân -Khẳng định sức sống của tác phẩm, tác giả -Gợi mở liên tưởng, tưởng tượng cho người đọc

Ví dụ minh họa:

Trong đoạn trích Việt Bắc, Tố Hữu viết:

Mình về mình có nhớ ta Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng Mình về mình có nhớ không

Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn?

Tiếng ai tha thiết bên cồn Bâng khuâng trong dạ bồn chồn bước đi

Áo chàm đang buổi phân ly Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay

(Ngữ văn 12, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, tr.109)

Giáo viên gợi ý học sinh huy động kiến thức trả lời theo khung bài trên

Mở bài -Dẫn dắt + giới thiệu đoạn thơ

Trang 29

27

nghĩa tình ++Bốn câu thơ tiếp theo là tiếng lòng của người về xuôi mang bai nỗi nhớ thương bịn rịn

+Nghệ thuật: thể thơ lục bát; lối đối đáp của ca dao; hình ảnh thơ gần

gũi, bình dị; ngôn ngữ thơ trong sáng, nhuần nhị; các biện pháp tu từ

-Đánh giá: nét độc đáo của thơ Tố Hứu so với các tác phẩm c ng đề

tài

-Nhận xét về đặc sắc nghệ thuật thơ Tố Hữu: ngôn ngữ, giọng điệu,

tính trữ tình – chính trị, đậm đà bản sắc dân tộc

Kết bài -Đánh giá và nêu cảm nghĩ

Lưu ý: Đối với dạng bài nghị luận về một bài thơ/đoạn thơ có định hướng vẫn

triển khai các bước như khung bài trên Tuy nhiên, giáo viên cần lưu ý với học sinh như sau trong phần triền khai nội dung cần:

-Dựa vào gợi ý của đề bài và những kiến thức đã được học, chia tách vấn đề cần nghị luận thành các luận điểm và lần lượt triển khai từng luận điểm đó bằng những luận cứ ph hợp Ở mỗi luận điểm, luận cứ lần lượt, cần lựa chọn những luận chứng tiêu biểu để phân tích/cảm nhận làm sáng tỏ vấn đề

-Vận dụng các thao tác lập luận một cách linh hoạt, nhuần nhuyễn Nên triển khai mỗi luận điểm, luận cứ thành một hay nhiều đoạn văn (Lưu ý: Nếu vấn đề cần làm sáng tỏ trong đề bài được nêu dưới hình thức một khái niệm, một ý kiến, nhận định thì cần giải thích r nhận khái niệm, ý kiến hay nhận định đó Từ đó mà tìm được luận đề, cũng như hệ thống luận điểm, luận cứ của bài viết

Ví dụ minh họa:

Trong bài thơ Tây Tiến, Quang Dũng viết:

Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm Rải rác biên cương mồ viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

Áo bào thay chiếu anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành

Trang 30

28

(Ngữ văn 12, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, năm 200)

Cảm nhận của anh/chị về vẻ đẹp người lính Tây Tiến trong đoạn thơ trên Từ

đó, nhận xét về cảm hứng lãng mạn và tinh thần bi tráng được thể hiện trong đôạn thơ

Giáo viên gợi ý học sinh huy động kiến thức trả lời theo khung bài và có lưu ý:

Mở bài -Dẫn dắt + giới thiệu đoạn thơ

+Nghệ thuật: thất ngôn hiện đại; bút pháp lãng mạn và bi tráng; từ Hán

Việt mang sắc thái trang trọng, cổ kính; các biện pháp tu từ

-Đánh giá: nét độc đáo của thơ Quang Dũng so với các tác phẩm c ng

đề tài

-Nhận xét về cảm hứng lãng mạn và tinh thần bi tráng:

Kết bài -Đánh giá và nêu cảm nghĩ

4.2.Nghị luận về một tác phẩm/đoạn tr ch văn xuôi

Giáo viên hướng dẫn học sinh ghi nhớ khung bài chung:

Mở bài -Dẫn dắt (từ tác giả, tác phẩm; đề tài; nhận định – đánh giá; lí luận văn

học, câu thơ gần gũi ) -Giới thiệu tác phẩm/đoạn trích

Thân bài

-Khái quát về tác giả, tác phẩm, đoạn trích

+Tác giả: vị trí, phong cách +Tác phẩm: vị trí, hoàn cảnh, xuất xứ, +Đoạn trích: vị trí

-Cảm nhận tác phẩm/đoạn trích

+Nội dung: khung cảnh, sự việc, nhân vật

+Nghệ thuật: trần thuật, tả cảnh, khắc họa nhân vật, ngôn ngữ

-Đánh giá, bình luận về tác phẩm/đoạn trích

Trang 31

29

+Nét đặc sắc, độc đáo của tác phẩm/đoạn trích +Vai trò của đoạn thơ với tác giả, tác phẩm

-Liên hệ/ nhận xét về một phương diện nào đó (tác giả, tác phẩm)

Kết bài -Khái quát, đánh giá lại vấn đề

-Nêu tình cảm, suy nghĩ của bản thân -Khẳng định sức sống của tác phẩm, tác giả -Gợi mở liên tưởng, tưởng tượng cho người đọc

Ví dụ minh họa:

Trong tác phẩm Ai đã đặt tên cho dòng sông? Hoàng Phủ Ngọc Tường viết: Trong những dòng sông đẹp ở các nước mà tôi thường nghe nói đến, hình như chỉ sông Hương là thuộc về một thành phố duy nhất Trước khi về đến vùng châu thổ

êm đềm, nó đã là một bản trường ca của rừng già, rầm rộ giữa bóng cây đại ngàn, mãnh liệt qua những ghềnh thác, cuộn xoáy như con lốc vào những đáy vực bí ẩn, và cũng có lúc nó trở nên dịu dàng và say đắm giữa những dặm dài chói lọi màu đỏ của hoa đỗ quyên rừng Giữa lòng Trường Sơn, sông Hương đã sống một nửa cuộc đời của mình như một cô gái Di-gan phóng khoáng và man dại Rừng già đã hun đúc cho

nó một bản lĩnh gan dạ, một tâm hồn tự do và trong sáng Nhưng chính rừng già nơi đây, với cấu trúc đặc biệt có thể lí giải được về mặt khoa học, đã chế ngự sức mạnh bản năng ở người con gái của mình để khi ra khỏi rừng, sông Hương nhanh chóng mang một sắc đẹp dịu dàng và trí tuệ, trở thành người mẹ phù sa của một vùng văn hóa xứ sở Nếu chỉ mải mê nhìn ngắm khuôn mặt kinh thành của nó, tôi nghĩ rằng người ta sẽ không hiểu một cách đầy đủ bản chất của sông Hương với cuộc hành trình đầy gian nan mà nó đã vượt qua, không hiểu thấu phần tâm hồn sâu thẳm của nó mà dòng sông hình như không muốn bộc lộ đã đóng kín lại ở cửa rừng và ném chìa khóa trong những hang đá dưới chân núi Kim Phụng

(Ngữ văn 12, Tập hai, NXB Giáo dục, năm 2008, tr.198)

Trình bày cảm nhận của anh/chị về vẻ đẹp của dòng sông Hương trong đoạn trích trên Từ đó, nhận xét về cách nhìn mang tính phát hiện về dòng sông của nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường

Giáo viên gợi ý học sinh huy động kiến thức trả lời theo khung bài trên:

Trang 32

30

Mở bài -Dẫn dắt + giới thiệu đoạn trích

Thân bài

-Giới thiệu khái quát về tác giả Hoàng Phủ Ngọc Tường, tác phẩm Ai

đã đặt tên cho dòng sông? Và đoạn trích

-Cảm nhận vẻ đẹp của sông Hương: Sông Hương mang vẻ đẹp phong

phú +Sông Hương khi chảy giữa lòng Trường Sơn mang vẻ đẹp hoang dại đầy cá tính

+Sông Hương ra khỏi rừng mang vẻ đẹp đằm thắm, sâu lắng của người mẹ

+Vẻ đẹp của sông Hương được thể hiện bằng ngôn ngữ tinh tế, giàu chất thơ; lối hành văn hướng nội, mê đắm, tài hoa; nghệ thuật so sánh, nhân hóa tạo nên những liên tưởng độc đáo, thú vị

-Nhận xét về cái nhìn mang tính phát hiện về dòng sông của nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường

+Nhìn dòng sông không chỉ là một dòng chảy tự nhiên mà như một con người

+Cho thấy vốn hiểu biết, uyên bác, tình yêu quê hương sâu nặng, phong cách viết kí độc đáo

Kết bài -Đánh giá và nêu cảm nghĩ

5 Hướng dẫn học sinh cách viết từng phần của bài nghị luận văn học trong đề thi tốt nghiệp THPT

Về lí thuyết, nghị luận văn học là kiểu bài mà học sinh được tự phát biểu cảm nhận của mình về tác phẩm, tự lựa chọn các yếu tố, các bình diện của văn bản để phân tích theo suy nghĩ chủ quan của người viết Tuy nhiên, d lựa chọn như thế nào thì cũng cần làm nổi bật được những giá trị cơ bản về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm, lí giải được cái hay, cái đẹp của đoạn thơ/đoạn văn gắn với tư tưởng, tình cảm của người viết Tuy nhiên để với được tới thang điểm 4.0 – 5.0 cho phần viết bài nghị luận văn học thì người viết phải có kĩ năng viết từng phần thật đúng, thật hay Sau đây, tôi xin giới thiệu cách viết từng phần trong bài văn nghị luận văn học mà tôi đã từng hướng dẫn cho học sinh của mình trong quá trình ôn luyện

5.1.Mở bài:

Trang 33

31

Macxim Gorki đã từng kết luận: Khó hơn cả là phần mở đầu, cụ thể là câu đầu, cũng như trong âm nhạc, nó chi phối giọng điệu của tác phẩm và người ta thường tìm

nó rất lâu Ngày xưa, ông cha ta có câu Vạn sự khởi đầu nan, khi bắt đầu sự việc suôn

sẻ thì mọi thứ làm tiếp sau đó sẽ trở nên thuận lợi và dễ dàng hơn Mở bài trong mọi

bài viết là sự mở đầu trong việc nêu ý tưởng cần diễn đạt trong bài viết đó Mở bài rất quan trọng trong cấu trúc bài văn nghị luận của học sinh Mở bài là sự kết nối cho toàn bài nên rất cần thiết trong việc thể hiện nội dung bài học ngay ở phần đầu tiên

Thông thường, mở bài bao giờ cũng là phần khiến học sinh trăn trở, khó khăn nhất Khi làm văn, dẫn dắt, đặt vấn đề ở mở bài hay, lưu loát sẽ khiến học sinh tự tin,

có thêm cảm hứng cho bài viết của mình, giúp bài viết được trôi chảy hơn và sự hoàn thành bài viết cũng nhanh chóng Mở bài hay giúp cho người viết nhận được sự đánh giá cao của người đọc, có cảm tình ngay khi đọc bài văn, người đọc hiểu được nội dung mà người viết muốn truyền đạt, kích thích trí tò mò của người đọc về nội dung các phần sau của bài văn

Một bài văn cần nhiều kĩ năng và mở bài là một kĩ năng quan trọng cho thấy người viết đã xác định đúng hướng và đi sâu vào vấn đề cần thể hiện Để có một mở

bài hay cho một bài viết không hề dễ dàng Hay ở đây không chỉ là nội dung đủ, đúng

mà mở bài hay còn được thể hiện qua việc sử dụng ngôn từ viết hay Ngôn ngữ của mỗi người là khác nhau vì cách cảm nhận văn học trong mỗi người là khác nhau nên trau dồi về kiến thức văn học sẽ giúp người viết và người đọc tìm được tiếng nói chung

Giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh tổng kết: Các cách mở bài khác nhau chủ yếu là ở phần dẫn dắt Còn phần nêu vấn đề và phần giới hạn vấn đề thường không thay đổi, viết phần mở bài thường ai cũng nêu được phần này Nói gọn lại, thay đổi phần dẫn

dắt, ta sẽ có cách mở bài mới Vì vậy, có hai nguyên tắc để có mở bài hay, đó là:

-Nêu được vấn đề một cách ngắn gọn nhất, hấp dẫn và gây hứng thú cho người đọc, người nghe

-Nêu lên hướng giải quyết, phạm vi giải quyết vấn đề, tầm quan trọng, ý nghĩa của vấn đề để chuẩn bị cho người đọc theo d i phần nội dung

Thường có rất nhiều cách mở bài khác nhau, các em có thể mở bài trực tiếp hoặc gián tiếp

-Cách mở bài trực tiếp:

Trang 34

được sáng tác năm 1952, trong chuyến đi dài 8 tháng mà Tô Hoài c ng bộ đội vào giải

phóng Tây Bắc Tác phẩm in trong tập Truyện Tây Bắc, xuất bản năm 1953 Đoạn

trích ( ) đã được Tô Hoài khắc họa thành công vẻ đẹp của bức tranh thiên nhiên, cảnh sinh hoạt và nhân vật Mị

-Cách mở bài gián tiếp:

+Thường dành để phân hóa học sinh, là cách mở bài có sử dụng câu dẫn gợi ý độc đáo, ấn tượng Bản thân tôi, khi ôn luyện cho học sinh thường giới thiệu cho các

em tham khảo một số cách mở bài sau đây:

++Cách mở bài gián tiếp đi từ vấn đề có liên quan tới nội dung cần bàn luận:

Đây là cách mở bài đi từ xa tới gần, nêu các ý liên quan đến vấn đề, sau đó, đề cập đến vấn đề cần phân tích/cảm nhận

Ví dụ: Để xây dựng được một nhân vật có sức lay động, chiếm trọn trái tim người đọc là một điều vô cùng khó khăn Thế nhưng nhà văn/nhà thơ lại hoàn toàn làm được điều đó Hình ảnh nhân vật trong tác phẩm của ông đã ghi dấu ấn đậm sâu trong lòng người đọc

Trang 35

33

++Cách mở bài gián tiếp theo kiểu nêu lên một vấn đề đối lập: Tức là nêu một

vấn đề trái ngược, từ đó làm thế bắc cầu để nêu lên vấn đề mà mình cần phân tích

Ví dụ: Trong các tác phẩm văn học Việt Nam, chúng ta đã từng gặp không ít những người phụ nữ có số phận bi thương Nhưng khi tiếp cận với dòng văn học cách mạng, vẫn những người phụ nữ ấy nhưng ta lại thấy những hình ảnh rất khác Không cam chịu số phận, họ đã phản kháng, trỗi dậy để làm chủ cuộc đời mình Một trong số

đó là nhân vật của nhà văn/ nhà thơ

++Cách mở bài gián tiếp theo kiểu quy nạp vấn đề: Nhiệm vụ của mở bài này

là nêu nội dung vấn đề để phần thân bài phân tích và xử lí vấn đề

Ví dụ: Thời gian luôn không ngừng chuyển động Chúng ta luôn chỉ sống một lần trên đời với tuổi thọ luôn là một con số hữu hạn Nhưng có một thứ luôn tồn tại song song cùng thời thời gian, đó là thơ, là văn, là những tác phẩm nghệ thuật đích thực Tác phẩm của nhà văn/nhà thơ là một trong số những tác phẩm nghệ thuât như vậy

++Cách mở bài gián tiếp theo kiểu tương liên đi từ một nhạn định lí luận văn học: Mở bài theo kiểu tương liên, tức là từ một vấn đề tương tự để làm cầu nối nêu ra

vấn đề cần phân tích/cảm nhận

Ví dụ 1: Có người từng nhận xét: Thơ là những điều gì làm bạn khóc, cười, đau khổ, câm lặng, làm những ngón chân của bạn lấp lánh, làm cho bạn muốn làm một điều hoặc chỉ ngồi yên một chỗ Khiến bạn thấy mình không cô độc trên thế giới, rằng hạnh phúc, khổ đau của riêng mình sẽ được mãi mãi sẻ chia Quả thật, kể từ khi thơ ca

xuất hiện, cái giọt tinh hoa của nhân loại ấy đã mang đến hơi thở ấm áp cho hành trình xanh xanh và điệp tr ng những cánh rừng tươi thắm của chúng ta Sinh ra từ tâm hồn

và trái tim con người, thơ trở thành tri âm của bao thế hệ, là tình yêu mong manh và bất diệt của những người yêu văn chương

Ví dụ 2: Nhà văn tồn tại ở trên đời trước hết là để làm công việc giống như kẻ nâng giấc cho những con người bị cùng đường, tuyệt lộ, bị cái ác hoặc số phận đen đủi dồn đến chân tường Những con người cả tâm hồn và thể xác bị hắt hủi và đọa đày đến ê chề, hoàn toàn mất hết lòng tin vào con người và cuộc đời Nhà văn tồn tại ở trên đời để bênh vực cho những con người không có ai đề bênh vực (Nguyễn Minh

Châu) Với hình tượng nhân vật trong tác phẩm của nhà văn/nhà thơ đã thực hiện trọn vẹn sứ mệnh ấy

Trang 36

34

++Cách mở bài gián tiếp theo kiểu trích dẫn lời tâm sự, chia sẻ của tác giả:

Cách này đòi hỏi học sinh phải nhớ được lời tâm sự, một lời bàn luận mà tác giả mình muốn viết đã nói

Ví dụ 1: Đã có lần nhà thơ/nhà văn đã nói Và đó là lí do để ra đời với tất

cả những thương quý của và cả những ánh ngời trên trang sách Những chỗ ( ) phải điền vào, đó là: lời tâm sự, trích dẫn, tác giả, tác phẩm

Chẳng hạn, khi mở bài cho tác phẩm Vợ chồng A Phủ của nhà văn Tô Hoài: Đã

có lần, nhà văn Tô Hoài nói: Đất nước và con người miền Tây đã để thương, để nhớ cho tôi nhiều quá, tôi không thể bao giờ quên Tôi không thể bao giờ quên được lúc vợ chồng A Phủ tiễn tôi ra khỏi hốc núi làng Tà Sùa, rồi cùng vẫy tay gọi theo: Chéo lù! Chéo lù! (Trở lại! Trở lại!) Và đó là lí do để tác phẩm vợ chồng A Phủ ra đời với tất

cả những thương quý của nhà văn và cả sự ánh ngời trên trang sách

Ví dụ 2: Nhà văn Nguyễn Tuân trong Võng ngô đồng, từng viết: Mỗi khi đặt bút lên tờ giấy trắng trong tinh khiết, tôi cảm thấy sung sướng vô vàn, sung sướng đến chảy nước mắt ra Và ông luôn đau đáu: Tưởng như mình có thể chết ngay, nếu mất đi quyền viết vì bởi, sáng tạo là giây phút nhà văn được trút linh hồn và được sống với tất

cả những thiết tha, khát vọng Mỗi một tác phẩm để có thể chống lại quy luật của sự băng hoại thì nhà văn nhất thiết phải đem đến được tâm hồn, tình cảm của mình qua từng dòng, từng chữ

++Cách mở bài gián tiếp theo kiểu bắt đầu từ một câu chuyện có nội dung với vấn đề cần bàn luận: Cách mở bài này hay, nhưng cần phải đọc nhiều để có kiến thức

tổng hợp về các câu chuyện Sau khi kể lại nội dung vắn tắt câu chuyện thì liên kết, nối vấn đề cần bàn luận vào

Ví dụ: Trong cuốn .của đã kể về (nội dung câu chuyện) Bởi thế, một tác phẩm nghệ thuật đích thực không thể đơn thuần là một bản sao chép hiện thực khô cứng, thô nhám, mà thiếu đi mất cái hồn người, hồn đời Một tác phẩm nghệ thuật chân chính bao giờ cũng mang trong nó những vầng sáng của riêng mình, vầng sáng

ấy chính là hồn cốt của nó, khiến nó có thể tồn tại, khiến nó có thể giúp ích gì đó cho cuộc đời, cho con người Với sứ mệnh thiêng liêng, cao cả của mình, nhà thơ/nhà văn .đã gửi gắm vào đó tất cả Phải chăng, vì lẽ ấy mà có ý kiến cho rằng

Lưu ý: Trong quá trình ôn luyện, giáo viên cung cấp cho học sinh tài liệu: Tổng

hợp các câu dẫn độc đáo, ấn tượng thường hay sử dụng khi mở bài nghị luận văn học

Trang 37

35

Tóm lại: Kinh nghiệm ôn thi tốt nghiệp THPT cho thấy: Cách mở bài nhanh, tiết kiệm thời gian, dành cho phần lớn học sinh đại trà (không lựa chọn xét điểm các tổ hợp có môn Ngữ văn) là mở bài trực tiếp Và để học sinh có thể đạt điểm tối đa cho phần mở bài, thậm chí được thêm điểm sáng tạo trong Hướng dẫn chấm của Bộ thì mở bài gián tiếp là lựa chon tốt nhất

5.2 Thân bài:

Trong bài văn nghị luận, phần thân bài có nhiệm vụ làm sáng tỏ vấn đề mà mở bài đã nêu Nếu xem phần mở bài chỉ có nhiệm vụ đặt vấn đề thì phần thân bài ứng với thao tác giải quyết vấn đề đó Ở phần thân bài, người viết cụ thể hóa vấn đề cần nghị luận – được gọi là luận đề bằng một hệ thống luận điểm Mỗi luận đề được phát triển bằng nhiều luận cứ

Thân bài gồm nhiều đoạn văn Giữa các đoạn có câu văn hoặc từ chuyển tiếp nối kết các luận điểm với nhau làm cho bài văn liền mạch Về lí thuyết, mỗi đoạn thân bài, tập trung làm nổi bật một luận điểm Luận điểm đó thường được thể hiện bằng một câu chốt Vị trí của câu chốt đứng đầu hoặc cuối đoạn văn Nhưng trên thực tế, luận điểm thường có nhiều nội dung nên luận điểm ấy cần chia ra làm nhiều đoạn Trường hợp này, giữa các đoạn văn bộ phận của luận điểm vẫn phải có sự chuyển tiếp

và mỗi đoạn văn cũng có một câu chốt nêu lên chủ đề của đoạn

Chẳng hạn với đề bài: Cảm nhận của anh/chị về hình tượng thiên nhiên và con người Việt Bắc trong đoạn thơ sau: Ta về, mình có nhớ ta ( )Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung, bài viết sẽ có hai luận điểm trung tâm là hình tượng thiên nhiên và con người Tây Bắc Luận điểm Hình tượng thiên nhiên Tây Bắc lại có một số nội dung bộ

phận như: cảnh m a đông Việt Bắc; cảnh m a xuân Việt Bắc; cảnh m a hạ Việt Bắc; cảnh m a thu Việt Bắc Khi đó, luận điểm này sẽ được triển khai như sau:

Cảnh vật Việt Bắc được khắc họa rất điển hình, Tố Hữu đã mượn hình ảnh của hoa chuối đỏ tươi để gọi dậy một nét đặc trưng của mùa đông Việt Bắc Có người cho rằng, hình ảnh hoa chuối lần đầu tiên đi vào thơ Tố Hữu nhưng đã tạo được ấn tượng đặc biệt với người đọc Cảnh mùa đông có nét ấm áp, rực rỡ, tươi tắn, chứ không phải

là sự lạnh lẽo, hắt hiu Bức tranh đan dệt bởi nhiều màu sắc: xanh, đỏ tươi, vàng

Nếu mùa đông iệt Bắc sống dậy từ sắc đỏ của hoa chuối thì mùa xuân iệt Bắc được gợi ra từ sắc trắng của hoa mơ, sắc xanh của rừng, tạo nên nét đẹp tinh

Trang 38

36

khôi, thơ mộng của cảnh Màu trắng của hoa có khả năng bao chiếm không gian,

nhấn mạnh sự tinh khiết của cảnh vật

Nếu câu thơ mùa xuân bừng sáng sắc trắng của hoa mơ thì câu thơ mùa hạ lại ngân lên tiếng ve quen thuộc của núi rừng iệt Bắc Tiếng ve dệt thành bản đồng

ca mùa hạ rọn ràng, tươi vui

Không rực rỡ, tươi tắn dưới ánh sáng mặt trời, hình ảnh vầng trăng mùa thu hòa bình mát rượi và tiếng hát ân tình ngân vang của con người đã làm sáng lên bức tranh mùa thu Bức tranh ấy lắng lại trong nét đẹp quyến rũ, gợi cảm

Những đoạn văn trên đều là những bộ phận của luận điểm Thiên nhiên Việt Bắc Câu văn Cảnh vật Việt Bắc được khắc họa rất điển hình nêu lên luận điểm cho cả

bốn đoạn văn Những câu được in nghiêng, đậm vừa mang vai trò là câu chuyển tiếp, vừa mang vai trò là câu chốt cho từng đoạn văn Mặt khác, giữa các đoạn văn có sự liên kết, còn được thể hiện ở việc khung cảnh thiên nhiên các m a được trình bày theo thứ tự thời gian: đông, xuân, hạ thu

Mô hình chung của phần thân bài trong bài văn nghị luận là:

-Đối với tác phẩm thơ/đoạn trích thơ:

Bước 1: Khái quát:

Ở bước này, giáo viên hướng dẫn học sinh giới thiệu vị trí tác giả, hoàn cảnh sáng tác, cảm hứng chủ đạo, cấu tứ tác phẩm (nếu mở bài gián tiếp, hoặc trực tiếp

mà chưa có ý này), đồng thời, giới thiệu vị trí của đoạn thơ trong mạch cảm hứng của toàn bài thơ hoặc khái quát được nội dung đoạn thơ cần phân tích/cảm nhận Thao tác này được đặt ở đoạn văn đầu tiên của thân bài, nên viết khoảng 5 đến 7 câu

Trang 39

37

Ví dụ 1: Khi cảm nhận một đoạn thơ trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng,

giáo viên có thể hướng dẫn học sinh chọn tài liệu trong các đoạn sau để viết phần khái quát

Quang Dũng là người đa tài song được biết nhiều với tư cách là một nhà thơ Hồn thơ Quang Dũng là một hồn thơ phóng khoáng, hồn hậu, lãng mạn và hào hoa Quang Dũng đã mang cái hào hoa của người Hà Nội và cả xứ Đoài quê hương để làm

nên chất men say lãng mạn ở Tây Tiến c ng nhiều bài thơ khác như: Đôi mắt người Sơn Tây, Không đề, Mây đầu ô

Bài thơ Tây Tiến được viết năm 1948 – những năm khốc liệt rực lửa của cách

mạng Việt Nam Hào khí quyết chiến quyết thắng đã thổi vào thơ ca Việt Nam, tràn vào tâm hồn thơ lãng mạn của Quang Dũng để ông viết Tây Tiến – đứa con đầu lòng hào hoa và tráng kiện không chỉ của riêng Quang Dũng mà còn của cả nền văn học

Việt Nam thời chống Pháp

Ph Lưu Chanh, một làng quê hiền hòa bên dòng sông Đáy, nơi Quang Dũng ghi những dòng hồi ức về đoàn quên Tây Tiến Lính Tây Tiến phần đông là những trí thức Hà Nội mang sẵn trong tâm hồn mình chất hào hoa thanh lịch, mang trong tim bầu máu nóng sục sôi của thời đại Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh

Ví dụ 2: Khi cảm nhận một đoạn thơ trong bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu, giáo viên có thể hướng dẫn học sinh chọn tài liệu trong các đoạn sau để viết phần khái quát

Tố Hữu hiện diện sớm trong môi trường hoạt động chính trị và văn chương nước nhà với chân dung đặc biệt của chàng trai còn ở tuổi thiếu niên dạt dào lòng yêu nước Ngay từ những ngày cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đi vào giai đoạn quyết liệt mà đỉnh cao là cuộc cách mạng tháng Tám lịch sử Tố Hữu được coi là một điển hình của một tuổi trẻ không ngại gian khổ hi sinh, hăng hái dấn thân vào sự nghiệp giải phóng đất nước bằng trái tim sục sôi và cả sinh mệnh của đời mình

Xuyên suốt các tập thơ Từ ấy, Việt Bắc, Gió lộng, Ra trận, Máu và hoa, Một tiếng đờn, Tố Hữu xứng đáng được tôn vinh là nhà thơ cách mạng; nhà thơ của nhân dân; ngọn cờ chiến đấu của thơ ca cách mạng Việt Nam; người có công đầu xây dựng nền thơ ca cách mạng Việt Nam; một cuộc đời trọn vẹn với cách mạng – nghệ thuật – tình yêu; một viên ngọc trong nền văn hóa Việt Nam; nhà thơ của chủ nghĩa nhân dân cách mạng

Trang 40

38

Việt Bắc là bản h ng ca vì bài thơ như những trang nhật kí về chặng đường

cách mạng Việt Nam, đồng thời cũng có ý nghĩa tổng kết một chặng đường lịch sử gian lao và anh dũng của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp suốt 15 năm từ khởi nghĩa Bắc Sơn (1940) đến năm 1954 Bài thơ đã tái hiện trong kí ức tác giả những ngày đầu của cuộc kháng chiến thần thánh ở thủ đô gió ngàn với những khó khăn, thiếu thốn nhưng vẫn đoàn kết, thủy chung và lạc quan Người đọc được chứng kiến những sự trưởng thành, tư thế vươn lên của cách mạng, như được sống lại những ngày tháng chiến thắng với sức mạnh phản công của quân và dân ta ở chiến khu Việt Bắc bằng những vần thơ rất đỗi hào h ng Có thể nói, đó là những trang sử bi tráng, hào

h ng bằng thơ Tuy nhiên, người đọc cũng nhận thấy, thơ Tố Hữu chính trị mà không

hề khô khan, vẫn tha thiết trữ tình bởi nhà thơ có rung động đặc biệt chân thành trước những vấn đề cộng đồng Nhà thơ đã viết nên bằng những rung động thơ Chính Tố

Hữu cũng từng tâm sự: Tôi đã phải lòng đất nước và nhân dân, khi nói về nhân dân, đất nước, tôi như đang nói với người đàn bà mình yêu

Bước 2: Cảm nhận/phân tích tác phẩm/đoạn trích thơ

Đây là bước quan trọng nhất của bài viết Bước này có thể triển khai theo hai cách sau:

Cắt ngang: theo bố cục tác phẩm/đoạn trích: Lần lượt phân tích/cảm nhận từng

khổ thơ/đoạn thơ Ở mỗi phần, cần làm r nội dung chính của đoạn, những nét đặc sắc

về nội dung và nghệ thuật cũng như cái hay cái đẹp của văn bản thơ

Bổ dọc: Phân tích/cảm nhận bài thơ/đoạn thơ theo hai bình diện cơ bản là nội

dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật

D làm theo cách nào thì học sinh cũng cần xây dựng hệ thống, luận điểm, luận

cứ bằng cách đặt ra các câu hỏi và trả lời câu hỏi đó: Đoạn thơ nói về điều gì? Nội dung ấy được thể hiện trên những phương diện cụ thể nào? Tác giả đã d ng những hình thức nghệ thuật nào đề thể hiện (hình ảnh, từ ngữ, các biện pháp tu từ, giọng điệu, nhịp điệu )

Khi xây dựng hệ thống luận điểm của bài làm, học sinh cũng phải xác định được đâu là ý chính, đâu là ý phụ để có kế hoạch phân chia thời gian cho khoa học, tránh việc viết dàn trải, tràn lan, không trọng tâm Tuy nhiên, trong quá trình phân tích/cảm nhận, giáo viên hướng dẫn học sinh phải chủ động chọn cách phân tích nào cho ph hợp nhất

Ngày đăng: 03/03/2023, 10:35

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w