Trong thời đại 4.0, giáo dục có những bước chuyển rất mạnh mẽ và có rất nhiều phương pháp dạy học Ngữ văn được áp dụng: dạy học hợp tác; dạy học khám phá; dạy học giải quyết vấn đề; phươ
Trang 1MỤC LỤC
1.1.3 Truyện ngắn hiện đại VN giai đoạn 1930 - 1945 6
Trang 2CHƯƠNG 2: SỬ DỤNG CÂU HỎI NÊU VẤN ĐỀ KHI DẠY TRUYỆN NGẮN HIỆN ĐẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1930 - 1945 NHẰM PHÁT TRIỂN TƯ DUY PHẢN BIỆN CHO
2.1 Xác định rõ nguyên tắc dạy học truyện ngắn hiện đại Việt Nam giai đoạn
2.1.3 Sử dụng phương tiện dạy học trong khi dạy truyện ngắn: 14 2.2 Sử dụng câu hỏi nêu vấn đề khi dạy truyện ngắn hiện đại việt nam giai đoạn
1930 – 1945 nhằm phát triển tư duy phản biện cho học sinh 14
2.2.2.2 Câu hỏi yêu cầu tái hiện sự kiện, nhân vật 18 2.2.2.3 Câu hỏi phân tích sự kiện và nhân vật 19 2.2.2.4 Câu hỏi khám phá hình tượng người trần thuật 20 2.2.2.5 Câu hỏi khám phá không gian, thời gian trần thuật 21
6 Đánh giá kết quả nghiên cứu và lợi ích thu được do áp dụng sáng kiến 26
6.2 Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh 34
Trang 31 Kết luận 37
IV CAM KẾT KHÔNG SAO CHÉP HOẶC VI PHẠM BẢN QUYỀN 38
Trang 4CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 5I ĐIỀU KIỆN, HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
Văn học là một loại hình sáng tác tái hiện những vấn đề của đời sống xã hội
và con người Văn học có các chức năng cơ bản: nhận thức, giáo dục và thẩm mỹ Nói cách khác, hành trình đến với Văn học là hành trình hướng con người đến chân-thiện-mỹ Bởi vậy Ngữ văn là một môn học quan trọng trong nhà trường phổ thông
Trong thời đại 4.0, giáo dục có những bước chuyển rất mạnh mẽ và có rất nhiều phương pháp dạy học Ngữ văn được áp dụng: dạy học hợp tác; dạy học khám phá; dạy học giải quyết vấn đề; phương pháp đàm thoại gợi mở; phương pháp đóng vai; phương pháp dạy học theo mẫu…Tất cả những phương pháp đó đang dần tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh; giúp các em hứng thú hơn với việc học Ngữ văn; từ đó rèn luyện, trau dồi tri thức, hoàn thiện nhân cách
Sử dụng câu hỏi NVĐ vào dạy học nói chung và dạy Ngữ văn nói riêng là một bước tiến mới trong giáo dục Đây là một kiểu dạy học mà cả GV và HS đều
là các nhân tố trung tâm tạo nên tính chất hai mặt của quá trình dạy học GV với vai trò chủ đạo trong hoạt động dạy, biết đưa ra những câu hỏi có tính chất khơi gợi để học sinh tư duy, định hình và nắm bắt HS với vai trò vừa là đối tượng, vừa
là chủ thể nhận thức tích cực trong hoạt động học biết suy nghĩ, phân tích vấn đề
và tìm ra câu trả lời có tính quan điểm rõ ràng, thậm chí bộc lộ cả tư duy phản biện của bản thân Sử dụng câu hỏi NVĐ là một hướng đi đúng đắn, thể hiện một
sự chuyển đổi căn bản về chiến lược dạy học trong nhà trường, góp phần vào công cuộc đổi mới phương pháp dạy học và nâng cao chất lượng dạy học, đáp ứng yêu cầu đào tạo con người mới trong thời đại khoa học kĩ thuật phát triển vũ bão như hiện nay
Ở phạm vi sáng kiến này, tôi xin được tập trung vào vấn đề:Sử dụng câu hỏi nêu vấn đề vào dạy học truyện ngắn hiện đại việt nam giai đoạn 1930-1945 nhằm phát triển tư duy phản biện cho học sinh
Trang 6II MÔ TẢ GIẢI PHÁP
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.1 Cơ sở lí luận về truyện ngắn
1.1.1 Khái niệm về truyện ngắn
- Truyện ngắn là hình thức tự sự cỡ nhỏ, thường được viết bằng văn xuôi,
nhưng có sức chứa và sức mở lớn, sự sáng tạo là khôn cùng (Vương Trí Nhàn)
- Truyện ngắn hiện đại là một kiểu tư duy mới, một cách nhìn cuộc đời, một cách nắm bắt đời sống rất riêng, mang tính chất thể loại Cho nên truyện ngắn đích thực xuất hiện tương đối muộn trong lịch sử văn học
1.1.2 Đặc điểm của truyện ngắn
- Nội dung thể loại truyện ngắn rất phong phú, bao trùm hầu hết các phương
diện của đời sống: đời tư, thế sự, cái độc đáo của nó lại là ngắn Truyện ngắn
thường ít nhân vật, ít sự kiện phức tạp, chồng chéo Nó có thể kể về cả một cuộc đời hay một đoạn đời, một sự kiện hay một “chốc lát” trong cuộc sống nhân vật, nhưng cái chính của truyện ngắn không phải là ở hệ thống sự kiện, ở độ lớn của
số trang, mà ở cái nhìn tự sự đối với cuộc đời Tác giả truyện ngắn thường hướng tới khắc họa một hiện tượng, phát hiện một nét bản chất trong quan hệ nhân sinh hay đời sống tâm hồn con người
- Cốt truyện của truyện ngắn có thể là nổi bật, hấp dẫn, thường tự giới hạn
về thời gian, không gian; nhưng chức năng của nó nói chung là để nhận ra một điều gì sâu sắc về con người và cuộc đời
- Kết cấu của truyện ngắn thường là một sự tương phản, liên tưởng
- Bút pháp trần thuật tiêu biểu của truyện ngắn là chấm phá Yếu tố có ý nghĩa quan trọng bậc nhất của thể loại này là chi tiết có dung lượng lớn và hành văn mang ẩn ý, tạo cho tác phẩm những chiều sâu chưa nói hết
1.1.3 Truyện ngắn hiện đại VN giai đoạn 1930 - 1945
Truyện ngắn hiện đại Việt Nam thực sự khởi sắc và được mùa trong giai đoạn 1930-1945 gắn với tên tuổi và sự đóng góp to lớn Thạch Lam, Nam Cao, Nguyễn Tuân Ở thời điểm này, truyện ngắn bộc lộ vai trò xung kích rõ nét khi
Trang 7bám sát các vấn đề của đời sống xã hội, nó không bỏ qua một mảnh đời nào từ nghèo khổ, đáng thương đến thanh cao…
1.2 Cơ sở lý luận về câu hỏi nêu vấn đề
1.2.1 Khái niệm câu hỏi nêu vấn đề
Câu hỏi NVĐ là câu hỏi được GV sử dụng nhằm xác định rõ vấn đề và là cơ
sở để HS khám phá, tìm ra những đáp án được ẩn giấu trong tình huống có vấn
đề Như vậy, câu hỏi NVĐ chính là chìa khóa giúp cho cả GV - HS làm rõ được những tri thức khoa học tiềm ẩn, tạo ra trí tò mò, hứng thú cho HS, khuyến khích các em giải quyết vấn đề đặt ra
1.2.2 Đặc điểm câu hỏi nêu vấn đề
Một là, mang tính sáng tạo, mang tính ý thức của chủ thể khi tiếp nhận Hai là, có tính chất phức tạp về nội dung, gợi lên những mâu thuẫn giữa cái
đã biết với cái chưa biết, giữa cái cũ với cái mới, giữa lý thuyết với thực tiễn, mâu thuẫn đó đòi hỏi HS giải quyết bằng tư duy sáng tạo
Ba là, phản ánh được tâm trạng ngạc nhiên của HS khi nhận ra mâu thuẫn
nhận thức, khi đụng chạm tới vấn đề
Bốn là, mang tính hệ thống liên tục mới có thể từng bước dẫn dắt các em
khám phá ra chân lý hay những nhận thức khoa học mới
Năm là, phải sát với nội dung bài dạy và phù hợp với tâm lý tuổi các em mới
có thể gợi lên hứng thú học tập cho HS Nghĩa là nó vừa phản ánh trọng tâm tri thức cần thiết trong quá trình học tập đối với HS
1.2.3 Phân loại câu hỏi nêu vấn đề
- Câu hỏi nhận biết: kiểm tra trí nhớ của HS về các dữ liệu, các định nghĩa,
tên tuổi, địa điểm Thông qua việc trả lời các CH này giúp HS ôn lại được những
gì đã học, đã đọc hoặc đã trải qua Các từ để hỏi thường là: Cái gì…; bao nhiêu…; hãy định nghĩa…
- Câu hỏi thông hiểu: sử dụng loại CH này khi kiểm tra cách HS liên hệ ,
kết nối các dữ liệu… Việc trả lời các câu hỏi này cho thấy HS có khả năng diễn
tả bằng lời nói, nêu ra được các yếu tố cơ bản hoặc so sánh các yếu tố cơ bản trong
Trang 8nội dung đang học Các cụm từ để hỏi thường là: tại sao…; hãy phân tích…; hãy
so sánh…; hãy liên hệ…
- Câu hỏi vận dụng: kiểm tra khả năng áp dụng các dữ liệu, các khái niệm,
các quy luật, các phương pháp vào hoàn cảnh và điều kiện mới Khi đặt CH cần tạo ra những tình huống mới khác với điều kiện đã học trong bài học Các cụm từ
để hỏi thường là: làm thế nào…; em có thể … như thế nào…
- Câu hỏi phân tích: kiểm tra khả năng phân tích nội dung vấn đề, từ đó đi
- Câu hỏi tổng hợp: kiểm tra xem HS có thể đưa ra những dự đoán, giải
quyết vấn đề, đưa ra câu trả lời hoặc đề xuất có tính sáng tạo CH tổng hợp thúc đẩy sự sáng tạo của HS các em phải tìm ra những yếu tố và ý tưởng mới để có thể
bổ sung cho nội dung GV cần lưu ý rằng CH loại này đòi hỏi một thời gian chuẩn
bị khá dài vì vậy hãy để cho HS có đủ thời gian tìm ra câu trả lời
- Câu hỏi đánh giá: kiểm tra xem HS có thể đóng góp ý kiến và đánh giá
các ý tưởng, giải pháp… dựa vào những tiêu chuẩn đã đề ra
Có thể nói, trong quá trình dạy học, hiệu quả của việc sử dụng câu hỏi NVĐ được thể hiện qua sự kích thích tư duy HS Tuy nhiên, hiệu quả đó lại phụ thuộc rất nhiều vào khả năng nhận thức của từng em Sẽ hoàn toàn không có tác dụng nếu GV đặt ra những CH quá dễ đối với khả năng của HS GV cần có nhận xét, động viên với những câu trả lời đúng cũng như câu trả lời chưa đúng của các
Trang 9sáng tỏ và khẳng định lại tính chính xác của vấn đề Lập luận phản biện phải rõ ràng, lô-gíc, đủ bằng chứng, tỉ mỉ và công tâm
1.3.2 Rèn luyện tư duy phản biện
- Tích cực trau dồi kiến thức cho bản thân
- Hãy có một tầm nhìn khách quan
- Hãy tự tạo thắc mắc để hoàn hảo
- Sử dụng sơ đồ hóa ý kiến
Như vậy, truyện ngắn hiện đại giai đoạn 1930 – 1945 chiếm một số lượng và khối lượng kiến thức nhất định và có vị trí quan trọng trong chương trình Ngữ văn phổ thông, trở thành mối quan tâm lớn của cả người dạy và người học
2.2 Thực trạng dạy học câu hỏi nêu vấn đề nhằm phát triển tư duy phản biện cho học sinh trong dạy học truyện ngắn hiện đại hiện nay
2.2.1 Thuận lợi
Trong chương trình Ngữ văn PT tỉ lệ các văn bản truyện ngắn hiện đại chiếm
số lượng tương đối trong tổng số các tiết đọc hiểu văn bản, và đa số các giờ đoc - hiểu truyện ngắn hiện đại này khơi gợi được nhiều hứng thú cho giáo viên và học sinh trong hoạt động dạy cũng như hoạt động học Hơn nữa tài liệu về truyện ngắn hiện đại khá dễ tìm đối với cả giáo viên và học sinh Công nghệ thông tin phát triển, các em cũng trở nên năng động, tư duy phản biện cũng nhanh nhạy hơn
Trang 102.2.1 Khó khăn
Thực tế ý thức tự học ở hầu hết học sinh còn hạn chế.Học sinh chưa xác định được sự cần thiết của môn học Các em không có thói quen đọc sách nghiên cứu, không quan tâm đến việc tìm đọc các tác phẩm văn học, chỉ đọc đoạn trích ở SGK.Vì vậy, việc giảng dạy của giáo viên khi áp dụng những phương pháp mới còn gặp nhiều khó khăn để đem lại hiệu quả như mong muốn Do đó vấn đề đặt câu hỏi trong dạy học nói chung, dạy học truyện ngắn Việt Nam hiện đại nói riêng nhiều lúc chỉ dừng lại ở dạng những câu hỏi đơn giản Giáo viên đa số thường ưu tiên sử dụng những câu hỏi có tính chất tái hiện kiến thức như: dựa vào sách giáo khoa tóm tắt những nét cơ bản về tác phẩm?; tìm dẫn chứng làm rõ những luận điểm do giáo viên nêu sẵn về nội dung, nghệ thuật của văn bản văn học, Các dạng câu hỏi có tính chất tìm tòi, khám phá chưa được giáo viên sử dụng nhiều trong quá trình dạy học Việc sử dụng những câu hỏi yêu cầu học sinh phải dùng tri thức đã biết để tìm tòi phát hiện tri thức mới hoặc phải tổng hợp, bao quát tri thức trên nhiều lĩnh vực, phải trăn trở suy ngẫm để mở rộng, xoáy sâu vấn đề hoặc vận dụng, liên hệ văn bản vào thực tế xã hội, thực tiễn đời sống lại càng khiêm tốn Chính điều đó làm cho đa số học sinh tiếp nhận tác phẩm mang tính thụ động, chưa sáng tạo, chưa dám bày tỏ những suy nghĩ và đưa ra cách hiểu khác với các
bạn, khác với định hướng của giáo viên giảng dạy Đây chính là lý do mà tư duy phản biện của các em trở nên hạn chế
2.3 Khảo sát việc học truyện ngắn hiện đại Việt Nam giai đoạn 1930 –
1945 trong trường PT
2.3.1 Mục đích khảo sát
Thông qua việc khảo sát để hiểu rõ thực tế cảm thụ tiếp nhận truyện ngắn Việt Nam hiện đại giai đoạn 1930 - 1945; tình hình sử dụng phương tiện kỹ thuật hiện đại vào dạy học, nhu cầu của giáo viên và học sinh về việc đổi mới phương pháp dạy học mới để nâng cao chất lượng dạy học môn Ngữ văn nói chung và dạy truyện ngắn hiện đại Việt Nam nói riêng
2.3.2 Tư liệu khảo sát
- Khảo sát quá trình dạy học của GV và quá trình học tập của HS
Trang 11- Tìm hiểu các bài soạn của GV THPT về truyện ngắn hiện đại Việt Nam giai đoạn này
- Tổng hợp các tài liệu lí luận có liên quan
2.3.4 Quá trình khảo sát và kết quả khảo sát
a Khảo sát việc dạy của giáo viên thông qua dự giờ và hỏi bằng phiếu
Tôi tiến hành khảo sát các giáo viên và học sinh trực tiếp tham gia dạy - học truyện ngắn hiện đại Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 ở THPT Nguyễn Huệ cụ thể như sau:
+ 10 GV của trường THPT Nguyễn Huệ
+ 163 học sinh của trường THPT Nguyễn Huệ
Nội dung khảo sát
Để có cơ sở thực tiễn chắc chắn cho việc nghiên cứu đề tài, tôi đã tiến hành khảo sát bằng hình thức trực tiếp dự giờ, gặp gỡ và trao đổi với các giáo viên dạy học Ngữ văn lớp 11 và học sinh ở một số lớp thuộc các trường trung học phổ thông qua phỏng vấn và phiếu hỏi Hai mẫu phiếu hỏi dành cho hai đối tượng khảo sát như sau:
Trang 12Phiếu khảo sát dành cho Giáo viên
Số lượng: 10 giáo viên
Vấn đề
Mức độ Thường xuyên
Thỉnh thoảng
Không bao giờ
Trong quá trình dạy học chủ đề truyện ngắn
hiện đại Việt Nam các thầy (cô) có đổi mới
phương pháp không?
Trong quá trình giảng dạy, thầy (cô) có dạy sử
Dạy học truyện ngắn hiện đại có kết hợp với
phát triển tư duy phản biện không? 2 20 6 60 2 20
GV có thường xuyên giao nhiệm vụ cho HS
Nhiều Thỉnh
thoảng
Không bao giờ
SL % SL % SL % SL %
1 Trong quá trình học truyện
ngắn em có phải trả lời nhiều
câu hỏi nêu vấn đề không?
3 1,9 40 24,5 120 73,6 0 0
2 Trong tiết học truyện ngắn
Việt Nam hiện đại em có bao
Trang 13Qua việc khảo sát thực trạng dạy và học ở trường THPT cho thấy GV và
học HS nhận thức đúng đắn vai trò và ý nghĩa của việc dạy đổi mới PPDH trong
bộ môn Ngữ văn, đặc biệt trong dạy truyện ngắn hiện đại Việt Nam giai đoạn
1930 - 1945 Mặc dù vẫn còn gặp những khó khăn trong quá trình triển khai, việc rèn luyện kĩ năng, phát triển năng lực và tư duy phản biện của HS vẫn chưa được chú ý cao
Để việc đổi mới PPDH đạt hiệu quả cao, cần phải có sự đổi mới từ hình thức đến nội dung, phương pháp Đồng thời, bản thân GV và HS cũng phải có ý thức trách nhiệm trong việc trau dồi kiến thức, trình độ chuyên môn, đào sâu kiến thức,
áp dụng các phương pháp dạy học kĩ thuật hiện đại vào trong dạy học bộ môn Như vậy mới khơi dậy sự hứng thú, yêu thích của HS đối với môn Ngữ văn
Từ những lí do trên cho thấy, việc lựa chọn nội dung, hình thức, phương
pháp và kĩ thuật dạy học là rất quan trọng và việc lựa chọn dạy học Sử dụng câu hỏi nêu vấn đề khi giảng dạy truyện ngắn hiện đại Việt Nam giai đoạn 1930 -
1945 là con đường phù hợp để phát triển tư duy phản biện cho học sinh
Trang 14CHƯƠNG 2: SỬ DỤNG CÂU HỎI NÊU VẤN ĐỀ KHI DẠY TRUYỆN NGẮN HIỆN ĐẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1930 - 1945 NHẰM PHÁT
TRIỂN TƯ DUY PHẢN BIỆN CHO HỌC SINH 2.1 Xác định rõ nguyên tắc dạy học truyện ngắn hiện đại Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945:
2.1.1 Dạy học theo nguyên tắc tích hợp:
Tích hợp nghĩa là liên kết các môn học hữu quan thành một chỉnh thể thống nhất, chống lại sự phân tán rời rạc, nhằm tạo thành lực để hoạt động dạy học đạt hiệu quả cao nhất Tính chất tích hợp trong dạy học truyện ngắn qua khảo sát được thể hiện ở việc giáo viên tích hợp cả 3 phân môn trong quá trình hành thành cho học sinh năng lực phân tích, bình giá và cảm thụ văn học, hình thành các kĩ năng: nghe, nói, đọc, viết
2.1.2 Dạy học theo hướng tích cực:
Cùng với xu hướng đổi mới phương pháp dạy học nói chung, dạy học sử dụng câu hỏi NVĐ, giáo viên bước đầu đảm bảo được các nguyên tắc dạy học tích cực, đó là:lấy học sinh là trung tâm, luôn gắn liền lí thuyết với thực hành, phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của học sinh
2.1.3 Sử dụng phương tiện dạy học trong khi dạy truyện ngắn:
Sử dụng những video, hình ảnh về tác giả, tác phẩm Tuy nhiên đồ dùng dạy học chính vẫn là: Bảng phụ, giấy A0, bút dạ hiện đại hơn nữa là sử dụng máy chiếu
2.2 Sử dụng câu hỏi nêu vấn đề khi dạy truyện ngắn hiện đại việt nam giai đoạn 1930 – 1945 nhằm phát triển tư duy phản biện cho học sinh
2.2.1.Chuẩn bị
Về phía giáo viên :
Câu hỏi dạy học Ngữ văn theo tinh thần đổi mới phải là những câu hỏi khơi
dậy được khả năng tư duy của HS, kích thích tính tò mò và ham hiểu biết của các
em Bởi vì “tư duy của con người chỉ bắt đầu từ một vấn đề hay một câu hỏi, từ một sự ngạc nhiên hay sự thắc mắc, từ một sự mâu thuẫn” (Rubinstein) Chính vì vậy, GV chỉ có thể buộc HS phải tư duy khi mỗi câu hỏi mà HS đưa ra là một tình
Trang 15huống chứa đựng vấn đề Nhưng không phải bất cứ vấn đề nào trong tác phẩm cũng tự nhiên trở thành tình huống có vấn đề đối với HS Điều cốt yếu là GV biết nắm bắt được những tình huống có vấn đề từ tác phẩm, từ tầm đón nhận của HS theo dự kiến, đưa ra những câu hỏi để GV trả lời, thảo luận
Ở khâu chuẩn bị hệ thống câu hỏi, điều giáo viên phải quan tâm trước hết là hấp dẫn được HS, lôi cuốn HS Làm thế nào để kích thích, khơi nguồn sáng tạo cho các em
Người thầy phải làm sao từng bước dẫn dắt HS, khuyến khích mọi phát hiện, sáng tạo ở các em Và nhiều khi cùng một văn bản - tác phẩm nhưng ở lớp này cách đặt vấn đề, hệ thống câu hỏi… có thể có những nét khác so với những lớp khác
Cũng vậy, hình thức ngôn ngữ của câu hỏi rất quan trọng Câu hỏi có hấp dẫn không, có gây chú ý với HS không còn nhờ vào những từ và cụm từ nghi vấn
Về chức năng ngữ pháp, những từ, cụm từ như: tại sao, vì sao, như thế nào, do đâu, làm thế nào, bằng cách nào, sẽ ra sao… thích hợp để biểu đạt các câu hỏi trình độ cao, khó, phức tạp, có tính vấn đề gợi tư duy, nghiên cứu Những cụm từ nghi vấn này thường đặt HS vào những tình thế mở Tình thế ấy có tác dụng khích
lệ đa số học sinh Hình thức đó kết hợp với thái độ thân thiện, biểu cảm tất yếu sẽ
hấp dẫn HS "Câu hỏi có tính hấp dẫn không phải là những câu hỏi đơn đọc mà phải kết hợp đề dẫn, gợi mở, có tình huống hấp dẫn, nuôi dưỡng sức suy nghĩ, gợi sức tưởng tượng, gây nên hứng thú cho HS bằng ngôn ngữ văn chương giản dị, mạch lạc mà trong sáng, giàu hình ảnh, nhạc điệu với tất cả sự rung cảm chân thực của chính mình" Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Tài liệu bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình, SGK lớp 11, Trang 52, Nxb Giáo dục, Hà Nội
Hệ thống câu hỏi phải được xây dựng theo cấp độ từ thấp đến cao, từ dễ đến khó Câu hỏi sau trên cơ sở hiểu biết những câu hỏi trước Cứ thế các câu hỏi tạo thành những mắt xích nối tiếp nhau trong một hệ thống vấn đề Chính những mắt xích đó hỗ trợ cho nhau để đạt mục đích bài học Dĩ nhiên, xây dựng hệ thống câu hỏi cho bài học, người GV phải đảm bảo những yêu cầu sau
Trang 16Tính vừa sức, không quá dễ cũng không quá khó để HS có hứng thú tìm tòi nghiên cứu
Phải đảm bảo tính năng văn học: đi từ nghệ thuật đến nội dung
Hệ thống câu hỏi phải liền mạch, hoàn chỉnh, thống nhất giữa các câu và hợp lí với nhau
Phải mang tính giáo dục sư phạm
Thông thường khi dạy học văn, để dẫn dắt HS từng bước khám phá văn bản văn chương, người GV xây dựng một hệ thống câu hỏi đi từ biết, hiểu, vận dụng
Hệ thống câu hỏi trong một bài giảng phải có sự liên kết, kế thừa nhau nhằm phát triển nhận thức của HS một cách logic, phải để HS có sự chuẩn bị về tâm lí, về thời gian và phải làm cho nội dung phức tạp phát triển từ nội dung đơn giản
GV bao giờ cũng phải định ra được số lượng câu hỏi cần và đủ nhằm để thu thập thông tin về kiến thức về phương pháp, về kĩ năng học tập của HS theo mục tiêu và theo các yếu tố biến thiên đã đề ra Hệ thống câu hỏi có chất lượng cộng với những hiểu biết tâm lí HS sẽ giúp cho GV xây dựng được một hệ thống câu hỏi tốt để HS ghi nhớ bài nhanh hơn, lâu hơn Quá trình soạn giảng GV phải xây dựng được một hệ thống câu hỏi có thể dẫn dắt HS đi tới khám phá một cách đầy
đủ chính xác giá trị của tác phẩm
Về phía học sinh :
- Học sinh thu thập những tư liệu liên quan đến tác giả, tác phẩm để nghiên cứu vấn đề Đọc kỹ tác phẩm ở nhà, trên cơ sở đó suy nghĩ trước các câu hỏi trong SGK
2.2.2 Thực hiện
Ở phạm vi sáng kiến này, tôi chỉ xin đi vào trình bày cách sử dụng câu hỏi NVĐ cho HS dựa trên những đòi hỏi chính khi dạy học truyện ngắn Việt Nam hiện đại giai đoạn 1930-1945 với 3 tác phẩm cụ thể : “Chữ Người tử tù” của Nguyễn Tuân; “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam; “Chí Phèo” của Nam Cao
2.2.2.1 Câu hỏi phát hiện sự kiện và nhân vật
Những câu hỏi yêu cầu các em phát hiện (phát hiện chứ chưa phải là tái hiện)
sự kiện và nhân vật được GV đưa ra Thực tế, có thể có nhiều hình thức, từ dùng
Trang 17để hỏi nhau Song chủ yếu nhất vẫn là các kiểu: Hãy chỉ ra, hãy tìm xem, hãy xác định, có mấy… Tính chất mức độ câu hỏi này chỉ mới ở mức độ thấp, mức độ thông hiểu
Ví dụ:
Thứ nhất, dạy Chữ người tử tù của nhà văn Nguyễn Tuân, GV có thể nêu
những câu hỏi phát hiện như sau:
- Em hãy tìm tình huống độc đáo của truyện?
- Tài năng nổi bật của Huấn Cao?
Thứ hai, dạy Chí Phèo (Nam Cao), GV đặt câu hỏi:
● Em hãy cho biết từ lúc ra tù Chí Phèo đến nhà Bá Kiến mấy lần? Đó là những lần nào?
● Vừa xuất hiện, Chí Phèo đã chửi những đối tượng nào?
Thứ ba, dạy Hai đứa trẻ (Thạch Lam), GV hỏi:
● Cuộc sống của người dân nơi phố huyện nghèo được miêu tả ở mấy thời điểm?
● Phố huyện lúc chiều tàn dậy lên những âm thanh gì?
Đây là những câu hỏi chỉ có duy nhất một câu trả lời Bởi kiến thức câu hỏi
có được từ tác phẩm, rút ra từ điều tác giả viết
Thông qua cách trả lời của HS về các câu hỏi phát hiện, GV có thể nhận thấy:
HS không trả lời được vì chưa đọc, hay đọc không kĩ tác phẩm Câu hỏi đánh giá được phần nào ý thức tự giác tự học của các em GV có thể kịp thời uốn nắn Dĩ nhiên với loại câu hỏi có sẵn này, GV có thể chỉ định một học sinh nào đó trả lời sau vài giây nêu câu hỏi Đây được xem như là một phương thức kiểm tra tính tích cực, chủ động ở các em
Tuy nhiên, với loại câu hỏi không cần tư duy, thậm chí chưa cần năng lực khái quát này GV vẫn có thể giúp học sinh có một thói quen, một sự tự tin đứng
trước tập thể; sửa cách diễn đạt câu chữ, cách dùng từ ngữ cho các em; đặc biệt
là thúc đẩy tư duy phản biện hình thành ở mức nhận dạng Cụ thể, sau khi có
bạn trong lớp nêu rõ tình huống truyện độc đáo trong “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân là cuộc gặp gỡ kỳ lạ giữa Huấn Cao – Quản ngục; GV tiếp tục đặt
Trang 18vấn đề : Vậy tình huống truyện là gì? Lúc này, mỗi HS có phản biện không giống nhau:
● Một là, tình huống truyện là một lát cắt của cuộc sống và từ lát cắt ấy giúp độc giả hiểu rõ hơn về toàn bộ đời sống
● Hai là, tình huống truyện là một thứ nước rửa ảnh làm nổi hình, nổi sắc nhân vật
● Ba là, tình huống truyện là cái hoàn cảnh riêng được tạo nên bởi một sự kiện đặc biệt trong truyện, khiến tại đó cuộc sống hiện lên đậm đặc nhất và ý đồ,
tư tưởng của tác giả cũng bộc lộ sắc nét
● …
Từ những phản biện này, các em có cái nhìn đa chiều hơn trước một vấn đề; mạnh dạn bộc lộ hiểu biết cá nhân trước tập thể; tạo nên sự tự tin
2.2.2.2 Câu hỏi yêu cầu tái hiện sự kiện, nhân vật
Câu hỏi yêu cầu năng lực tóm tắt, năng lực ghi nhớ, năng lực hệ thống, thậm chí huy động những kiến thức cơ bản trong cùng một hệ thống mà các em đã được tiếp nhận trước đó ở trường, hoặc đọc thêm ở nhà
Ví dụ:
Thứ nhất, dạy Chí Phèo, GV có thể đưa ra những câu hỏi sau:
- Em hãy tóm tắt những sự kiện cơ bản trong tác phẩm?
- Diễn biến tâm lí của Chí Phèo khi bị Thị Nở từ chối được nhà văn miêu tả
ra sao?
- Trong cuộc đời Chí, giai đoạn nào gợi cho em ấn tượng mạnh nhất?
Thứ hai, dạy “Chữ người tử tù” (Nguyễn Tuân), GV hỏi:
● Từ khi tiếp quản Huấn Cao – tử tù nguy hiểm của triều đình, thái độ và hành động của quản ngục như thế nào?
● Trước sự chu đáo và ân cần của ngục quan, thái độ của Huấn Cao là gì ? Thứ ba, dạy “Hai đứa trẻ” (Thạch Lam), GV yêu cầu:
● Cảnh phố huyện đêm tối được Thạch Lam miêu tả thế nào?
● Tâm trạng của Liên khi đoàn tàu rời phố huyện ?
Trang 19Cũng dựa trên năng lực phát hiện song ở mức cao hơn, HS phải ghi nhớ một cách hệ thống, khái quát chứ không phải rời rạc, tản mạn như ở câu hỏi phát hiện Câu hỏi tái hiện đưa ra, GV vừa kiểm tra được kiến thức các em có, mặt khác
có thể tích hợp những kiến thức các em đã được học ở cấp dưới, tạo thành một mảng kiến thức xuyên suốt các cấp học (đặc biệt, một nhà văn ở cấp hai cũng học, cấp ba cũng học chỉ khác tác phẩm)
Bởi thế, giúp các em hệ thống lại kiến thức đã học trước khi tiếp thu kiến thức mới; tạo điều kiện thuận lợi cho GV đào sâu kiến thức cho HS; bản thân các
em cũng bớt bỡ ngỡ về tác giả này hay tác giả kia; tư duy phản biện phát triển – hiểu rõ sự gắn kết logic giữa các quan điểm Cụ thể, khi GV dạy “Chí Phèo” hỏi Trong cuộc đời Chí, giai đoạn nào gợi cho em ấn tượng mạnh nhất? Chắc chắn,
trong lớp mỗi học sinh có những ấn tượng với Chí Phèo ở mỗi giai đoạn khác nhau:
- Có học sinh cho rằng : Em ấn tượng với nhân vật ở giai đoạn làm tá điền cho nhà Bá Kiến …giúp em hiểu rõ Chí xuất phát là một con người lương thiện; căm ghét mụ ba và bản chất xấu xa của giai cấp thống trị
- Học sinh khác lại nêu: Em ấn tượng với Chí Phèo ở giai đoạn sau khi đi tù về…Chí tha hóa, có cuộc gặp gỡ định mệnh với Thị Nở, dám đứng lên chống lại
kẻ thù
Lúc này tư duy phản biện được đẩy lên một nấc mới là HS dùng lập luận để chứng minh ý kiến của bản thân là đúng đắn, hợp lý; thuyết phục người nghe; từ
đó các em càng trở nên bản lĩnh
2.2.2.3 Câu hỏi phân tích sự kiện và nhân vật
Khi dạy văn bản Hai đứa trẻ của Thạch Lam, GV có thể hỏi HS:
- Phố huyện buổi chiều tàn có nhịp sống như thế nào?
- Tại sao Thạch Lam lại chọn cảnh chợ tàn để miêu tả cuộc sống nơi phố huyện?
Khi dạy Chí Phèo của Nam Cao , GV có thể phát vấn:
● Vì sao Nam Cao lại chọn kết cấu đầu cuối tương ứng khi viết tác phẩm?
Trang 20● Khi nhận bát cháo hành từ tay Thị Nở cảm xúc của Chí Phèo như thế nào?Vì sao nhân vật lại có những cảm xúc đó?
Đến với Chữ người tử tù (Nguyễn Tuân), GV hỏi:
● Tại sao Nguyễn Tuân lại gọi cảnh cho chữ lại là cảnh tượng xưa nay chưa từng có?
● Vì sao khi Huấn Cao lại cho chữ quản ngục?
Loại câu hỏi phân tích giúp HS phát hiện được khả năng tư duy lập luận; dồn
các em từ chỗ chưa biết đến muốn biết và làm sáng tỏ vấn đề; nhờ thế tư duy phản biện trở nên nhanh nhạy hơn xem xét cách lập luận và sự đúng đắn trong quan điểm và niềm tin của người khác Chẳng hạn, khi dạy “Hai đứa trẻ”, GV hỏi Tại sao Thạch Lam lại chọn cảnh chợ tàn để miêu tả cuộc sống nơi phố huyện?
HS cũng có những hướng giải quyết nhất định:
● Có em suy luận : vì chợ là nơi diễn ra hoạt động trao đổi hàng hóa, dịch vụ; chợ là hình ảnh phản chiếu của cuộc sống con người nơi ấy Chợ tàn, tiêu điều phản ánh sự nghèo khổ, buồn chán của người dân phố huyện
● Có HS khẳng định: chợ tàn được bao bọc bởi không gian ngày tàn nên càng hiu hắt, gieo vào lòng độc giả những cảm xúc khó phai
● …
Học sinh nào cũng có những lý giải, phản biện phù hợp với chức năng của Văn học; chuẩn mực đạo đức …khiến bài học trở nên sinh động, ghi dấu ấn đậm nét trong tâm hồn các em, hình thành tình cảm chân thành với kiếp người đau khổ 2.2.2.4 Câu hỏi khám phá hình tượng người trần thuật
Người trần thuật dù đứng trên cương vị nào, ở ngôi thứ ba hay thứ nhất đều
có vai trò dẫn dắt cốt truyện Tuy vậy, hình tượng người trần thuật không cụ thể sinh động như nhân vật Thường người trần thuật đứng ở góc khuất nào đó
để quan sát đối tượng, để thể hiện quan điểm cụ thể; có khi nương tựa vào cái nhìn của nhân vật khác trong khi ngôn ngữ là của mình
Ví dụ ở tác phẩm Chí Phèo, GV có thể đặt những câu hỏi sau:
- Em hãy xác định ngôi kể và điểm nhìn ở đoạn văn miêu tả Chí Phèo vừa đi vừa chửi ở đầu tác phẩm?
Trang 21- Người trần thuật giấu mình, chọn ngôi thứ ba để kể có ý nghĩa gì?
Trả lời các câu hỏi trên, HS không chỉ hiểu được vai trò người trần thuật trong thể loại truyện ngắn mà quan trọng hơn các em còn ý thức được sự hiện diện của nhân vật trong từng tác phẩm, thậm chí từng thời kì đậm nhạt khác nhau Quá trình so sánh sự hiện diện của người trần thuật trong tác phẩm sẽ giúp cho các em thấy ở truyện hiện đại dường như càng lúc càng in đậm dấu ấn tác giả ( Nhà văn muốn mình là một nhân tố tham gia, một khách thể không hiểu hết) Điều này tạo nên mạch tự nhiên, độ tin cậy cao cho cốt truyện Kể chuyện ở ngôi thứ nhất vì
thế mà rút ngắn được khoảng cách giữa người đọc và tác phẩm Từ đó, tư duy phản biện của HS trở lên sắc sảo hơn, phát triển và đánh giá lập luận, các em
ý thức được rằng trong thể loại truyện ngắn vai trò của người kể truyện là vô cùng quan trọng; bên cạnh cốt truyện hay, bút pháp linh hoạt thì người kể chuyện sẽ quyết định sự thành bại của tác phẩm Qua đây, Hs sẽ hình thành sự chủ động chiếm lĩnh tri thức
2.2.2.5 Câu hỏi khám phá không gian, thời gian trần thuật
Ở một số tác phẩm, khi dạy đọc hiểu GV không thể không hỏi về không gian thời gian trần thuật
Trong Chữ người tử tù, Nguyễn Tuân chủ yếu xây dựng truyện trên nền không gian tối om, quạnh quẽ, tối mịt, thăm thẳm nội cỏ đẫm sương vẳng từ làng xa đưa lại mấy tiếng chó cắn ma Ở đây, bóng tối nhiều hơn ánh sáng Đó là
không gian Nguyễn Tuân gửi gắm quan điểm nghệ thuật, quan điểm về cái đẹp,
về một cảnh tượng xưa nay chưa từng có: cảnh cho chữ Thời gian trần thuật cũng nhuốm vẻ ảm đạm, thê lương Và GV có thể gợi mở:
● Cảnh cho chữ được miêu tả ra sao (Không gian, thời gian, con người)? Khi dạy Hai đứa trẻ, GV hỏi:
- Câu chuyện trong Hai đứa trẻ diễn ra ở khoảng thời gian nào?
- Nhịp điệu trần thuật ở “Tinh thần thể dục” (Nguyễn Công Hoan) so với
“Hai đứa trẻ” (Thạch Lam) thế nào?
Đến với “Chí Phèo”, GV nêu vấn đề:
● Câu chuyện trong “Chí Phèo” diễn ra ở đâu, thời gian nào?
Trang 22● Nhịp điệu trần thuật ở “Chí Phèo” so với “Lão Hạc” thế nào?
Còn HS, chính quá trình so sánh các em sẽ khắc sâu kiến thức, thêm một lần
định hình được phong cách nhà văn; tư duy phản biện được đẩy lên ở một mức mới, biết cách củng cố lập luận, nâng cao hiệu quả xử lý và giải quyết vấn đề; hình thành năng lực nhìn nhận sự vật hiện tượng toàn diện hơn khi có sự đối sánh
2.2.2.6 Câu hỏi yêu cầu bám sát văn bản
Bên cạnh dạng câu hỏi trên, GV cũng nên đưa ra những câu hỏi bám sát văn bản như sau:
Ví dụ:
Thứ nhất, lúc tiếp cận “Chí Phèo”:
- Tiếng chửi đầu truyện của Chí Phèo cho em thấy điều gì?
- Tác phẩm này nói lên vấn đề gì?
Thứ hai, khi dạy “Hai đứa trẻ”:
● Hình ảnh ánh sáng, bóng đêm nơi phố huyện nghèo hiện lên như thế nào?
● Hình ảnh đoàn tàu mang ý nghĩa gì?
Thứ ba, đến với “Chữ người tử tù” :
● Khi cho chữ, Huấn Cao hiện lên với tư thế ra sao?
● Giá trị tư tưởng Nguyễn Tuân gửi gắm trong cảnh cho chữ?
Loại câu hỏi này mức độ cao hơn nhận biết thông tin nhưng là mức độ thấp nhất của việc thấu hiểu sự vật hiện tượng liên quan đến bản thân văn bản Tuy nhiên loại câu hỏi này đã bước đầu yêu cầu được các em đứng từ thông tin văn bản chuyển sang bằng ngôn ngữ cá nhân mình và bước đầu giải thích khái quát
được thông tin, tư duy phản biện sáng lên nhờ khả năng suy nghĩ độc lập
2.2.2.7 Câu hỏi tưởng tượng sáng tạo
Tưởng tượng sáng tạo sẽ làm cho tác phẩm trở thành một nguồn giá trị vô tận mà theo thời gian từng lớp học trò lại có những kiến giải mới mẻ và thú vị Dạy “Chí Phèo”:
- Nếu em là nhà văn Nam Cao, em có để cho Chí Phèo chết không?
- Tưởng tượng xem nếu không có Thị Nở, cuộc đời Chí Phèo ra sao?
Trang 23- Em có thể đặt nhan đề khác thay thế cho nhan đề truyện ngắn Chí Phèo?
Tìm hiểu “Chữ người tử tù”:
● Tưởng tượng nếu Huấn Cao không phải là phạm nhân nguy hiểm của triều đình và Quản ngục không phải là quan triều đình thì sự gặp gỡ của họ sẽ tạo ra mối quan hệ như thế nào? Họ có thể là bạn thân không?
● Em có cách đặt nhan đề khác cho tác phẩm không?
Tiếp cận “Hai đứa trẻ”:
● Giả sử em là Thạch Lam, em có thay đổi kết truyện không?
● Nếu em là một trong những đứa trẻ con ven chợ nhà nghèo ở tác phẩm thì
em có nhặt nhạnh những thanh nứa, thanh tre hay bất cứ cái gì có thể dùng được
mà người bán hàng để lại không?
Qua dạng câu hỏi NVĐ này, tư duy phản biện của HS được dịp phát huy khi nhận diện sự liên quan và tầm quan trọng của các ý tưởng, có khả năng suy luận
ra những hệ quả từ những gì các em biết và sử dụng thông tin để giải quyết vấn
đề
2.2.2.8 Câu hỏi yêu cầu cảm nhận
Câu hỏi cảm nhận xoáy vào những ấn tượng chủ quan của người viết về những điểm sáng thẩm mĩ trong văn bản văn chương Ấn tượng các em về tác phẩm càng sâu đậm, ám ảnh bao nhiêu thì càng cảm nhận xúc động, sâu sắc bấy nhiêu
- Ấn tượng của em khi đọc xong truyện ngắn Chí Phèo?
- Cách Nam Cao gọi tên nhân vật gợi cho em cảm giác gì?
Loại câu hỏi này đánh vào tâm lí của các em và đòi hỏi ở các em một tình cảm nhất định trước số phận nhân vật hay xung đột xã hội Đó có thể là những xúc cảm vui buồn, đau khổ yêu thích, căm ghét, sợ hãi…
Cảm nhận sâu thường xuất phát từ những tình cảm sâu sắc ở giai đoạn phân tích cắt nghĩa tác phẩm Thông qua các câu hỏi, HS có thể trình bày những suy nghĩ, cảm xúc, những nhận xét đánh giá của mình về cái hay, cái đẹp của tác phẩm
Trang 24- Trình bày những suy nghĩ của em về hành động nhân vật Chí Phèo khi bị
Lý Cường quát tháo?
- Em có nhận xét gì về cách vào truyện của tác giả Nam Cao?
Và ở một góc độ cao hơn của cảm nhận chính là những quan điểm đánh giá
và bình luận
Lúc này tư duy phản biện thúc đẩy học sinh thả lỏng cơ thể, tâm hồn tĩnh lại
và thả hồn vào số phận của các nhân vật để cảm nhận và có trong mình thế giới nghệ thuật riêng Đây cũng chính là sức mạnh to lớn của tác phẩm văn chương
“Đi từ trái tim đến với trái tim” (Beelinxky)
2.2.2.9 Câu hỏi yêu cầu bình luận và đánh giá
Những câu hỏi bình luận và đánh giá được GV đưa ra nhằm kiểm tra khả năng đóng góp ý kiến, sự phán đoán của HS trong việc nhận định, đánh giá các ý tưởng, sự kiện, nhân vật dựa trên các tiêu chí đã đưa ra
- Nhân vật Chí Phèo hành động như vậy là đúng hay sai(đâm chết Bá Kiến?
- Cách nhà văn Nam Cao giả quyết vấn đề như vậy em thấy hợp lí không?
- Nghệ thuật sử dụng ngôn từ của Nam Cao có nét gì đặc sắc?
- Nhiều ý kiến đánh giá khác nhau về nhân vật Chí Phèo, em thì sao?
Những câu hỏi đánh giá có tác dụng thúc đẩy HS tìm tòi tri thức, xác định giá trị về tác phẩm GV có thể trực tiếp đưa ra đáp án, tiêu chí đánh giá và đặt câu hỏi yêu cầu học sinh đánh giá Và, không chỉ nhận xét, đánh giá, câu hỏi còn phải hướng đến niềm hứng thú được “nói”, được bàn bạc của HS Đó có thể là câu hỏi yêu cầu bàn về thái độ, hành động nhân vật, cách giải quyết vấn đề của nhà văn, bàn vè mối liên hệ thời đại, hoàn cảnh, tâm lí với ý nghĩa lớn lao mà từ vấn đề có thể gợi ra
Câu hỏi đặt ra phù hợp với phương pháp mới là câu hỏi hướng về phát huy khả năng tư duy sáng tạo của HS: câu hỏi yêu cầu bám sát văn bản, câu hỏi khêu gợi tưởng tượng và cảm nhận, câu hỏi yêu cầu bình luận và đánh giá Tùy theo nội dung từng văn bản truyện kí cụ thể mà có những câu hỏi phù hợp
Trang 25Đây chính là lúc tư duy phản biện trỗi dậy mạnh mẽ vì người học đang hiểu
rõ mình là ai, cần phải làm gì, tiếp cận các vấn đề như thế nào? Phẩm chất tự trọng
và đặt niềm tin vào năng lực bản thân mãnh liệt hơn bao giờ hết
III HIỆU QUẢ DO SÁNG KIẾN ĐEM LẠI
1 Mục đích, nhiệm vụ thực nghiệm
Quá trình thực nghiệm nhằm đánh giá tính khả thi, tính hiệu quả khi thực hiện đề tài Kết quả thu được từ thực nghiệm sư phạm sẽ là cơ sở chứng minh tính khoa học, tính đúng đắn, tính khả thi của các giải pháp mà đề tài đề xuất Từ đó đánh giá hiệu quả của đổi mới PPDH và hiệu quả sử dụng câu hỏi NVĐ khi giảng dạy truyện ngắn hiện đại Việt Nam giai đoạn 1930-1945 ở trường PT
2 Đối tượng, địa bàn và thời gian thực nghiệm
a) Đối tượng, địa bàn: Đối tượng để chọn thực nghiệm là HS lớp 11A6
THPT Nguyễn Huệ , 100% HS có học lực từ trung bình trở lên Lớp thực nghiệm
đã sử dụng quy trình thực hiện như đã đề xuất ở chương 2
b) Thời gian thực nghiệm
Chúng tôi đã tiến hành dạy thực nghiệm cho học sinh lớp 11 chủ đề “Truyện hiện đại” theo giáo án đã thiết kế trong năm học 2021 – 2022, theo phân phối CT
môn Ngữ văn
3 Nội dung thực nghiệm
Sử dụng câu hỏi nêu vấn đề khi dạy truyện ngắn Việt Nam hiện đại giai đoạn 1930-1945 theo giáo án đã thiết kế So sánh với kết quả của việc dạy học theo giáo án bình thường
4 Phương pháp
Phương pháp thực nghiệm được sử dụng ở đây chủ yếu là phương pháp dạy học sử dụng câu hỏi NVĐ
5 Giáo án thực nghiệm (Phụ lục 1)
Trang 266 Đánh giá kết quả nghiên cứu và lợi ích thu được do áp dụng sáng kiến 6.1 Kết quả
SẢN PHẨM NHÓM 1: Khái niệm và đặc điểm của truyện ngắn
*Khái niệm:Truyện ngắn là một thể loại văn học Nó thường là các câu chuyện kể bằng văn xuôi và có xu hướng ngắn gọn, súc tích và hàm nghĩa hơn các câu truyện dài như tiểu thuyết
*Đặc điểm:
- Truyện ngắn là một giới hạn về thế giới nghệ thuật
- Truyện ngắn có thời gian và không gian của câu chuyện phụ thuộc vào người kể, môi trường, hoàn cảnh câu chuyện
Trang 27- Truyện ngắn miêu tả nhân vật ở những khía cạnh nổi bật nhất
- Truyện ngắn thường ít nhân vật, ít sự kiện phức tạp
- Truyện ngắn được tạo dựng từ những chi tiết hết sức hấp dẫn, sinh động
- Truyện ngắn thường có kết cấu bất ngờ đột biến, hoặc tương phản, hoặc liên tưởng
SẢN PHẨM NHÓM 2: Kiến thức cơ bản về tác giả Nguyễn Tuân và tác
- Năm 1929, khi đang học Thành Chung Nam Định ông bị đuổi học
- Sau đó, ông bị đi tù vì sang biên giới Thái Lan không có giấy phép
- Sau khi ra tù, ông bắt đầu sự nghiệp văn chương
- Năm 1945, ông nhiệt tình tham gia cách mạng và kháng chiến
- Năm 1948 – 1957, ông là Tổng thư ký Hội nhà văn Việt Nam
- Các tác phẩm tiêu biểu của ông gồm: Vang bóng một thời, Cảnh sắc và hương vị đất nước, Tùy bút Sông Đà, Ngọn đèn dầu lạc,
- Nguyễn Tuân có một phong cách nghệ thuật rất độc đáo và sâu sắc: + Trước Cách mạng tháng Tám, phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân có thể thâu tóm trong một chữ "ngông": mỗi trang viết của ông đều muốn chứng tỏ tài hoa, uyên bác Và mọi sự vật được miêu tả ở phương diện thẩm mỹ Ông đi
tìm cái đẹp của thời xưa còn vương sót lại gọi là vang bóng một thời
+ Sau Cách mạng tháng Tám, cái đẹp có ở cả quá khứ, hiện tại và tương lai; tài hoa có ở cá nhân đại chúng
+ Nguyễn Tuân theo chủ nghĩa xê dịch Vì thế ông là nhà văn của những tính cách phi thường, của những tình cảm, cảm giác mãnh liệt, và những phong cảnh tuyệt mĩ
Trang 28- Khi in trên tạp chí Tao đàn có tên Dòng chữ cuối cùng: dồn sức nặng
vào hai chữ cuối cùng, gợi đến sự kết thúc, sự ám ảnh nặng nề về cái chết của nhân vật
- Đây không phải chủ đề, tư tưởng mà nhà văn muốn truyền tải (Không phù hợp)
- Khi in thành sách trong tập truyện Vang bóng một thời chính tác giả là người đổi tên thành Chữ người tử tù:
+ Chữ là hiện thân của cái đẹp, cái tài sáng tạo ra cái đẹp, cần được tôn
vinh, ngợi ca
+ Người tử tù là đại diện của cái xấu, cái ác, cần loại bỏ khỏi xã hội
Trong nhan đề đứa đựng sự mâu thuẫn, gợi ra tình huống éo le, ngang trái xuyên suốt tác phẩm, khơi gợi sự tò mò của người đọc
⇒ Thể hiện chủ đề tư tưởng của tác phẩm: tôn vinh cái đẹp, cái tài, khẳng định sự bất tử của cái đẹp trong cuộc đời
c Bố cục: 3 phần
Trang 29- Phần 1 (Từ đầu đến …để mai ta dò ý tứ hắn ra sao rồi sẽ liệu): Cuộc trò
truyện giữa viên quản ngục và thầy thơ lại
- Phần 2 (Tiếp theo đến …thiếu một chút nữa ta đã phụ mất một tấm lòng
trong thiên hạ): Tấm lòng biệt đãi của viên quản ngục
- Phần 3 (Còn lại): Cảnh cho chữ
d Giá trị nội dung: Nguyễn Tuân đã khắc họa thành công hình tượng Huấn
Cao – một con người tài hoa, có cái tâm trong sáng và khí phách hiên ngang bất
khuất Qua đó nhà văn thể hiện quan niệm về cái đẹp, khẳng định sự bất tử của
cái đẹp và bộc lộ thầm kín tấm lòng yêu nước
e Giá trị nghệ thuật: Tình huống truyện độc đáo; nghệ thuật dựng cảnh,
khắc họa tính cách nhân vật, tạo không khí cổ kính, trang trọng; trong việc sử
dụng thủ pháp đối lập và ngôn ngữ giàu tính tạo hình
SẢN PHẨM NHÓM 3: Tìm hiểu chi tiết tác phẩm: nhân vật Huấn Cao
*Huấn Cao - người nghệ sĩ tài ba
- Huấn Cao là nghệ sĩ trong nghệ thuật thư pháp
- Tài năng của ông đã được nói tới một cách kính nể qua cuộc nói chuyện
giữa quản ngục và thơ lại:
+ Người khắp vùng tỉnh Sơn khen Huấn Cao là người có tài viết chữ “rất
nhanh và rất đẹp”
+ “Chữ ông Huấn Cao đẹp lắm, vuông lắm… có được chữ ông Huấn Cao
mà treo là có một báu vật trên đời"
Trang 30- Sự tài hoa thể hiện trong cảnh cho chữ: “một người tù cổ đeo gông, chân vướng xiềng đang dậm tô nét chữ”
⇒ Huấn Cao thực sự đã trở thành một người nghệ sĩ trong nghệ thuật thư pháp
*Huấn Cao – con người của khí phách hiên ngang, bất khuất
- Huấn Cao là thủ lĩnh của phong trào khởi nghĩa chống lại triều đình, chí lớn không thành, bị tống giam vào ngục chờ xử tử nhưng khí chất của ông, tư thế nhìn đời của ông luôn bất khuất, hiên ngang, không chút run sợ
- Khí phách hiên ngang ấy thể hiện rõ trong cuộc nói chuyện với quản ngục: + “dọc ngang nào biết trên đầu có ai”
+ coi nhà tù thực dân như chốn không người, “ra tay tháo cũi sổ lồng như chơi”, có tài bẻ khóa vượt ngục
+ “văn võ kiêm toàn”
⇒ Lí tưởng sống cao đẹp, dám chống lại triều đình mà ông căm ghét, khinh
bỉ để cứu lấy nhân dân thoát khỏi những áp bức, bất công vô lý
- Ngay khi đặt chân vào nhà ngục: Thản nhiên rũ rệp trên thanh gông
⇒ Khí phách, tiết tháo của nhà Nho
- Khí phách thể hiện qua thái độ thán phục của quản ngục và thầy thơ lại
- Khí phách thể hiện qua thái độ của bọn lính: kiêng nể “tên này nguy hiểm
và ngạo ngược nhất trong bọn”
- Khi được viên quản ngục biệt đãi: “Thản nhiên nhận rượu thịt” như “việc vẫn làm trong cái hứng bình sinh”
⇒ Phong thái tự do, ung dung, xem nhẹ cái chết
- Trả lời quản ngục bằng thái độ khinh miệt: “Ngươi hỏi ta muốn gì vào đây”
⇒ Không khuất phục trước cường quyền
⇒ Khí phách của một người anh hùng
*Huấn Cao – người mang thiên lương trong sáng, nhân cách cao đẹp
Trang 31- Tâm hồn trong sáng, cao đẹp: “Không vì vàng ngọc hay quyền thế mà ép mình viết câu đối bao giờ” ⇒ Trọng nghĩa, khinh lợi, chỉ cho chữ những người tri kỉ
- Khi chưa biết tấm lòng của quản ngục: xem y là kẻ tiểu nhân
- Khi biết tấm lòng "biệt nhỡn liên tài” của quản ngục: Huấn Cao nhận lời cho chữ
⇒ Chỉ cho chữ những người biết trân trọng cái tài và quý cái đẹp
- Câu nói của Huấn Cao với quản ngục: “Thiếu chút nữa trong thiên hạ”
⇒ Sự trân trọng đối với những người có sở thích thanh cao, có nhân cách cao đẹp
⇒ Huấn Cao là một anh hùng - nghệ sĩ, một thiên lương trong sáng
Sự thống nhất của tài hoa, khí phách, thiên lương làm nên cảnh cho chữ - “cảnh tượng xưa nay chưa từng có”
- Hình tượng Huấn Cao đang “dậm tô nét chữ” trên “tấm lụa trắng còn nguyên vẹn lần hồ” trong hoàn cảnh “cổ đeo gông, chân vướng xiềng” ở nơi tù ngục tối tăm ⇒ kết tinh cho tài hoa, khí phách, thiên lương
- Thành biểu tượng cho sự chiến thắng của ánh sáng đối với bóng tối, của cái đẹp cái cao cả đối với cái phàm tục, dơ bẩn
*Nghệ thuật xây dựng hình tượng nhân vật Huấn Cao
- Đặt nhân vật trong tình huống truyện độc đáo: cuộc gặp gỡ giữa Huấn Cao với quản ngục và thơ lại Đó là cuộc gặp gỡ giữa tử tù với quan coi ngục, những con người khác xa nhau về hoàn cảnh, giai cấp nhưng đó lại là cuộc gặp gỡ định mệnh của những kẻ liên tài
- Nghệ thuật tương phản đối lập: giữa ánh sáng và bóng tối, giữa cái đẹp, cái cao cả và phàm tục, dơ bẩn Đặc biệt ở cảnh cho chữ
- Ngôn ngữ miêu tả nhân vật giàu chất tạo hình: sử dụng nhiều từ Hán – Việt, lời ăn tiếng nói mang khẩu khí của người xưa làm tăng thêm không
Trang 32khí, vẻ đẹp của một thời vang bóng đã xa xưa.
SẢN PHẨM NHÓM 4: Tìm hiểu chi tiết tác phẩm: Nhân vật Quản ngục
và thầy thơ lại
* Tấm lòng biệt nhỡn liên tài
Trang 33- Nói về kẻ tử tù với một thái độ kính trọng không che giấu “Tôi nghe rất đẹp đó không?”
- Trong những ngày Huấn Cao trong ngục, quản ngục luôn bày tỏ thái độ nghiêm kính khiêm nhường
- Dũng cảm biệt đãi Huấn Cao trong những ngày cuối cùng ngay cả khi bị
HC coi thường, khinh bỉ:
+ Mong muốn: “Ta muốn biệt đãi ông Huấn Cao, ta muốn cho ông ta đỡ cực trong những ngày cuối cùng còn lại”
+ Sai người đem rượu và đồ nhắm đến cho Huấn Cao vì sợ trong buồng giam lạnh
+ Khép nép bày tỏ: Biết ngài là một người có nghĩa khí, tôi muốn châm chước ít nhiều
+ Sau sự tức giận của Huấn Cao, quản ngục vẫn giữ sự đối đãi như thế
- Cảm thấy tiếc nuối khi biết Huấn Cao sắp phải từ giữ cõi đời: “Bấy nhiêu vũ trụ”
⇒ Thái độ và hành động của Quản ngục cho thấy đây là con người có tấm lòng biêt nhỡn liên tài, có thiên lương
*Sự khát khao và trân trọng cái đẹp
- Quản ngục trước kia là người đèn sách bồi đắp “thiên lương” nảy nở tốt đẹp ⇒ ông ta yêu đến say mê cái đẹp
- Khát khao cái đẹp: mong ước của ông là “được treo ở nhà riêng một đôi câu đối” do chính tay Huấn Cao viết
-Sự khát khao và niềm trân trọng cái đẹp trong quản ngục mãnh liệt, ông
có thể bất chấp cả tính mạng và địa vị, mong sao có được mấy chữ của ông Huấn
- Biết tính ông Huấn “vốn khoảnh, trừ chỗ tri kỉ, ông ít chịu cho chữ” ⇒ lo lắng nếu như không xin được chữ ông Huấn trước khi bị hành hình thì “ân hận suốt đời mất”
⇒ Chỉ có một người trân trọng cái đẹp đến tột cùng mới có những lo sợ khi không xin được chữ Huấn Cao như vậy thôi
Trang 34⇒ Sở nguyện cao quý cho thấy quản ngục là con người biết quý trọng nâng niu cái đẹp
*Tấm lòng biệt nhỡn liên tài và niềm khát khao cái đẹp được kết tinh trong cảnh cho chữ, càng khẳng định quản ngục là “một thanh âm trong trẻo”
- Cảnh cho chữ diễn ra giữa một buồng giam tối tăm và chật hẹp nhưng tất
cả trở nên đẹp đẽ thanh cao bởi “tấm lụa trắng còn nguyên vẹn lần hồ” cùng hai người trao cái đẹp và trân trọng, ngưỡng vọng cái đẹp
- Sự “khúm núm, run run” của quản ngục không phải là biểu hiện của sự hèn nhát mà là thái độ ngưỡng vọng trước cái đẹp, cái tài
- Quản ngục đã thoát khỏi vai trò của một người cai quản để trở thành một người trân trọng ngưỡng mộ cái đẹp ⇒ Đồng điệu với Huấn cao
- Chi tiết quản ngục cúi đầu vái lạy người tử tù Huấn Cao với giọt nước mắt rỉ vào kẽ miệng mà nhận mình là kẻ mê muội như một sự thức tỉnh trước cái đẹp, quản ngục đã thoát ra những cái tầm thường, ràng buộc để vươn tới cái cao đẹp
* Nghệ thuật xây dựng nhân vật
- Thủ pháp tương phản đối lập
- Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật tinh tế
- Đặt nhân vật vào tình huống giàu kịch tính
Trang 356.2 Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh
Điểm khá (7 - 8đ)
Điểm
TB (5 - 6đ)
Điểm yếu (<5)
Điểm giỏi (9 - 10đ)
Điểm khá (7 - 8đ)
Điểm
TB (5 - 6đ)
Điểm yếu (<5)
11A1 Số
lượng
% 100 0 34,1 61,4 4,5 6,8 65,9 27,3 0 11A6 Số
Bảng so sánh Kết quả kiểm tra mức độ nhận thức của HS
trước và sau thực nghiệm
Qua bảng so sánh kết quả và biểu đồ đối chiếu kết quả kiểm tra ở 2 lớp trước thực nghiệm và sau khi dạy thực nghiệm đã cho chúng tôi thấy sự khác biệt giữa kết quả học tập trước và sau khi thực nghiệm Mức độ đạt được kiến thức ở 2 thời điểm chênh lệch nhau rõ ràng Trước khi thực nghiệm, tỉ lệ HS đạt điểm khá và giỏi chiếm 44.8 %; trong khi đó, ở thời điểm sau khi thực nghiệm tỉ lệ HS điểm khá và giỏi chiếm 63.7%, hơn 18.9 % so với thời điểm trước khi thực nghiệm Điểm yếu ở lớp trước khi thực nghiệm chiếm 2,9 % và sau khi thực nghiệm đã
Trang 36không còn HS yếu Như vậy, với kết quả đó có thể khẳng định “Sử dụng câu hỏi NVĐ khi giảng dạy truyện ngắn hiện đại Việt Nam giai đoạn 1930-1945 nhằm phát triển tư duy phản biện cho học sinh” đã đem lại hiệu quả và có tính khả thi
6.3 Nhận xét của giáo viên
a Ưu điểm:
-Bài thuyết trình của các nhóm có nội dung khá rõ ràng, làm rõ được những nội dung kiến thức cơ bản cần đạt được về những chủ đề được phân công
- Ưu điểm của bài là đã biết sử dụng một số phần mềm ứng dụng cơ bản phục
vụ học tập để làm cho bài thuyết trình thêm sinh động Hi vọng, nhóm sẽ tiếp tục phát huy ưu điểm này để việc học tập đạt hiệu quả cao hơn
- Qua quan sát quá trình làm việc, các nhóm tỏ ra có tinh thần đoàn kết, việc lên kế hoạch và thực hiện kế hoạch được nhóm trưởng quy định rõ ràng, các thành viên nghiêm túc chấp hành
- Phần thuyết trình và trả lời của nhóm được đánh giá là súc tích, cô đọng, đảm bảo về thời gian Câu trả lời của nhóm đối với các câu hỏi phản biện khá tốt
đã phát triển được năng lực tự học, tự nghiên cứu và lĩnh hội tri thức, năng lực tư duy sáng tạo, năng lực cộng tác, làm việc nhóm Đồng thời, nâng cao ý thức trách nhiệm của học sinh khi thực hiện nhiệm vụ học tập, gắn lí thuyết với thực hành,
tư duy và hành động, nhà trường và xã hội
Trang 37KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1 Kết luận
Đổi mới PPDH là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong nền giáo dục của mỗi quốc gia Để HS hứng thú với nội dung học tập, GV cần tích cực đổi mới phương pháp dạy học cho phù hợp nền giáo dục trong nước cũng như thế giới Theo yêu cầu này, tôi mở ra hướng nghiên cứu cách vận dụng phương pháp sử dụng câu hỏi NVĐ khi giảng dạy truyện ngắn hiện đại Việt Nam giai đoạn 1930-1945 nhằm phát triển tư duy phản biện cho học sinh lớp 11
Tôi đã nghiên cứu cơ sở khoa học làm nền tảng khoa học để vận dụng thể nghiệm một hướng đổi mới phương pháp dạy học Cơ sở lí thuyết và thực tiễn đã giúp tôi xác định tính khoa học và tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu và vận dụng tiết dạy “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân
Tôi đã đề xuất cách tạo và sử dụng câu hỏi NVĐ Quy trình tổ chức và các thao tác dạy học hoàn toàn xuất phát từ nội dung cần đạt của văn bản Toàn bộ quy trình và các thao tác dạy học, tôi đã trình bày ngắn gọn và cụ thể ở chương 2 của sáng kiến
Tính khả thi của đề tài đã được khẳng định qua kết quả của đề tài Học sinh nắm bắt những tri thức về truyện ngắn hiện đại Việt Nam một cách có hệ thống
và chắc chắn hơn, có tư duy phản biện tốt hơn Tuy nhiên tôi vẫn khẳng định: đây chỉ là một hướng trong rất nhiều hướng triển khai giờ dạy học chủ đề “Truyện ngắn hiện đại Việt Nam” Mỗi hướng dạy học có những ưu thế riêng, điều quan trọng là giáo viên và học sinh vận dụng và phát huy những ưu thế đó như thế nào Dạy học theo phương pháp sử dụng câu hỏi NVĐ nếu được sử dụng hợp lý
sẽ không chỉ đưa nội dung kiến thức đến với người học một cách tích cực, sáng tạo, hứng thú nhất mà còn góp phần đa dạng hóa hình thức dạy học, nâng cao hiệu
quả dạy học chủ đề Truyện ngắn hiện đại Việt Nam giai đoạn 1930-1945 nói riêng
và các bài học trong chương trình Ngữ văn lớp 10 THPT, đồng thời hướng tới sự phát triển năng lực học sinh một cách toàn diện nhất
2 Kiến nghị: không
Trang 38TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Bộ Giáo dục và Đào tạo (2010), Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng môn ngữ văn lớp 10, 11, 12, Nxb Giáo dục Việt Nam
2 Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007) Ngữ văn 10, 11, 12 (cơ bản và nâng cao) Nxb
Giáo dục Việt Nam
3 Phan Huy Dũng (viết chung, 2009), Giảng văn Văn học Việt nam THPT, Nxb
Giáo dục Việt Nam
4 Phan Huy Dũng (2009), Tác phẩm văn học trong nhà trường phổ thông, một góc nhìn, một cách đọc, Nxb Giáo dục Việt Nam
5 Đặng Hiển (2005) Dạy văn, học văn, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội
6 Nhiều tác giả (2007), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội
7 Phan Trọng Ngọ - Dạy học và phương pháp dạy học trong nhà trường, Nxb Đại học sư phạm, 2005
8 Nguyễn Hữu Châu- Những vấn đề cơ bản về chương trình và quá trình dạy học, Nxb Giáo dục, 2004
9 Phan Trọng Luận (Tổng chủ biên), Ngữ văn 11, Tập một + Tập hai, Sách giáo viên, NXB Giáo dục, 2017
10 Phan Trọng Luận (Tổng chủ biên), Ngữ văn 11, Tập một + Tập hai, SGK, NXB Giáo dục, 2017
11.Tài liệu tập huấn xây dựng các chuyên đề dạy học và kiểm tra đánh giá theo định hướng phát triển năng lực học sinh, Bộ GD và ĐT
12.Tài liệu tập huấn sinh hoạt chuyên môn về phương pháp và kĩ thuật tổ chức hoạt động tự học của học sinh THPT, Bộ GD và ĐT
Trang 39● Học sinh nêu một số thông tin về tác giả, tác phẩm
● Học sinh xác định và chỉ ra ý nghĩa của tình huống truyện của truyện ngắn
● Học sinh xác định lời kể về nhân vật viên quản ngục trong phần 1 và nêu ý nghĩa (tác động đến cách nhìn nhận của bạn đọc về nhân vật này như thế nào?)
● Học sinh xác định sự kiện đã tạo nên bước chuyển trong thái độ của Huấn Cao với viên quản ngục, mối quan hệ của họ đã thay đổi như thế nào sau sự kiện ấy?
● Học sinh phân tích ý nghĩa cảnh cho chữ
● Học sinh phân tích hình tượng nhân vật Huấn Cao
● Học sinh phân tích ý nghĩa và thông điệp của câu chuyện
● Học sinh nhận xét điểm tương đồng giữa nhân vật Tử Văn (Chuyện chức phán sự đền Tản Viên) và nhân vật Huấn Cao (Chữ người tử tù)
2 Về năng lực
● Học sinh vận dụng năng lực ngôn ngữ và cảm thụ văn học để đọc hiểu văn bản truyện
● Học sinh vận dụng năng lực viết để thực hành viết đoạn văn kết nối đọc
3 Về phẩm chất: Học sinh biết trân trọng các giá trị truyền thống và cái đẹp
II THIẾT BỊ DẠY HỌC, HỌC LIỆU
1 Học liệu: Sách giáo khoa, sách giáo viên, phiếu học tập
2 Thiết bị: Máy chiếu, bảng, dụng cụ khác nếu cần