1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

SKKN Ngữ Văn THPT

20 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 237,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

SKKN Ngữ Văn rất hay

Trang 1

1 MỞ ĐẦU

1.1 Lí do chọn đề tài

Cùng với sự phát triển không ngừng của các ngành khoa học, nhiệm vụ của ngành giáo dục trở nên nặng nề và cần có sự đổi mới Yêu cầu đổi mới PPDH Ngữ văn ngay từ lí luận đến thực tiễn đang đặt ra nhiều thách thức và ngày càng đòi hỏi những thành tựu mới nhằm từng bước khắc phục tình trạng thụ động trong lĩnh hội kiến thức, khẳng định vai trò chủ động, sáng tạo của người học

Văn nghị luận là một loại văn phổ biến sử dụng trong nhà trường hiện nay Trong đó, nghị luận văn học là một đơn vị kiến thức không thể thiếu trong phần Làm văn của chương trình Ngữ văn THPT, có mặt trong tất cả các đề thi học

kì, đề thi THPT quốc gia và đề thi học sinh giỏi

Bắt đầu từ chương trình Ngữ văn THCS, HS đã có cơ hội tiếp xúc với văn nghị luận văn học thông qua những bài phân tích, cảm nhận, trình bày quan điểm về một đoạn thơ, bài thơ, đoạn văn, tác phẩm văn xuôi hay một ý kiến bàn

về văn học Tuy nhiên, sự tiếp xúc ấy mới chỉ là bước đầu và còn mang tính khái quát, chưa có cơ hội đi sâu tìm hiểu những tình huống chứa đựng nhiều vấn đề

Vì vậy, HS chưa phát huy được khả năng sáng tạo và TDPB với những yêu cầu được đưa ra Bước vào chương trình Ngữ văn bậc THPT, các em tiếp tục được đến với các kiểu bài nghị luận văn học mới mẻ và phức tạp, đòi hỏi tư duy cao

và sâu hơn.Trong đó tư duy phản biện là tiêu chí hữu hiệu để đánh giá năng lực nhìn nhận, sáng tạo và giải quyết vấn đề của HS trong công cuộc đổi mới phương pháp dạy học Tuy nhiên trong các giờ học Làm văn nghị luận văn học

HS ngày càng nhàm chán, đa số HS rất thụ động, chỉ ghi chép dập khuôn, máy móc theo sự hướng dẫn của GV, làm bài theo kiểu học thuộc lòng mà chưa có sự suy nghĩ, ý kiến riêng của cá nhân

Chính vì những lí do trên yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học Làm văn nghị luận văn học cho HS THPT ngày càng trở nên cần thiết và là vấn đề cấp bách đang được các nhà giáo dục tìm cách khắc phục Đó là cơ sở để tôi mạnh

dạn ứng dụng đề tài sáng kiến kinh nghiệm Rèn luyện kĩ năng tư duy phản biện trong dạy học Làm văn nghị luận văn học cho học sinh THPT trường THCS-THPT Như Thanh

1.2 Mục đích nghiên cứu

Từ những lí do đã nêu ở trên, nhất là những hạn chế khi dạy học văn nghị luận nói chung và nghị luận văn học nói riêng, tôi muốn đề xuất đưa ra một số phương pháp rèn luyện kĩ năng tư duy phản biện trong dạy học Làm văn nghị luận văn học cho học sinh THPT giúp các em nhìn nhận vấn đề nghị luận một cách sâu sắc, đa diện nhiều chiều khi bình luận, đánh giá ý kiến của người khác Không chỉ vậy còn giúp HS có khả năng bảo vệ ý kiến, quan điểm của mình dựa trên các luận điểm, luận cứ, luận chứng để thuyết phục người đọc, người nghe Điều này là yếu tố quan trọng giúp cho bài văn nghị luận văn học của các em thêm sinh động, độc đáo và sáng tạo mang văn phong riêng của các em

Trang 2

Đề tài nhằm góp phần đổi mới phương pháp giảng dạy, giúp học sinh tiếp cận bài học một cách chủ động và hiệu quả Từ đó, rút ra được những kĩ năng bổ ích cho bản thân, trở thành con người năng động, nhạy bén và sáng tạo trong nhà trường cũng như trong cuộc sống

Đề tài của tôi cũng góp phần giúp giáo viên thiết kế bài học khoa học, hiệu quả và hợp lí, phát huy được tính chủ động sáng tạo, khơi nguồn cảm hứng cho HS trong quá trình lĩnh hội tri thức

1.3 Đối tượng nghiên cứu

- Thực trạng dạy và học phần Làm văn nghị luận văn học bậc THPT

- Các giải pháp Rèn luyện kĩ năng tư duy phản biện trong dạy học Làm văn nghị luận văn học bậc THPT

1.4 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu lí thuyết

Phương pháp điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin

Phương pháp thống kê, xử lí số liệu.

2 NỘI DUNG

2.1 Cơ sở lí luận

2.1.1 Văn nghị luận văn học

Văn nghị luận nói chung và NLVH nói riêng đã và đang khẳng định tầm quan trọng không thể thiếu của mình trong quá trình đổi mới phương pháp và tư duy người học NLVH được đưa vào chương trình giảng dạy của phần Làm văn nhằm củng cố kiến thức về tác gia, tác phẩm, thời đại văn học… Đồng thời, thông qua luận điểm về kiến thức văn học nói chung để hình thành trong người đọc những tình cảm đẹp đẽ về một thời kì, tri thức một tác gia, tác phẩm văn học

Văn nghị luận đòi hỏi tư duy logic, lập luận chặt chẽ nhằm thuyết phục và làm người khác tin về một vấn đề mình trình bày, đồng thời thể hiện rõ lập trường, quan điểm của người viết Vì vậy, HS khi làm bài cần hiểu đúng thế nào là NLVH để định hướng đúng cách làm và giải quyết tốt yêu cầu đề bài

2.1.2 Tư duy phản biện

Trong bài báo của Th.S Lê Tấn Huỳnh Cẩm Giang (Trung tâm nghiên cứu Giáo dục Đại học- Viện Nghiên cứu Giáo dục) tác giả đưa ra kết luận

thuật ngữ “critical thinking” không được dùng với ý nghĩa phê phán mà mang ý nghĩa đưa ra một phán đoán dựa trên cái nhìn đa chiều với sự vật, hiện tượng

được đưa ra xem xét

Như vậy, cách dịch như trước đây đã khiến người tiếp nhận hiểu và có cái nhìn không đúng với nghĩa thực sự của nó Từ đó sẽ dẫn đến việc vận dụng vào thực tế không đạt hiệu quả như mong muốn Xuất phát từ thực tiễn đó, hiện nay, với sự ra đời của nhiều tài liệu khác nhau, các dịch giả đã thống nhất dịch thuật

ngữ “Critical thinking” là “Tư duy phản biện” Trên thế giới, có rất nhiều quan điểm và cách định nghĩa khác nhau về “Tư duy phản biện”.

2

Trang 3

Theo tác giả Angela Jones, trong cuốn Critical Thinking in Sociology: An Introductory Reader, định nghĩa như sau: “Tư duy phản biện là một phạm trù chỉ

sự suy luận theo lối mở, không bị hạn chế, số lượng các giải pháp là không giới hạn, bao hàm cả việc xây dựng các điều kiện, các quan điểm và ý tưởng đúng đắn để đi đến kết luận vấn đề” Cách định nghĩa này được nhiều nhà giáo dục và

nhà hoạch định chính sách tán đồng hơn cả

TS Nguyễn Trọng Hoàn (Bộ Giáo dục và Đào tạo) chỉ ra rằng: “Tư duy phản biện được hiểu đơn giản nhằm giúp bạn thay đổi cách bạn tư duy về cái đang tư duy Một người có lối tư duy phản biện tiếp cận vấn đề và các tình huống phức tạp dựa trên nhận thức và suy nghĩ thấu đáo Nếu nhận thức và suy nghĩ của họ chưa chuẩn, họ có thể nắm những suy nghĩ, niềm tin và quan điểm

đó theo cách hợp lí hơn và chính xác hơn”

Thông qua một số khái niệm mà chúng tôi đã tìm hiểu có thể khái quát lại

một vài ý khi nói đến TDPB như sau: Tư duy phản biện là một quá trình tư duy biện chứng gồm phân tích và đánh giá một thông tin đã có theo các cách nhìn khác cho vấn đề đã đặt ra nhằm làm sáng tỏ và khẳng định lại tính chính xác của vấn đề Lập luận phản biện phải rõ ràng, lôgíc, đầy đủ bằng chứng, tỉ mỉ và công tâm

2.2 Thực trạng vấn đề

2.2.1 Về Chương trình sách giáo khoa

Qua khảo sát chương trình sách giáo khoa, có thể thấy số tiết dành cho Làm văn phần NLVH chiếm lượng lớn và gần như giữ vị trí chủ đạo trong chương trình Làm văn THPT(Chương trình sách giáo khoa 10 có 7 tiết; Chương trình sách giáo khoa 11 có 14 tiết; Chương trình sách giáo khoa 12 có 15 tiết) Các kiểu bài cũng được chú trọng và điều chỉnh thích hợp với nhận thức và năng lực HS Chương trình Làm văn của sách giáo khoa THPT đã thật sự tiếp nối chương trình Làm văn của sách giáo khoa THCS và tìm hiểu NLVH ở mức độ sâu sắc và toàn diện hơn Đó chính là tiền đề để vận dụng khả năng rèn luyện các kĩ năng tư duy, đặc biệt là KNTDPB trong dạy học Làm văn NLVH cho HS

2.2.2 Thực trạng dạy của giáo viên

Trong quá trình rèn luyện kĩ năng TDPB trong dạy học Làm văn nghị luận văn học, GV gặp không ít khó khăn bởi những vấn đề sau: Lối học thụ động truyền thống đã ăn sâu vào cách dạy học ở các trường THPT vì môi trường ở Việt Nam còn nặng về áp đặt kiến thức Biểu hiện là GV truyền thụ kiến thức một chiều, phương pháp dạy học chủ yếu vẫn là thuyết giảng, các phương pháp

kĩ thuật dạy học khác như: nêu vấn đề, khăn trải bàn, thảo luận nhóm mới chỉ mang tính hình thức Tương tác giữa GV và HS trong các giờ học còn ít, chủ yếu

là thầy tác động đến trò một chiều So với các tiết Đọc văn thì những tiết Làm văn, GV vẫn chưa dành nhiều thời gian tâm huyết đầu tư Phương thức kiểm tra đánh giá của Việt Nam vẫn nặng về tái hiện kiến thức khía cạnh năng lực tư duy

đã được chú ý nhưng chưa cao

2.2.3 Thực trạng học của học sinh

Trong các giờ học Làm văn NLVH, đa số HS rất thụ động, không chịu

Trang 4

hợp tác với GV để xây dựng bài học Thực tế, có nhiều em muốn bộc lộ khả năng sáng tạo và TDPB nhưng chưa mạnh dạn đưa ra ý kiến và quan điểm của

bản thân nên giờ học chưa thật hào hứng, hiệu quả Đa phần các giờ học Làm

văn NLVH, HS chỉ ghi chép dập khuôn, máy móc theo sự hướng dẫn của GV

Có khi không đồng tình với quan điểm của người dạy nhưng không dám phản biện lại vì nhiều lí do khác nhau

Chính vì những lí do trên, yêu cầu đổi mới PPDH Làm văn THPT ngày càng trở nên cần thiết và là vấn đề cấp bách đang được các nhà giáo dục tìm

cách khắc phục Đó là cơ sở để tôi đề xuất biện pháp Rèn luyện kĩ năng tư duy phản biện trong dạy học Làm văn nghị luận văn học cho học sinh THPT.

2.3 Đề xuất một số giải pháp rèn luyện kĩ năng tư duy phản biện cho học sinh THPT thông qua bài Làm văn nghị luận văn học

2.3.1 Rèn kĩ năng tư duy phản biện thông qua việc ra đề thi, kiểm tra.

- Lí do đề xuất:

Trong cuốn “Văn nghị luận ở THCS và THPT” tác giả Hoàng Dân cho rằng: “Đề văn thực chất là một “đơn đặt hàng” của người ra đề đối với người viết bài Viết bài văn theo “đơn đặt hàng” là trình bày các suy nghĩ của cá nhân người viết theo một định hướng nhằm đáp ứng các yêu cầu cụ thể, qua đó mà hình thành kĩ năng viết, rèn luyện cách suy nghĩ, cách lập luận và cách trình bày một vấn đề” [9,174] Như vậy đã đủ chứng minh việc ra đề văn nghị luận

đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với sự nhận thức và phát triển kĩ năng của người học.Thực tế cho thấy, HS vẫn chưa thật hứng thú khi tiếp xúc với những dạng đề NLVH Nguyên nhân là do các em cảm thấy quá nhàm chán với những

câu hỏi đơn giản, khô khan, thiếu tính phản biện “Ra đề phải khơi dậy những suy nghĩ riêng, đồng thời phải rèn cho học sinh óc phê phán, nhìn vấn đề trên nhiều mặt Cần tránh kiểu ra đề “suôn sẻ”, dạng “thỏa hiệp” một chiều”

[9,191]

Để khắc phụ tình trạng này, GV cần phải linh hoạt trong việc ra các đề và đáp án cho bài Làm văn NLVH Đặc biệt, các đề văn ấy phải có định hướng TDPB để HS thỏa sức đưa ra những cách đánh giá nhiều chiều với vấn đề được bàn luận

- Biện pháp thực hiện:

Ngoài những yêu cầu cơ bản của một đề văn nghị luận nói chung thì đề NLVH có định hướng TDPB phải đáp ứng đầy đủ những tiêu chí sau:

*Thứ nhất, đề văn cần phải đưa ra những tình huống có vấn đề

Tình huống có vấn đề là tình huống chứa đựng những mâu thuẫn giữa những tri thức đã có với những tri thức cần có để nhận thức về thế giới khách quan, mâu thuẫn đó tạo ra trạng thái tâm lí bất thường ở chủ thể nhận thức Đứng trước tình huống có vấn đề, con người có nhu cầu nhận thức hiểu biết Bằng cách này hay cách khác, con người cần đạt được mục đích, tức là có thêm tri thức về thế giới khách quan Tạo tình huống có vấn đề trong dạy học văn có

cơ sở khoa học đúng đắn, Về mặt triết học, mâu thuẫn luôn là động lực cho sự phát triển Tạo tình huống có vấn đề thực chất là tạo mâu thuẫn, gây áp lực tri

4

Trang 5

thức để thúc đẩy quá trình nhận thức của người học Về mặt tâm lí học, con người ta chỉ tư duy khi đứng trước những tình huống có vấn đề, tình huống có vấn đề mở ra và kích thích quá trình tư duy của người học

Trong dạy học TPVC nói chung và dạy Làm văn NLVH nói riêng, việc tạo tình huống có vấn đề mang nhiều ý nghĩa quan trọng Biện pháp này là hệ quả của việc tiếp thu lí thuyết PPDH nêu vấn đề, giúp HS phát triển tư duy Dạy học nêu vấn đề là dạy học sáng tạo, kiến thức ở lối dạy này vừa là sản phẩm, vừa

là phương pháp định hướng cho HS tiếp thu, tái hiện, đòi hỏi các em phải lĩnh hội kiến thức thông qua sự vận động độc lập từ bên trong Như vậy việc áp dụng cách ra đề này đưa HS vào một môi trường học tập mới, khiến các em phải suy nghĩ theo nhiều chiều hướng khác nhau, đồng thời rèn luyện tư duy sáng tạo, TDPB để giải quyết tốt yêu cầu đề bài đưa ra

Ví dụ: Đề bài: Trong tác phẩm “Hồn Trương Ba, da hàng thịt”, của Lưu

Quang Vũ, có đoạn hội thoại giữa Hồn Trương Ba và xác hàng thịt:

- Hồn Trương Ba:…Mày không có tiếng nói, mày chỉ là xác thịt âm u đui mù… mày chỉ là cái vỏ bên ngoài, không có ý nghĩa gì hết…

- Xác hàng thịt: Sao ông có vẻ khinh thường tôi thế nhỉ? Tôi cũng đáng được quý trọng đấy chứ! Tôi là cái bình để chứa đựng linh hồn Nhờ tôi mà ông

có thể làm lụng, cuốc xới Ông nhìn ngắm trời đất, cây cối, những người thân… Nhờ có đôi mắt của tôi, ông cảm nhận thế giới này qua những giác quan của tôi… Khi muốn hành hạ tâm hồn con người, người ta xúc phạm thể xác…Những vị lắm chữ nhiều sách như các ông hay vin vào cớ tâm hồn là quý, khuyên con người ta sống vì phần hồn, để rồi bỏ bê cho thân xác họ mãi khổ sở, nhếch nhác…Mỗi bữa tôi ăn tám chín bát cơm, tôi thèm ăn thịt, hỏi có gì là tội lỗi nào? Lỗi là ở chỗ không có đủ tám, chín bát cơm cho tôi ăn chứ!”

(Trích “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” - Lưu Quang Vũ)

Trình bày cảm nhận của anh/chị về đoạn đối thoại trên để làm nổi bật tư tưởng thẩm mĩ của tác giả?

Tình huống có vấn đề được đặt ra trong đề văn trên: Trong khi Hồn Trương Ba xem thường, khinh bỉ xác thịt âm u, đui mù, không có tiếng nói, không có cảm xúc thì xác thịt lại đưa ra những lí lẽ, lập luận sắc bén để chứng minh vai trò quan trọng của mình trong việc duy trì sự sống cho phần “hồn”, để

“hồn” làm được những việc ý nghĩa cho cuộc đời

Tình huống được đặt ra trong đoạn hội thoại chứa đựng những mâu thuẫn gay gắt yêu cầu người học phải thật sự nắm vững nội dung tác phẩm mới

có thể đưa ra những phản biện văn học với lập luận phù hợp để bảo vệ quan điểm của mình

*Thứ hai, đề văn phải có sự so sánh, đối chiếu

Trong công cuộc đổi mới hình thức và PPDH, bài Làm văn NLVH không còn đơn thuần là phân tích, bình giảng hay bàn luận một vấn đề xưa cũ theo lối mòn cứng nhắc mà cần phải linh hoạt Đề văn cần phải có sự liên hệ, so sánh, đối chiếu với các tác phẩm đồng đại, lịch đại, hay cùng chủ đề để thấy được sự

Trang 6

giống và khác nhau trong cách nhìn nhận, đánh giá của mỗi tác giả trước cuộc đời và con người Đối với những đề văn như vậy, GV có thể chú ý phát triển tổng hợp được các kĩ năng, trong đó có KNTDPB cho HS

Đề: So sánh nhân vật Mị trong tác phẩm“Vợ chồng A Phủ” (Tô Hoài) và

nhân vật người đàn bà hàng chài trong tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa”

(Nguyễn Minh Châu)

Để giải quyết tốt yêu cầu đề bài, đồng thời vận dụng sáng tạo KNTDPB, trước hết HS cần phải nắm vững tri thức cơ bản về hai tác phẩm Trên cơ sở đó, HS mới có thể đưa ra nhiều hướng nhìn nhận và giải quyếtvấn đề

đa chiều và hợp lí nhất

Đối với đề văn trên, HS cần phải đưa ra những tiêu chí so sánh cụ thể để thấy được sự giống và khác nhau giữa hai nhân vật (Hoàn cảnh, tính cách, số phận, tư tưởng…) Mỗi HS với tầm hiểu biết và lập luận riêng biệt lại có cách lí giải khác nhau về sự so sánh của mình Đó chính là biểu hiện của TDPB trong bài NLVH

Lưu ý: Tùy vào trình độ nhận thức mà HS có thể đưa ra các quan điểm,

cái nhìn, cách đánh giá với những lí lẽ và lập luận khác nhau Tuy nhiên, mọi ý kiến phải tích cực và xuất phát từ mong muốn xây dựng bài mới được GV khuyến khích

*Thứ ba, đề văn phải có hướng mở

Đề mở là cách ra đề mà độ hạn định giảm thiểu để tạo khả năng cho học sinh được tự do lựa chọn vấn đề và cách giải quyết vấn đề của mình Đề mở có tác dụng gây hứng thú, phát huy sở trường, cá tính của học sinh và giúp các em rèn luyện TDPB Loại đề này giúp cho các kì thi cuối năm, thi chuyển cấp, thi tốt nghiệp, thi đại học vì phát huy tư duy sáng tạo, phân hóa học lực của học sinh

Ví dụ: Đề bài : Những nhân vật trong truyện ngắn “Vợ Nhặt” của Kim

Lân gợi cho anh/chị những cảm nhận gì về con người Việt Nam?

- Tác dụng của giải pháp: Với cách ra đề định hướng TDPB giúp HS thoát khỏi cách học “vẹt”, yêu cầu các em không chỉ thuộc bài mà còn phải hiểu bài Đồng thời với những đề nghị luận văn học này sẽ tạo cho học sinh cơ hội được bày tỏ nhận thức, suy nghĩ của mình, tạo ra sự hứng thú cho các tiết học Ngữ văn Từ đó, góp phần phát huy được sự sáng tạo, rèn luyện TDPB và hình thành kỹ năng sống, kỹ năng ứng xử cho các em

2.3.2 Rèn kĩ năng tư duy phản biện thông qua việc hướng dẫn học sinh tìm hiểu đề, lập ý

- Lí do đề xuất: Đối với bài văn nghị luận nói chung và NLVH nói riêng,

khâu tìm hiểu đề và lập ý bao giờ cũng giữ vai trò rất quan trọng Tìm hiểu đề để xác định đúng vần đề cần nghị luận từ đó có hướng đi chuẩn xác để làm sáng rõ yêu cầu của đề Tìm ý là bước huy động kiến thức để xác lập các luận điểm lớn nhỏ và các luận cứ để làm rõ vấn đề nghị luận Tuy nhiên trong quá trình làm bài

HS thường bỏ qua bước này dẫn đến bài làm bị lạc đề, thiếu ý, lan man

- Biện pháp thực hiện:

6

Trang 7

*Rèn kĩ năng tư duy phản biện thông qua việc tìm hiểu đề

Người viết muốn tìm hiểu đề cần phải xác định được yêu cầu của thể loại, nội dung, ý nghĩa của vấn đề, đưa ra được các câu hỏi gợi mở để làm rõ vấn đề được bàn luận Từ đó mới có thể định hướng đúng và đủ những yêu cầu mà đề đưa ra, tránh hiện tượng viết lan man, lạc đề, lệch đề hay bỏ sót ý Mặt khác, người viết cần tìm hiểu đề để xác định và đưa ra những kĩ năng tư duy phù hợp đáp ứng yêu cầu đề bài và đảm bảo sự thống nhất, hài hòa giữa các phần của bài viết

Quá trình tìm hiểu đề để giúp HS định hướng TDPB trong việc tìm ý sẽ phải thực hiện các bước sau:

Bước 1: Đọc kĩ đề

Trong quá trình tạo lập văn bản, đọc kĩ đề là công việc đầu tiên và bắt buộc đối với tất cả HS trước khi viết bài Thực tế cho thấy, nhiều HS chỉ đọc đề một cách vội vã rồi làm bài cho nên bài viết sẽ lộn xộn, không tập trung vào trọng tâm Để tránh những lỗi trên, HS cần phải hiểu được ưu thế của việc đọc kĩ

đề bài trước khi làm bài:

+ Đọc kĩ đề để có thể phản biện vấn đề mà đề bài đặt ra (Quan điểm, ý kiến, đánh giá, nhận định…)

+ Đọc kĩ đề để bản thân người học tìm ra những yếu tố then chốt liên quan trực tiếp đến việc giải quyết nội dung đề bài (HS phân tích và tìm hiểu những tài liệu nào cần thiết cho vấn đề mà mình đang cần giải quyết)

Bước 2: Nhận diện cấu tạo đề

Đối với dạng đề NLVH thì có 4 kiểu bài chính là:

+ Nghị luận về lí luận văn học

+ Nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ

+ Nghị luận về một ý kiến bàn về văn học

+ Nghị luận về một tác phẩm, một đoạn trích văn xuôi

Tuy nhiên, nếu căn cứ vào nội dung và hình thức cấu tạo thì có 3 loại chính sau:

Đề trực tiếp: Với loại đề này, nội dung (Luận đề), hình thức (Thể loại), tài

liệu (Phạm vi dẫn chứng) được nêu ra trực tiếp rõ ràng, mạch lạc Thông thường, dạng ra đề này thường được sử dụng với yêu cầu làm bài văn nghị luận về bài thơ, đoạn thơ hay nghị luận về một tác phẩm, một đoạn trích văn xuôi nhiều hơn

Ví dụ: Đề: Nghệ thuật trào phúng trong đoạn trích “Hạnh phúc của một

tang gia”(Trích tiểu thuyết “Số đỏ” của Vũ Trọng Phụng).

Đề yêu cầu trực tiếp: Phân tích để làm rõ nghệ thuật trào phúng trong

đoạn trích “Hạnh phúc của một tang gia” của Vũ Trọng Phụng.

Đề gián tiếp: Đề bài không nêu trực tiếp nội dung và cách thức phương

hướng nghị luận mà thường ẩn giấu hoặc đưa ra một cách gián tiếp thông qua những từ ngữ hàm súc, đa nghĩa Dạng đề này thường được sử dụng với yêu cầu làm bài nghị luận về một ý kiến bàn về văn học hay nghị luận về lí luận văn học

Trang 8

Ví dụ: Đề: Quang Dũng là một nghệ sĩ đa tài Ông vẽ tranh, sáng tác

nhạc, viết văn xuôi nhưng trước hết là một nhà thơ Ngôn ngữ thơ ca của ông đậm tính hội họa

Hãy chọn một đoạn trong bài thơ “Tây Tiến” mà anh/chị thấy thích nhất

đề làm rõ đặc điểm đó

Đề yêu cầu gián tiếp: Thông qua một đoạn thơ trong bài thơ “Tây Tiến” để

làm nổi bật đặc điểm và tài năng thơ ca của Quang Dũng

Đề tự do: Kiểu đề này không có quy định chặt chẽ nào về nội dung, cách

thức nghị luận cũng như mức độ và phạm vi giải quyết Nội dung và cách thức nghị luận tùy thuộc vào cách hiểu, cách nhận thức vấn đề của người làm bài

Chú ý: Khi làm dạng đề này, người viết cần chỉ rõ:

+ Thực chất nội dung của luận đề là gì?

+ Cách làm bài như thế nào là phù hợp và hiệu quả nhất (Nên sử dụng các thao tác lập luận nào)

Tuy nhiên, dạng đề này yêu cầu tư duy cao, vì vậy mà thường chỉ dành cho HS lớp năng khiếu hoặc các kì thi chọn học sinh giỏi quốc gia

Bước 3: Phân tích, xác định yêu cầu về nội dung và hình thức nghị luận của đề.

- Xác định yêu cầu về nội dung (Luận đề)

Xác định yêu cầu nội dung nghị luận là ta hướng tới trả lời câu hỏi: Đề yêu cầu viết về cái gì?Nội dung luận đề là vấn đề chính, vấn đề bao quát mà

người soạn đề đưa ra yêu cầu người làm bài phải giải quyết.Muốn giải quyết câu hỏi đó, chúng ta cần phải tìm hiểu ý nghĩa những từ quan trọng được đưa ra trong bài Thực tế, có những đề (Đặc biệt là nghị luận về lí luận văn học hay nghị luận về một ý kiến bàn về văn học) có nội dung nghị luận thường được diễn đạt qua một số từ đa nghĩa Như vậy, để xác định được đúng luận đề ở những dạng bài tập đó thì ta phải chỉ ra được những từ then chốt trong đề bài

- Xác định yêu cầu về hình thức nghị luận.

Việc xác định yêu cầu về kiểu bài có vai trò hết sức quan trọng trong bài Làm văn nói chung và văn nghị luận nói riêng Mỗi bài văn nghị luận được đưa vào giảng dạy trong nhà trường đều có những quy định riêng về kiểu bài Nếu như xác định không đúng kiểu bài thì dù nội dung có phong phú bao nhiêu, lời lẽ

đa dạng đến đâu cũng không thể đi đúng hướng

Bước làm này, GV thường sử dụng kĩ thuật đặt câu hỏi 5W1H (Phương pháp phổ biến và hữu hiệu trong dạy học tích cực) để giúp HS đưa ra những câu

hỏi gợi dẫn trong phần tìm hiểu đề Sử dụng kĩ thuật 5W1H, chúng ta có thể đưa

ra một hệ thống các câu hỏi thống nhất cho mọi đề bài Như vậy, GV đưa ra các câu hỏi gợi dẫn trong phần tìm hiểu đề sẽ giúp HS có cách tiếp cận vấn đề cụ thể, toàn diện hơn và rèn luyện KNTDPB

8 Who

Where

How

MAIN IDEAS

Trang 9

Sơ đồ đặt câu hỏi theo kĩ thuật 5W1H

Chú thích: 5W1H là cách viết tắt của các câu hỏi:

What? (Là gì), When? (Khi nào), Who? (Ai?), Where? (Ở đâu), Why? (Vì sao?), How? (Như thế nào)

Ví dụ: Đề bài: Cảm nhận của anh/chị về hình tượng nhân vật Tràng trong

tác phẩm “Vợ nhặt” của nhà văn Kim Lân.

Đối với cách tìm hiểu đề thông thường: GV chỉ yêu cầu học sinh xác

định những vấn đề chính sau: Thể loại, nội dung, phạm vi nghị luận

- Yêu cầu về hình thức, thể loại: Nghị luận về một đoạn trích, một tác phẩm văn xuôi

- Yêu cầu về nội dung (Luận đề): Phân tích và cảm nhận về nhân vật

Tràng trong truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân.

- Yêu cầu về tư liệu: Trong tác phẩm “Vợ nhặt”

Đối với cách tìm hiểu đề có sử dụng kĩ năng tư duy phản biện:

Đối với cách tìm hiểu đề này, ngoài việc xác định thể loại, nội dung và phạm vi sử dụng thì GV còn cần đặt ra những câu hỏi gợi dẫn để đưa HS tiếp cận vấn đề một cách dễ dàng hơn

Một số câu hỏi đưa ra để lí giải hình tượng trong tác phẩm:

+ Ở đoạn đầu, nếu Tràng từ chối đưa người vợ nhặt về nhà thì câu chuyện

sẽ diễn biến như thế nào? Tính cách và phẩm chất của nhân vật sẽ được bộc lộ ra sao?

+ Nếu Tràng không bỏ tiền mua dầu để thắp mà mua một thứ gì đó để cả nhà

ăn mừng thì chúng ta sẽ có những nhận định và suy nghĩ gì về nhân vật?

+ Khi thấy mẹ lâu về, Tràng nóng ruột, đi ra đi vào ngóng mẹ (Cụ Tứ) để báo cáo việc có vợ của mình cho thấy phẩm chất đáng quý nào ở nhân vật?

+ Sau khi người vợ nhặt về, tại sao Tràng lại cảm thấy mình cần phải có trách nhiệm tu sửa lại căn nhà

Ở khâu tìm hiểu đề, muốn rèn luyện KNTDPB cho HS trong dạy học văn nghị luận văn học một cách tốt nhất, hiệu quả nhất thì GV có thể sử dụng sơ đồ (Bản đồ) tư duy

Hình ảnh mô tả sơ đồ tư duy:

What

Trang 10

Cấu trúc sơ đồ tư duy điển hình

Lưu ý: Để giúp HS lập được sơ đồ tư duy cho khâu tìm hiểu đề văn

NLVH, GV cần chú ý 4 bước cơ bản sau:

Bước 1: GV cung cấp ngữ liệu đã chuẩn bị cho học sinh quan sát

GV đưa đề văn cụ thể để HS tìm hiểu đề

Ví dụ: Suy nghĩ về hình tượng nhân vật Mị trong tác phẩm “Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài.

Bước 2: HS phân tích ngữ liệu theo định hướng của GV, tránh hiện tượng

đi chệch hướng nghiên cứu.

Dưới sự hướng dẫn và quản lí của GV, HS sẽ chia thành các nhóm nhỏ để chỉ ra các bước cần thiết trong khâu tìm hiểu đề

Tiếp đó, GV yêu cầu đại diện các nhóm trình bày, các nhóm khác theo dõi

và cho ý kiến Cuối cùng GV tổng hợp và chốt lại kiến thức chuẩn

Yêu cầu:

- Xác định cấu tạo đề: Đề trực tiếp

- Xác định nội dung, hình thức đề:

+ Hình tượng nhân vật Mị

+ Hình thức: Phân tích, bình luận

- Phạm vi nghị luận: Trong tác phẩm “Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài

- Các câu hỏi gợi dẫn:

+ Qua ngòi bút tác giả Mị được khắc họa như thế nào?

+ Trước khi về nhà thống lí Pá Tra, Mị là người như thế nào?

+ Khi về làm dâu nhà thống lí, Mị đã thay đổi ra sao? Tại sao lại có sự thay đổi ấy?

+ Uống rượu là chuyện bình thường trong ngày Tết ở vùng cao Tây Bắc

(Cả đối với những người phụ nữ) Nhưng vì sao Mị lại uống “ừng ực từng bát”?

+ Có gì khác nhau giữa 2 hành động: Mị cởi trói cho A Phủ, Mị chạy theo

A Phủ?

+ Nếu ở cuối truyện, Mị không chạy theo A Phủ thì cuộc sống của Mị sẽ

ra sao?

10

Ngày đăng: 29/06/2021, 16:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w