Output file §¹i häc quèc gia Hµ Néi TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC Bïi ViÖt Phó tæ chøc gi¸o dôc híng nghiÖp Cho häc sinh trung häc phæ th«ng theo tinh thÇn x héi ho¸ Chuyªn ngµnh Qu¶n lý gi¸o dôc M sè 6[.]
Trang 1- -Bïi ViÖt Phó
tæ chøc gi¸o dôc h-íng nghiÖp Cho häc sinh trung häc phæ th«ng
theo tinh thÇn x· héi ho¸
Chuyªn ngµnh: Qu¶n lý gi¸o dôc
M· sè: 62.14.05.01 LuËn ¸n TiÕn sÜ QU¶N Lý Gi¸o dôc
Ng-êi h-íng dÉn khoa häc:
1 GS.TS Ph¹m TÊt Dong
2 PGS.TS §Æng Xu©n H¶i
Hµ Néi, 2009
Trang 2TR ƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
- -Bïi ViÖt Phó
tæ chøc gi¸o dôc h-íng nghiÖp Cho häc sinh trung häc phæ th«ng
theo tinh thÇn x· héi ho¸
LuËn ¸n TiÕn sÜ QU¶N Lý Gi¸o dôc
Hµ Néi, 2009
Trang 3Chương 1 Cơ sở lý luận tổ chức GDHN cho học sinh THPT
theo tinh thần xã hội hoá
1.1 Tổng quan về giáo dục hướng nghiệp và xã hội hóa giáo dục
tế và chuyển dịch cơ cấu lao động
42
1.3.2 Hướng nghiệp phải phục vụ nhu cầu phát triển nguồn nhân
lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
43
1.3.3 Hướng nghiệp phải đáp ứng yêu cầu của kinh tế thị trường và
tính đến xu thế phát triển của kinh tế tri thức 46 1.3.4 Hướng nghiệp gắn việc học tập của HS với việc làm chủ công
1.3.5 Hướng nghiệp gắn với quá trình dạy học phân ban hiện nay 50 1.4 Tổ chức giáo GDHN cho học sinh THPT theo tinh thần XHH 51
Trang 41.4.1 Thiết kế cơ cấu tổ chức GDHN theo tinh thần XHH 51 1.4.2 Bảo đảm các nguồn lực cho GDHN theo tinh thần XHH 54 1.4.3 Hình thức tổ chức GDHN cho HS THPT theo tinh thần XHH 56
Chương 2 Cơ sở thực tiễn về GDHN và tổ chức GDHN cho học
sinh THPT theo tinh thần XHH
2.1 Bối cảnh kinh tế - xã hội trong những năm qua 59 2.1.1 Hội nhập Quốc tế và trong khu vực 59 2.1.2 Sự chuyển đổi nền KT kế hoạch hóa sang nền KT thị trường
theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Hà Tĩnh
85
2.3.2 Đánh giá chung về tổ chức GDHN cho học sinh THPT theo
tinh thần xã hội hoá
94
Chương 3 Một số giải pháp tổ chức giáo dục hướng nghiệp cho
học sinh THPT theo tinh thần xã hội hoá
3.1 Một số nguyên tắc xây dựng các giải pháp 101 3.2 Một số giải pháp tổ chức GDHN cho học sinh THPT theo tinh
thần XHH
104
3.2.1.Nhóm giải pháp Tổ chức nhận thức 104 3.2.2 Nhóm giải pháp về Tổ chức nội dung 107
Trang 53.2.3 Nhóm giải pháp về Cung ứng nhân lực 109 3.2.4 Nhóm giải pháp về Cung ứng vật lực, tài lực 112 3.2.5 Nhóm giải pháp về Tổ chức cơ chế phối hợp 116 3.3 Mối quan hệ giữa các nhóm giải pháp 125 3.4 Tổ chức thử nghiệm một số nhóm giải pháp 126
Trang 6DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT
BTTHPT Bổ túc trung học phổ thông
CMHS Cha mẹ học sinh
CSVC Cơ sở vật chất CNH - HĐH Công nghiệp hoá hiện đại hoá
ĐH, CĐ, TCCN Đại học, Cao đẳng, Trung cấp chuyên nghiệp TCCN Trung cấp chuyên nghiệp
GDHN Giáo dục hướng nghiệp
GDHN - LN Giáo dục hướng nghiệp - Lập nghiệp
GD&ĐT Giáo dục và đào tạo
GDKTTHHN Giáo dục kỹ thuật tổng hợp hướng nghiệp GDKTTH Giáo dục kỹ thuật tổng hợp
KTTH-HN Kỹ thuật tổng hợp hướng nghiệp
KTTH-HN-DN Kỹ thuật tổng hợp hướng nghiệp - dạy nghề
XHHGD Xã hội hoá công tác giáo dục
XHHGDHN Xã hội hoá giáo dục hướng nghiệp
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 1: Tổng hợp kết quả điều tra 4 con đường GDHN 66
Bảng 2: Số lượng GV dạy CN & HN một số tỉnh 68
Bảng 3: Số trường, số HS học nghề trong những năm qua 75
Bảng 4: Số lượng trung tâm KTTHHN từ 1980 – 2006 75
Bảng 5: Số HSPT được HN tại các trung tâm KTTH-HN 76
Bảng 6: Số lượng trường học và HS, SV qua một số năm 82
Bảng 7: Kết quả điều tra nguyên nhân hạn chế của GDHN 91
Bảng 8: Kết quả khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các
giải pháp
127
Bảng 9: Số lượng HS, GV các trường THPT tổ chức thử nghiệm 129
Bảng 10: Tổng hợp kết quả thử nghiệm ba nhóm giải pháp 137 Bảng 11: Số lượng HS dự thi ĐH, CĐ tỉnh Quảng Trị 138
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Sơ đồ 1: Mối quan hệ giữa 3 khâu trong công tác HN 29
Sơ đồ 2: Cơ cấu tổ chức GDHN trong trường phổ thông 34
Sơ đồ 3: Cơ cấu tổ chức GDHN theo tinh thần xã hội hoá 52
Sơ đồ 4: Các hướng phân luồng HS sau trung học phổ thông 81
Sơ đồ 5: Cơ chế phối hợp tổ chức GDHN cho HS THPT 117
Sơ đồ 6: Cơ chế phối hợp GDHN cho HS THPT theo tinh thần
XHH
124
Biểu đồ 1: Số HS các trường dạy nghề giai đoạn 2000 - 2006 65
Biểu đồ 2: Số HS trong các trường THCN giai đoạn 1999 - 2006 65
Trang 8Hầu hết các nước có nền công nghiệp phát triển đều khẳng định tinh thần công nghệ học trong HN Mặt khác, ngày nay người ta đã đề cao năng lực thích ứng với nhiều nghề và chuẩn bị cho con người có đầy đủ khả năng để di chuyển nghề một cách linh hoạt theo sự chuyển dịch cơ cấu lao động trong thời kỳ CNH - HĐH
1.2 Giáo dục hướng nghiệp (GDHN) cho học sinh phổ thông (HSPT)
là một trong những vấn đề quan trọng được Đảng ta quan tâm hiện nay Ngày 19 tháng 3 năm 1981, Hội đồng Chính phủ đã ban hành quyết định 126/CP về công tác hướng nghiệp trong trường phổ thông và việc sử dụng học sinh các cấp phổ thông cơ sở và phổ thông trung học (PTTH) tốt nghiệp
ra trường Đây là một cột mốc quan trọng đánh dấu việc đưa công tác HN chương trình giáo dục của trường phổ thông Quyết định 126/CP đã khẳng định mục tiêu của HN là giúp học sinh định hướng chọn nghề phù hợp với hứng thú, năng lực và hoàn cảnh của cá nhân, đồng thời đáp ứng được sự phát triển của ngành nghề trong xã hội (XH);
Nhiều Nghị quyết của Đảng đã nói về vấn đề này Từ Đại hội lần thứ VIII (1996) đến Đại hội IX (2001), Đảng luôn luôn nhấn mạnh đến việc tăng cường công tác hướng nghiệp dạy nghề Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ IX của Đảng cộng sản Việt Nam đã khẳng định: “ Thực hiện phương
Trang 9châm "học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn với xã hội", coi trọng công tác hướng nghiệp và phân luồng học sinh trung học, chuẩn bị cho thanh niên, thiếu niên đi vào lao động nghề nghiệp phù hợp với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong cả nước và từng địa phương Xây dựng quy hoạch đào tạo nhân lực theo phương thức kết hợp học tập trung, học từ xa, học qua máy tính "
1.3 Sau khi có Quyết định 126/CP, trong những năm 80 công tác tổ chức GDHN cho HSPT đã được coi trọng, HN được coi là một môn học trong nhà trường Nhiều trường THPT đã có phòng HN để giúp HS tìm hiểu
về nghề ở địa phương và trong cả nước Nhiều phòng HN còn là nơi để HS tập trung sinh hoạt HN; tại đó các em được giới thiệu về nghề và được giúp
đỡ, tư vấn khi chọn nghề Cũng tại thời điểm này, một số trường phổ thông vừa học vừa làm hoạt động có hiệu quả hơn thông qua việc thực hiện nguyên lý "học đi đôi với hành, giáo dục gắn liền với lao động sản xuất"
Mô hình này đã thu hút khá đông đảo lực lượng HS tham gia, góp phần đào tạo lực lượng lao động phổ thông ngay trong trường PT
Trong nhiều năm qua, công tác GDHN cho học sinh trung học phổ thông (THPT) có nhiều cố gắng và có những đóng góp nhất định, góp phần vào việc định hướng nghề nghiệp cho HSPT và đào tạo nguồn nhân lực phục vụ sự phát triển KT-XH của đất nước và từng địa phương Nhưng sau
đó công tác tổ chức GDHN cho HSPT không được các cấp QLGD và các trường học quan tâm đúng mức, nhiều địa phương và trường học chưa nghiêm chỉnh thực hiện đầy đủ các nội dung GDHN, chất lượng GDHN chưa đáp ứng yêu cầu của HS và XH, HSPT cuối các cấp học và bậc học chưa được chuẩn bị chu đáo để lựa chọn nghề nghiệp, lựa chọn ngành học phù hợp với bản thân và yêu cầu của XH Hàng năm cả nước có gần một triệu HS tốt nghiệp THPT và Bổ túc THPT đăng ký dự thi ĐH, CĐ, TC; trong số đó có trên 40% được tuyển, số còn lại đi đâu và làm việc gì đang là một câu hỏi quan trọng đặt ra cho các cấp QLGD nói riêng và của toàn XH nói chung
Trang 10Xu thế muốn thi vào các trường đại học (ĐH) mà không muốn vào các trường nghề đã tạo nên một cuộc chạy đua vào ĐH, dẫn đến tình trạng tách rời giữa học với hành, giữa lý thuyết với thực tiễn; vai trò của GDHN bị coi nhẹ, nhiều trường không còn quan tâm đến việc tổ chức GDHN cho HS; cơ
sở vật chất (CSVC), đội ngũ cán bộ chuyên trách, giáo viên (GV) làm công tác HN không được quan tâm đúng mức Coi nhẹ GDHN trong nhà trường PT
là một biểu hiện lạc hậu của hệ thống GD nước ta so với các nước có nền công nghiệp phát triển
Việc huy động các lực lượng XH tham gia tổ chức GDHN cho HSPT chưa được các cấp quan tâm; các hình thức tổ chức GDHN chưa phù hợp với yêu cầu mới đặt ra; việc sử dụng và khai thác các nguồn nhân lực - vật lực - tài lực còn ít hiệu quả
Để đáp ứng được yêu cầu phát triển nguồn nhân lực cho sự phát triển KT-XH của đất nước, đồng thời coi trọng một số lĩnh vực công nghệ cao (công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, công nghệ tự động hóa ), GDHN cho HS THPT cần phải đổi mới cả nội dung, hình thức tổ chức, trong đó coi trọng việc huy động một cách hợp lý các lực lượng XH cùng tham gia tổ chức GDHN cho HS THPT
1.4 Trên thực tế, GDHN cho HSPT đang gặp nhiều khó khăn, chưa
có tác động nhiều đến chủ trương phân luồng HS sau THPT Một trong những nguyên nhân yếu kém của HN là do công tác HN chỉ được triển khai
bó hẹp trong trường THPT và các trung tâm KTTH-HN, trong khi các điều kiện để thực hiện GDHN của trường THPT lại hết sức thiếu thốn, nghèo nàn và lạc hậu Vấn đề chuẩn bị nghề nghiệp cho thế hệ trẻ một cách có hiệu quả, giúp cho học sinh - những người lao động trẻ có cơ hội hoà nhập nhanh với cuộc sống lao động sản xuất của toàn xã hội đang là một trong những yêu cầu cấp bách cần được toàn xã hội quan tâm
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài " Tổ chức giáo dục
hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ thông theo tinh thần xã hội hoá"
Trang 112 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn tổ chức GDHN cho HS THPT theo tinh thần XHH, đề xuất các giải pháp tổ chức GDHN để thực hiện
có hiệu quả công tác GDHN cho học sinh trường trung học phổ thông
3 KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU
3.1 Khách thể nghiên cứu
Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trường trung học phổ thông của các cấp quản lý giáo dục
3.2 Đối tƣợng nghiên cứu
Tổ chức giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ thông với sự tham gia của các lực lượng xã hội
4 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
Tổ chức GDHN ở trường THPT đang còn nhiều vấn đề bất cập về nội dung, phương thức tổ chức thực hiện Nếu nhà trường thực hiện đồng bộ các nhóm giải pháp tổ chức GDHN cho học sinh THPT theo tinh thần xã hội hoá như: tổ chức nhận thức, tổ chức nội dung, cung ứng nhân lực, cung ứng vật lực, tài lực và tổ chức cơ chế phối hợp GDHN thì sẽ góp phần nâng cao hiệu quả GDHN cho học sinh THPT, đáp ứng nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho sự phát triển của đất nước
5 NHIỆM VỤ VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
5.1 Nhiệm vụ nghiên cứu
+ Xây dựng cơ sở lý luận tổ chức GDHN cho học sinh THPT theo tinh thần XHH
+ Khảo sát, đánh giá thực trạng GDHN và tổ chức GDHN cho HSPT theo tinh thần XHH
+ Đề xuất các giải pháp tổ chức GDHN cho học sinh THPT theo tinh thần xã hội hoá
5.2 Phạm vi nghiên cứu
+ Về nội dung: Luận án nghiên cứu về tổ chức GDHN cho HS THPT theo tinh thần XHH trong phạm vi cấp tỉnh và cấp trường THPT
Trang 12+ Về địa bàn: Do điều kiện có hạn nên chúng tôi tiến hành khảo sát thực trạng ở 21 trường THPT và 14 trung tâm KTTH-HN thuộc 2 tỉnh Quảng Trị và Hà Tĩnh, là những địa phương đã có một thời gian làm tốt công tác GDHN cho học sinh phổ thông theo tinh thần XHH; đồng thời là hai tỉnh có nền công nghiệp chưa phát triển nên có nhiều vấn đề về nguồn nhân lực cần được quan tâm
Phần thử nghiệm được thực hiện ở 6 trường THPT tỉnh Quảng Trị
và thành phố Đà Nẵng năm học 2005 -2006
6 CƠ SỞ PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
6.1 Cơ sở phương pháp luận
+ Luận án được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận triết học Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; các quan điểm đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước; chiến lược phát triển giáo dục đào tạo và định hướng GDHN đến 2010 và những năm tiếp theo
+ Kế thừa và phát triển có chọn lọc một số kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài nước về những vấn đề có liên quan đến luận án
+ Cơ sở thực tiễn: Thực trạng GDHN cho học sinh THPT và việc tổ chức GDHN cho HS THPT theo tinh thần XHH
6.2 Các phương pháp nghiên cứu
6.2.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
+ Tổng hợp các tài liệu khoa học chuyên môn về GD, GDHN, các công trình có liên quan đến vấn đề nghiên cứu
+ Phân tích các công trình khoa học nghiên cứu về LĐ,HN của các tác giả trong và ngoài nước
+ Nghiên cứu xu hướng hiện nay của các nước phát triển và cách tiếp cận GDHN trong thời kỳ hội nhập theo tinh thần XHH
6.2.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
+ Điều tra: Dùng phiếu hỏi trưng cầu ý kiến của các nhà QLGD, học
sinh một số trường THPT, trung tâm KTTHHN và một số chuyên gia để
Trang 13đánh giá thực trạng GDHN cho học sinh THPT theo tinh thần XHH trong những năm qua Đồng thời kiểm nghiệm tính cấp thiết và tính khả thi của các giải pháp tổ chức GDHN theo tinh thần xã hội hóa đã được đề xuất
+ Toạ đàm, phỏng vấn: Tiến hành tọa đàm với cán bộ quản lý giáo
dục các trường THPT, trung tâm KTTHHN, một số chuyên gia về các vấn
đề có liên quan đến phần khảo sát , đối chứng và thử nghiệm
+ Khảo nghiệm và thử nghiệm: Khảo nghiệm và thử nghiệm một số
giải pháp tổ chức GDHN cho học sinh THPT ở tỉnh Quảng Trị và thành phố
Đà Nẵng Kết quả thử nghiệm được tổng kết, nhận định về mức độ cần thiết và tính khả thi của các giải pháp
+ Trưng cầu ý kiến chuyên gia: Lấy ý kiến chuyên gia về một số
vấn đề có liên quan đến luận án
+ Phương pháp so sánh
7 NHỮNG LUẬN ĐIỂM BẢO VỆ
7.1 Vai trò quan trọng của GDHN trong việc chuẩn bị nguồn nhân lực đáp ứng các yêu cầu của sự phát triển KT-XH
7.2 Công tác hướng nghiệp cần có sự tham gia của các lực lượng xã hội, một mình trường PT không thể đảm nhiêm công việc này
7.3 Chỉ ra những bất cập trong GDHN cho HS THPT trong thời gian qua Nguyên nhân của những bất cập đó chủ yếu thuộc về phương thức tổ chức GDHN của các cấp quản lý trong hệ thống giáo dục quốc dân
Trang 147.4 Tính hợp lý và khả thi của các giải pháp tổ chức GDHN cho học sinh THPT theo tinh thần XHH
8 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI
8.1 Đề tài góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về GDHN; xã hội hoá trong giáo dục và tổ chức GDHN theo tinh thần XHH ở cấp THPT
8.2 Làm rõ thực trạng, chỉ ra những bất cập trong tổ chức GDHN cho học sinh THPT và phân tích được những nguyên nhân cơ bản đó
8.3 Nêu lên tính khả thi của năm nhóm giải pháp tổ chức GDHN cho học sinh THPT theo tinh thần XHH;
9 CẤU TRÚC CỦA LUẬN ÁN
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, tài liệu tham khảo và danh mục các bảng, biểu đồ, sơ đồ, nội dung chính của luận án được trình bày trong ba chương:
+ Chương 1: Cơ sở lý luận tổ chức GDHN cho học sinh THPT theo
tinh thần xã hội hoá
+ Chương 2: Cơ sở thực tiễn về GDHN và tổ chức GDHN cho học sinh THPT theo tinh thần XHH
+ Chương 3: Một số giải pháp tổ chức giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THPT theo tinh thần xã hội hoá
Trang 15Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN TỔ CHỨC GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP
CHO HỌC SINH THPT THEO TINH THẦN XÃ HỘI HOÁ
1.1 TỔNG QUAN VỀ GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP VÀ GDHN THEO TINH THẦN XÃ HỘI HÓA
1.1.1 Ở nước ngoài
Công tác GDHN trên thế giới được ra đời khá sớm Từ giữa thế
kỷ XIX, ở Pháp đã xuất hiện cuốn sách "Hướng dẫn chọn nghề" mà nội
dung chủ yếu là vấn đề phát triển đa dạng của nghề nghiệp do sự phát triển công nghiệp và việc nhất thiết phải giúp đỡ thanh niên trong sự lựa chọn nghề nghiệp
Sau cải cách giáo dục 1975, nhà trường Pháp đều chú trọng đến GDHN qua dạy môn Công nghệ; coi trọng việc chuẩn bị cho HS tâm lý sẵn sàng đi vào lao động Việc đưa bộ môn công nghệ vào trường học được thể
hiện rõ nhất trong công trình khoa học "Những vấn đề nội dung giáo dục
trong nhà trường Pháp"
Nhiều công trình khoa học của các tác giả ở viện nghiên cứu Quốc gia về lao động và hướng nghiệp Paris: Anne Lancry-Hoest Landt [123; 5-22]; Resgis Ouvrier-Bonnaz [65; 49-68] ; Rene-Pierre Halter [65; 38-48], đã giới thiệu một cách chi tiết, linh động mô hình GDHN ở Pháp và châu Âu xét từ góc độ lý thuyết và kinh nghiệm được rút ra từ hàng trăm năm nay Các tác giả đã nhấn mạnh đến môi trường học đường, thị trường lao động, vai trò to lớn của các trung tâm HN trong công tác tổ chức GDHN cho HS và thanh, thiếu niên; trong đó các tổ chức xã hội đã có nhiều đóng góp trong việc phối hợp với nhà trường và các trung tâm trong việc tổ chức GDHN
Ở Nga, nhiều nhà khoa học nổi tiếng đã phát triển lý luận về GDHN Trong đó phải kể đến N.K.Krupxkaia, A.V.Lunasatsky, M.I.Kalinin,
Trang 16N.O.Blonxkii, P.R.Atutov là những nhà khoa học có nhiều đóng góp quan trọng trong lĩnh vực giáo dục lao động kỹ thuật tổng hợp (LĐKT-TH) trong những năm 70 của thế kỷ XX Các nhà khoa học đã đi sâu nghiên cứu ý tưởng
"học tập kết hợp với lao động sản xuất" để hình thành nhân cách toàn diện
cho học sinh Những ý tưởng đó có giá trị lớn cả về chính trị lẫn kinh tế
N.K.Krupxkaia đã phát triển nguyên lý GDKT-TH của V.I.Lênin Bà nhấn mạnh nguyên lý này phải được quán triệt vào các môn học của nhà trường và giữa các môn học với nhau phải có sự quan hệ mật thiết, liên hệ với hoạt động thực tiễn, nhất là đối với học môn kỹ thuật (nay là công nghệ) Sau N.K.Krupxkaia, M.N.Xcatkin trong cuốn sách "Hoàn thiện quá trình dạy học" đã khẳng định: cần phải thực hiện sao cho học tập lý thuyết soi sáng con đường thực hành lao động sản xuất (LĐSX), còn lao động phải giúp cho việc nắm kiến thức một cách có ý thức Giáo viên dạy lao động cần trang bị cho học sinh những kiến thức kỹ năng, kỹ thuật tổng hợp đại cương cần thiết đối với người lao động trong các nghề khác nhau
M.N Pokrovxki đã xây dựng chiến lược chung của nhà trường Xô
Viết, trong đó coi trọng "Quan điểm nhà trường GDKT-TH là tư tưởng cơ
bản xây dựng dựa trên tính hiện đại và trở thành mẫu mực của xã hội mới"
Trong những năm 1956 - 1966 Liên Xô tiến hành cải cách giáo dục Luật giáo dục được xây dựng 1958 rất coi trọng việc củng cố mối liên hệ giữa
nhà trường với đời sống và "Học sinh lớp lớn trường phổ thông ban ngày
phải gắn liền học tập với hoạt động LĐSX" Sau đó, cuộc cải cách giáo dục
giai đoạn 1984 - 1986 đã rất coi trọng giáo dục lao động với HN cho HSPT trên cơ sở gắn học tập với LĐSX
P.R Atutov đặc biệt coi trọng giáo dục công nghệ với GDKT-TH và
GD nghề Ông cho rằng cả hai loại hình đó có mối quan hệ tương hỗ biện chứng trong quá trình GDKT-TH, học sinh nắm vững kiến thức kỹ năng hướng vào hoạt động biến đổi; kết quả đó được thể hiện bằng sự học tập
Trang 17môn công nghệ Nói cách khác, giáo dục công nghệ ở trường PT phải thể hiện tinh thần GDKT-TH Đây là những vấn đề mới mà các nhà khoa học trước đó chưa đề cập đến
Hiện nay, giáo dục ở Liên bang Nga không tách GDHN ra khỏi GD công nghệ đại cương và giáo dục lao động của trường PT, nhất là đối với
HS THPT thì nội dung, phương pháp tổ chức dạy học các môn KH và công nghệ mang tính phân hóa, nhằm mục tiêu GDHN cho học sinh lớn vào các trường nghề hoặc bước vào cuộc sống
Đầu năm học 1994 - 1995, Bộ giáo dục Nga chủ trương tiến hành thí điểm dạy chương trình Công nghệ thay cho chương trình dạy Lao động và Kỹ thuật (LĐ&KT) thời Xô Viết mà đến 1992 – 1993 vẫn duy trì
Như vậy, chúng ta có thể nhận thấy rằng trong những thời điểm lịch
sử khác nhau dù thực hiện chương trình LĐ&KT hay công nghệ thì mục đích chung của GDHN vẫn là chuẩn bị cho học sinh đi vào cuộc sống để đáp ứng với yêu cầu công nghệ hiện đại và sự phát triển của XH
Trung Quốc rất chú trọng đến GDHN cho học sinh, học sinh được học môn lao động kỹ thuật ngay từ bậc tiểu học Mục tiêu chủ yếu của bộ môn này ở bậc tiểu học là GD ý thức, thái độ lao động cho HS và cung cấp cho HS một số kiến thức, kỹ năng tối thiểu Ở cấp THCS và THPT, học sinh được học môn kỹ thuật lao động và được thực hành ngay trong trường học một số nội dung như chế biến, gia công đồ gỗ, kim loại, lắp ráp điện, điện tử, các nghề thủ công truyền thống Học sinh được tham gia lao động tại địa phương và các nhà máy, cơ sở sản xuất dịch vụ Các cơ sở này đã trực tiếp tham gia cùng với nhà trường GDHN cho học sinh PT
Môn kỹ thuật lao động trở thành bắt buộc trong hệ thống trường THCS và THPT, nhằm giúp học sinh có được kiến thức, kỹ năng và khả năng ứng dụng công nghệ vào cuộc sống Trong các trường PT, bộ phận chuyên môn làm công tác tâm lý và tư vấn nghề cho HS, giúp các em khắc
Trang 18phục trở ngại về tâm lý trong quá trình học tập và định hướng chọn ngành nghề phù hợp với năng lực bản thân và thị trường lao động Đặc biệt giáo dục nghề nghiệp đã được đưa vào loại hình trường THPT có dạy nghề khá sớm Học sinh vừa được trang bị học vấn PT và có kỹ năng cần thiết để có thể học lên bậc đại học hoặc ra làm việc theo ngành nghề được đào tạo ngay
từ khi còn học PT Việc đưa GD nghề nghiệp vào trường PT vừa đáp ứng nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực của xã hội, vừa góp phần quan trọng vào việc phân luồng học sinh THCS và THPT
Tại Hoa Kỳ, chương trình “giáo dục nghề nghiệp” đã được đưa vào các cấp học phổ thông, chương trình này đã tạo điều kiện cho học sinh được tham gia vào các quá trình công nghệ để giải quyết các vấn đề thực tế của đất nước Việc huy động các tổ chức xã hội tham gia tổ chức GDHN cho học HSPT khá tốt Công tác tổ chức thành lập các Hội đồng bao gồm đại diện các trường học,
xí nghiệp, các thành phần kinh tế… để thực hiện sự hợp tác giữa nhà trường với
xã hội Gần 10.000 nghiệp đoàn đã tham gia vào công việc của Hội đồng, mỗi năm học thu hút trên 600.000 học sinh thực hành tại các cơ sở sản xuất, dịch vụ
Hệ thống trường phổ thông Cộng hoà Liên bang Đức rất chú trọng nguyên tắc GDHN, chuẩn bị cho HS đi vào trường đào tạo nghề tùy theo trình độ và năng lực học tập của mỗi HS Trẻ được phân loại ngay từ bậc tiểu học; Sau lớp 5, các trường học tiến hành phân loại HS dựa vào khả năng học tập của từng em để định hướng cho học hết lớp 10 rồi đi công nhân lành nghề - loại học hết lớp 12 và tiếp tục phân loại cho học sinh khá giỏi học lên lớp 13 thi tú tài toàn phần và và thi vào đại học Sự phân loại đó đã thể hiện rõ nét công tác GDHN cho HS ngay từ đầu cấp THCS Như vậy, HS có thể học thành thạo một nghề hoặc nhiều nghề ngay khi đang học PT, đây là một quan điểm hiện đại
Các công trình nghiên cứu của các tác giả ở viện Hàn lâm khoa học giáo dục - Cộng hòa Dân chủ Đức như: Heinz Frankiewicz, B.Gerner,
Trang 19D.Marschneider đã nêu lên sự phối hợp chặt chẽ giữa các trung tâm
GDKT-TH với nhà trường PT trong công tác tổ chức cho học sinh thực tế thực tập tại các trung tâm hoặc các đơn vị sản xuất Điều này cũng được các nhà khoa học ở Liên bang Đức chú ý khi nghiên cứu về việc tổ chức hoạt động lao
động nghề nghiệp cho HSPT Các tác giả đã đưa ra phương thức: “Phối hợp
cộng tác chặt chẽ giữa trung tâm giáo dục KTTH và các trường PT trong việc lập kế hoạch thực tập cho HSPT” [73; tr 6]
Tại Úc giáo dục nghề nghiệp (Career Education) nhằm phát triển những kỹ năng, kiến thức và thái độ thông qua một chương trình học tập được kế hoạch hóa để giúp HS đưa ra những quyết định về việc lựa chọn có tính HN sau khi học xong bậc phổ thông Các nhà khoa học đã nghiên cứu
và đưa ra 4 nhiệm vụ của HSPT ở các trung tâm hướng nghiệp Úc; 4 nhiệm
vụ này có mối quan hệ mật thiết và hỗ trợ lẫn nhau:
- Học về bản thân trong mối quan hệ với lao động: GDHN-LN đảm bảo cho HS được hiểu biết nhiều hơn về khả năng, thái độ của bản thân đối với các công việc, đối với lao động và về những ảnh hưởng của gia đình, bè bạn, cộng đồng đối với sự phát triển các khả năng và thái độ đó khi lựa chọn phương hướng lập nghiệp và tham gia thế giới việc làm
- Học về thế giới việc làm: GDHN-LN bảo đảm cho học sinh có cơ
sở để tự quyết định về lập nghiệp qua sự tìm tòi, phân tích các vai trò lao động và sự đóng góp của lao động
- Học và làm kế hoạch và ra quyết định về HN, lập nghiệp
- Ứng dụng những quyết định về HN- lập nghiệp và quản lý sự chuyển dịch sang lao động
Allan Walker trong công trình khoa học "Một số vấn đề về quản lý
giáo dục ở Australia" đã chỉ ra: "Nhà trường hiện nay không chỉ là nơi dạy
lý thuyết, mà phải cung cấp cho học sinh một khả năng chuyển đổi thật
Trang 20nhanh và có sự bình đẳng giữa các học sinh, làm cho học sinh vừa có kỹ
năng lao động, vừa có tri thức" [7; tr 53]
Theo tác giả Magumi Nishino thuộc viện nghiên cứu giáo dục Nhật,
HS trung học phải được bồi dưỡng kỹ năng lao động cơ bản của ngành
nghề: "Bồi dưỡng tri thức và kỹ năng cơ bản của những ngành nghề cần
thiết trong xã hội, có thái độ tôn trọng đối với lao động và khả năng lựa chọn ngành nghề tương lai phù hợp với mỗi cá nhân" [85; tr 49]
Trong những năm 50 của thế kỷ XX, Nhật đã quan tâm đến vấn đề hoàn thiện nội dung, hình thức dạy học kỹ thuật, cung cấp tri thức, rèn luyện kỹ năng lao động nghề nghiệp và phát triển tư duy sáng tạo cho HS, góp phần quan trọng cho công tác GDHN ở trường PT
Năm 1990, một đạo luật có tên gọi là: "Luật về duy trì hệ thống khuyến
khích học tập suốt đời" được thông qua, nhằm xây dựng một xã hội học tập
Theo chúng tôi, đây là một cách nhìn có tính bao quát rộng lớn về thế kỷ 21 của các nhà khoa học giáo dục Nhật Bản, nhằm tăng cường năng lực thực tiễn cho mọi người để phát triển nguồn nhân lực Trong tương lai, mỗi người công dân Nhật Bản cần phải có những kỹ năng đa dạng, phong phú, kỹ năng này không chỉ được học ở trường PT, mà còn được luyện tập, thực hành hàng ngày
và trong suốt cuộc đời Các nhà khoa học đã nêu lên vai trò quan trọng của gia đình và cộng đồng trong việc phối hợp GDHN cho học sinh
Theo tổ chức UNESCO, nếu coi học tập là quá trình liên tục kéo dài suốt
cả cuộc đời, thì phải nhìn nhận lại cả nội dung và cách tổ chức giáo dục trung học Sự phát triển vũ bão của cách mạng KH-KT và công nghệ đòi hỏi một thị trường lao động lớn Hiện nay trên toàn thế giới số lượng học sinh trung học tăng nhanh, nhưng ở một số nước thuộc châu Mỹ La Tinh số lượng học sinh tăng hàng năm tỷ lệ thuận với số HS lưu ban, bỏ học UNESCO cho rằng ở những nước này cần phải có những giải pháp tiên quyết và đồng bộ nhằm huy
Trang 21động các lực lượng xã hội tham gia vào công tác GD, mà đặc biệt là GDHN để phân luồng HS từ đầu cấp THCS
Khi phân tích "Những cột trụ của giáo dục" Jacques Delors, Chủ tịch
ủy ban Quốc tế độc lập về giáo dục cho thế kỷ XXI của UNESCO đã viết :
"Học tri thức, học làm việc, học cách chung sống và học cách tồn tại, đó là bốn cột trụ mà ủy ban đã trình bày và minh họa như những nền tảng giáo dục" [73; tr 6]
Tác giả đã nhấn mạnh HSPT có cơ hội phát triển năng lực của mình bằng cách tham gia các hoạt động nghề nghiệp song song với việc học
Tóm lại, giáo dục kỹ thuật nghề nghiệp và GDHN cho HSPT trên thế giới là xu thế chung được nhiều nước quan tâm, đây là một nội dung quan trọng trong GDHN cho HS Tuỳ theo yêu cầu và mục tiêu giáo dục phổ thông của từng nước mà mức độ, nội dung và phương pháp tiến hành khác nhau Nhưng tất cả đều nhằm một mục tiêu chung là cung cấp cho học sinh tri thức khoa học cơ bản và tạo cho HS những kỹ năng cần thiết trong cuộc sống
Các công trình khoa học của các tác giả ở một số nước trên thế giới
về GDHN trong trường PT đều đã chú trọng đến việc cải cách mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ sở vật chất - kỹ thuật phục vụ cho công tác HN, nhằm nâng cao hiệu quả của công tác này trong nhà trường và làm tốt công tác phân luồng học sinh Trên thực tế, việc huy động các tổ chức xã hội tham gia vào công tác GDHN ở nhiều nước trên thế giới đã được nghiên cứu và tổ chức thực hiện khá tốt
Xu thế hiện tại của các nước trên thế giới đều coi trọng việc dạy môn công nghệ ở trường phổ thông và đưa HS tham quan hoặc trực tiếp lao động tại các nhà máy, xí nghiệp có sự quản lý của nhà trường, đưa lao động gắn liền với giáo dục công nghệ để tiến hành GDHN
Qua nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy rằng xu hướng chung là các nước công nghiệp có nền kinh tế phát triển cao hay đang chuyển đổi đều
Trang 22rất coi trọng GDHN cho HSPT như một hoạt động chuẩn bị tạo nguồn nhân lực mới để học sinh tiếp cận sớm thế giới nghề, với tổ chức nền kinh
tế hiện đại dựa vào tri thức được thực hiện thông qua mọi hoạt động GDHN, các môn học khoa học và nhất là môn công nghệ học với tính chất tích hợp, liên môn, GD văn hoá công nghệ Các tổ chức chính trị xã hội, nghề nghiệp đóng vai trò quan trọng trong công tác phối hợp với nhà trường PT để tổ chức HN cho HS
1.1.2 Ở Việt Nam
Công tác GDHN ở nước ta đã được đề cập rất rõ nét trong Nghị quyết
số 14-NQ/TW ngày 11 tháng 1 năm 1979 của BTC về cải cách giáo dục Từ
đó đến nay công tác GDHN luôn được thể hiện trong các văn kiện của Đảng
và từng bước được phát triển theo hướng "cập nhật" những kiến thức mới,
xu hướng phát triển của XH và thực tiễn của đất nước
Từ cuối những năm 70 của thế kỷ XX, các công trình khoa học của các nhà tâm lý học, giáo dục học, xã hội học đã tiếp cận nghiên cứu nhiều vấn đề về GDHN cho HSPT ở những khía cạnh khác nhau:
- Tác giả Phạm Minh Hạc [50] phân tích tình hình giáo dục - đào tạo nước ta và xây dựng phương hướng đổi mới giáo dục từ việc xây dựng một nền giáo dục kỹ thuật, đó là “Nền giáo dục được chỉ đạo bằng tư tưởng phục vụ phát triển công nghệ” Tác giả đã đưa ra quan điểm về con người trong công cuộc đổi mới, đó là “ưu tiên đến việc giáo dục nghề nghiệp”, đây cũng là quan điểm của GDHN sau này
- Tác giả Phạm Tất Dong; Đặng Danh Ánh; Đoàn Chi nghiên cứu về hứng thú, khuynh hướng nghề nghiệp của học sinh và xây dựng chương trình hướng nghiệp chính khóa cho học sinh phổ thông [6 - 25 - 29 - 106 - 108];
- Cũng trong thời gian 1979 – 1981, Viện Khoa học dạy nghề và Tổng cục dạy nghề (cũ) đã tiến hành nghiên cứu nhiều công trình hướng nghiệp như hình thành phòng truyền thống, phòng tư vấn tuyển chọn nghề
Trang 23Giai đoạn 1982 - 1986 có đề tài mô tả nghề của các tác giả Đặng Danh Ánh, Nguyễn Viết Sự, Đỗ Thị Hòa, Phạm Đức Quang thực hiện Nhìn chung, những công trình này chỉ tập trung đề cập đến việc xây dựng các phòng hướng nghiệp và việc tư vấn nghề trong trường nghề và trường phổ
thông
Công tác GDHN ở trường PT trong những năm qua được nhiều tác giả
nghiên cứu Các tác giả đề cập đến vai trò, vị trí, tính chất, nội dung của công tác GDHN trong trường PT, đưa ra một số nhận xét về thực trạng công tác GDHN trong những năm qua và đề xuất một số nội dung cần quán triệt để nâng
cao hiệu quả công tác GDHN trong giai đoạn hiện nay như: "Giáo dục lao động
- kỹ thuật tổng hợp và hướng nghiệp trong trường phổ thông" và "Nhà trường phổ thông với việc giáo dục KTTH-HN và dạy nghề" của tác giả Nguyễn Trọng Bảo [15 - 16]; "Vấn đề giáo dục nghề trong trường phổ thông" và "Giáo dục lao động - kỹ thuật nghề nghiệp ở các cấp học của bậc THPT và những vấn đề cấp bách cần giải quyết" của tác giả Đoàn Chi [25]; "Hướng nghiệp trong trường phổ thông" của tác giả Đặng Danh Ánh [3]; "Một số giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục kỹ thuật và HN ở trường THCS và THPT trong thời gian tới" [92] của tác giả Nguyễn Viết Sự; “Về công tác hướng nghiệp trong trường PT hiện nay” của Nguyễn Toàn
Tác giả Nguyễn Văn Hộ với các công trình khoa học: "Thiết lập và phát triển hệ thống hướng nghiệp cho học sinh Việt Nam" (1988), “Cơ sở
sư phạm của công tác HN trong trường phổ thông”, “Hoạt động GDHN và giảng dạy kỹ thuật trong trường THPT”(2006), [60-61-62] đã nhấn mạnh việc hình thành các luận chứng cho hệ thống hướng nghiệp phổ thông trong điều kiện phát triển KT-XH của đất nước và đề xuất một số hình thức phối hợp giữa nhà trường phổ thông với các cơ sở đào tạo nghề, cơ sở sản xuất trong việc hướng nghiệp - dạy nghề cho học sinh phổ thông
Trang 24Các công trình nghiên cứu của tác giả Phạm Tất Dong về "Vấn đề hướng nghiệp trong văn kiện Đại hội Đảng Cộng Sản Việt Nam lần thứ IX" và
"Định hướng giáo dục hướng nghiệp trong trường THPT" [29-30], ngoài những vấn đề lý luận chung về hướng nghiệp, tác giả đã làm nổi bật vai trò quan trọng của công tác hướng nghiệp đối với việc phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam trong giai đoạn 2001 - 2010 nhằm đào tạo nguồn lao động chất lượng cao theo kịp sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế phục vụ sự nghiệp CNH - HĐH của đất nước Đồng thời tác giả đã phân tích cụ thể vai trò của quản lý nhà nước; vai trò của giáo dục trong việc điều chỉnh cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo đúng tỷ trọng của công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ đã được quy định trong chiến lược phát triển KT – XH, từ đó có cơ sở chỉ đạo xây dựng nội dung HN phù hợp, giúp con người có khả năng thích ứng với thị trường và làm chủ công nghệ mới
Trong những năm gần đây, đề tài khoa học cấp nhà nước "Thực trạng và giải pháp phát triển và nâng cao hiệu quả công tác hướng nghiệp trong trường phổ thông" [33] do tác giả Phạm Tất Dong cùng các tác giả Vũ Văn Tảo; Nguyễn Như Ất; Lưu Đình Mạc; Phạm Huy Thụ biên soạn đã khảo sát công tác giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THPT trên một diện rộng (35 tỉnh, thành phố) Đây là một trong những công trình khoa học về hướng nghiệp được nghiên cứu khá toàn diện cả lý luận và thực tiễn Ngoài những nhận định đánh giá về công tác HN ở trường phổ thông trong từng giai đoạn từ 1986 - 2003 theo tinh thần của quyết định 126/CP, các tác giả đã khái quát hóa kinh nghiệm HN của một số nước trên thế giới có tác động đến Việt Nam trong thời kỳ CNH - HĐH; trong đó coi trọng các yếu tố thị trường lao động, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong thời kỳ CNH – HĐH, sự hình thành nền kinh tế tri thức Từ đó, các tác giả đã chỉ ra sự cần thiết phải đưa bộ môn Công nghệ học vào trường phổ thông thay thế cho bộ môn Kỹ thuật phổ thông Việc đưa bộ môn công nghệ vào trường phổ thông thực chất là cải tiến công tác hướng nghiệp ở trường phổ thông theo xu hướng của thời đại,
Trang 25giúp học sinh tiếp cận với công nghệ mới mà các nước phát triển đã thực hiện từ nhiều năm trước đây
Qua nghiên cứu, các tác giả nói trên đã đề xuất một số giải pháp về công tác giáo dục hướng nghiệp ở Việt Nam trong giai đoạn 2005 - 2010
Các công trình khoa học: “Giáo dục phổ thông và hướng nghiệp - nền tảng phát triển nguồn nhân lực đi vào công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước”; của các tác giả Nguyễn Văn Lê, Trần Khánh Đức, Hà Thế Truyền, Bùi Văn Quân [78 - 79 - 80] đã đi sâu tìm hiểu về giáo dục phổ thông và GDHN trên thế giới, đồng thời đã phân tích, nhận định và rút ra một số kinh nghiệm quý báu cho GDPT và GDHN ở Việt Nam, tiến tới xây dựng khái niệm HN và đề xuất nhiều giải pháp có tính khả thi đối với GDPT và GDHN ở nước ta trong thời gian chuẩn bị nguồn nhân lực đi vào CNH - HĐH đất nước
Trong nhiều công trình khoa học khác như: “Một số giải pháp nâng
cao chất lượng giáo dục kỹ thuật và hướng nghiệp ở trường THCS và THPT trong giai đoạn tới”; "Về giáo dục kỹ thuật và hướng nghiệp trong giáo dục phổ thông ở nước ta thời gian tới"; và "Một số giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục kỹ thuật và hướng nghiệp ở trường phổ thông" [92 - 93 - 94], Nguyễn
Viết Sự đã xây dựng cơ sở phương pháp luận về GDKT&HN, đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường giáo dục GDHN cho HSPT
Tác giả Nguyễn Đức Trí với “Một số vấn đề về hướng nghiệp”; “Giáo
dục hướng nghiệp trong trường phổ thông vấn đề và định hướng giải pháp”
[112 - 113], đã nêu lên thực trạng của giáo dục Việt Nam là:
“Cầu việc làm lớn hơn rất nhiều so với cung việc làm”
“Cầu học lớn hơn nhiều so với cung học”
“Quy mô đào tạo nghề tăng nhưng chưa có tư vấn chọn nghề phù hợp, cơ cấu ngành nghề, cơ cấu vùng miền rất bất hợp lý, chất lượng nghề thấp dẫn tới tình trạng vừa thừa vừa thiếu”
Trang 26“Số người được đào tạo nghề dễ tìm việc làm hơn số người được đào tạo ở trình độ cao đẳng và đại học trong khi học sinh sau trung học phổ thông lại đổ xô vào đại học và cao đẳng, xem đào tạo nghề là “bước đường cùng” Từ đó tác giả đã nêu lên một số định hướng cho GDHN trong trường
PT trong những năm tới
Một số công trình nghiên cứu của các tác giả như "Một số giải pháp tổ
chức hoạt động dạy học kỹ thuật ứng dụng (nghề phổ thông) cho học sinh phổ thông bậc Trung học tại các trung tâm KTTHHN-DN" của Hà Thế Truyền,
"Hình thành tư duy kỹ thuật (như là một thành tố của sự sẵn sàng tâm lý đi vào lao động) cho học sinh phổ thông" của Phạm Ngọc Uyển, "Trao đổi về những vấn đề nổi cộm cần kịp thời tháo gỡ trong HN - DN - Phân luồng và sử dụng học sinh ra trường" của Phạm Huy Thụ và Vũ tiến Trinh, [115 - 96 -
105] đã nghiên cứu một số vấn đề về phương pháp tổ chức cho HSPT học nghề, sinh hoạt HN; xây dựng cơ chế phối hợp của trung tâm KTTH-HN, về nguồn giáo viên, nguồn tài chính, cơ sở vật chất cho GDHN
Trong các công trình khoa học trên đây, ngoài việc nhấn mạnh vai trò của bộ môn kỹ thuật ứng dụng (nay là Công nghệ) hỗ trợ cho GDHN, các tác giả đã nói đến sự cần thiết phải mở rộng đối tượng là cha mẹ học sinh trong công tác phổ cập kiến thức HN Đây cũng là một khía cạnh để thực hiện XHH công tác GDHN Song các tác giả chưa đi sâu vào nghiên cứu các nội dung tổ chức GDHN cho HS THPT theo tinh thần XHH
Một số Luận văn thạc sỹ của Đào Công Minh (2006) “Những biện
pháp quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở trung tâm KTTHHN Hải Phòng”, Nguyễn Ngọc Minh (2007) “Nhận thức của giáo viên về tư vấn hướng nghiệp trong trường THPT”, đã cho thấy thực trạng về hoạt động
GDHN cho học sinh PT ở một số trung tâm KTTH-HN và các trường THPT đã đưa ra nhận xét:
Trang 27+ Trên 90% học sinh trung học có nhu cầu tư vấn HN
+ Nhận thức của một số cán bộ QLGD, đặc biệt là giáo viên về thị trường lao động, thị trường đào tạo còn nhiều hạn chế
+ Mục tiêu của GDHN của các trường THPT và các trung tâm KTTH-HN còn chung chung, chưa sâu sắc
+ Kỹ năng, phương pháp tổ chức tư vấn hướng nghiệp thiếu tính hệ thống và đồng bộ
+ Chưa có cơ chế phối hợp giữa nhà trường với trung tâm KTTH-HN Trên cơ sở đó, các tác giả đã đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động GDHN, biện pháp khắc phục về nhận thức đối với hoạt động GDHN Tuy nhiên, các tác giả chưa nghiên cứu về các yếu tố như vai trò và ảnh hưởng của xã hội đối với GDHN ở các trung tâm KTTH-HN
và nhà trường phổ thông
Có thể nói rằng các công trình nghiên cứu về GDHN và GDHN theo tinh thần xã hội hóa của các tác giả trong và ngoài nước có nhiều giá trị khoa học về lý luận và thực tiễn đối với đề tài chúng tôi nghiên cứu Qua nghiên cứu chúng tôi có thể rút ra một số nhận xét sau đây:
Các công trình khoa học được các tác giả nghiên cứu ở các khía cạnh khác nhau, cách khai thác, xây dựng khác nhau nhưng đều
có một mục tiêu chung là nâng cao hiệu quả GDHN đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực
Trong các công trình khoa học của các tác giả trong và ngoài nước, vấn đề được làm sáng tỏ đó là khái niệm, nội dung, tính chất và các hình thức giáo dục HN trong nhà trường PT Mặc dầu ở mỗi quốc gia có một cách hiểu, cách làm khác nhau, nhưng tất cả đều giúp cho HS trong các trường PT có một cách nhìn đúng đắn, có một sự hiểu biết về nghề nghiệp
và thị trường lao động, tạo niềm tin để hòa nhập vào cuộc sống
Trang 28 Trong quá trình nghiên cứu cả về lý luận và thực tiễn cho thấy nhiều nước trên thế giới như Liên xô (cũ), Cộng hoà Pháp, Đức… đã làm tốt việc huy động các lực lượng xã hội cùng tham gia HN với trường phổ thông, đây là đặc điểm khác biệt đối với Việt Nam Mặt khác, các tác giả đã
đi sâu khai thác các yếu tố tác động đến công tác GDHN trong trường PT, thể hiện tầm nhìn, định hướng của GDHN trong thời kỳ CNH - HĐH trong bối cảnh cụ thể của mỗi quốc gia
Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi nhận thấy, trong điều kiện đất của nước ta hiện nay GDHN có nhiều vấn đề không còn phù hợp cần được quan tâm giải quyết Trong đó, việc huy động các lực lượng xã hội cùng phối hợp với nhà trường PT tổ chức GDHN cho học sinh THPT là một trong những vấn đề hết sức quan trọng cần được nghiên cứu để có những giải pháp thực hiện đồng bộ
1.2 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CÔNG CỤ
Tài liệu GDHN trong trường học của Australia có định nghĩa sau:
“Trong nhà trường phổ thông, hướng nghiệp là công việc của tập thể sư
phạm nhằm giáo dục học sinh lựa chọn nghề nghiệp một cách tốt nhất Nghĩa là trong sự lựa chọn đó có sự phù hợp giữa nguyện vọng nghề nghiệp của các cá nhân với yêu cầu phát triển kinh tế xã hội và có sự phù hợp giữa năng lực của cá nhân với đòi hỏi của nghề” [80; tr 39]
Trang 29Trên bình diện xã hội, hướng nghiệp có thể hiểu như là một hệ thống
tác động của xã hội về giáo dục học, y học, kinh tế học.v.v nhằm giúp cho thế hệ trẻ chọn nghề vừa phù hợp hứng thú, năng lực, nguyện vọng, sở trường của cá nhân, vừa đáp ứng được nhu cầu nhân lực của các lĩnh vực sản xuất trong nền kinh tế quốc dân
Theo UNESCO, hướng nghiệp là một quá trình cung cấp cho người học những thông tin về bản thân, về thị trường lao động và định hướng cho người học có các quyết định phù hợp với sự lựa chọn nghề nghiệp
Ngày nay, người ta đã nhận thấy chỉ cung cấp thông tin là không đầy đủ, mà cần phải chỉ ra sự phát triển về mặt cá nhân, xã hội, giáo dục
và nghề nghiệp của HS Một sự thay đổi khác có ảnh hưởng lớn đến hoạt động HN là nó được nhận thức như là một quá trình phát triển, đòi hỏi một cách tiếp cận chương trình chứ không chỉ đơn giản là các cuộc phỏng vấn cá nhân tại các thời điểm quyết định
“Hướng nghiệp là hệ thống các biện pháp được tiến hành trong và
ngoài nhà trường để giúp học sinh có kiến thức về nghề nghiệp và có khả năng lựa chọn nghề nghiệp trên cơ sở kết hợp nguyện vọng, sở trường của cá nhân với nhu cầu sử dụng lao động của xã hội” [88; tr 2]
Lao động nghề nghiệp là quyền lợi của mỗi con người trong xã hội Trong chế độ xã hội chủ nghĩa, bất kỳ người nào cũng đều phải lao động, lao động có nghề nghiệp Do đó, mỗi học sinh phải được HN Với cách hiểu như vậy, HN cũng là quyền lợi đối với học sinh
Học sinh cần được chọn nghề theo hứng thú, sở thích và công tác HN phải giúp các em ngày càng nhận thức sâu sắc nghĩa vụ lao động, nhu cầu nhân lực mà xã hội đặt ra Do đó, HN phải là công việc được xã hội quan tâm đặc biệt, không nên để HS chọn nghề một cách tự phát, cũng không nên để cho số phận của mỗi HS, mỗi thanh niên phụ thuộc vào những gì hết sức ngẫu nhiên
Trang 30Hướng nghiệp là quá trình dắt dẫn thế hệ trẻ đi vào thế giới nghề nghiệp, giúp cho họ phát huy được hết năng lực lao động trong thế giới đó,
có được cuộc sống thỏa mãn với lao động nghề nghiệp
Có thể nói rằng, HN là công việc mà toàn xã hội có trách nhiệm tham gia Trong những điều kiện lý tưởng, học sinh cần được HN liên tục và thường xuyên bằng nhiều hình thức, bằng nhiều con đường Nếu xã hội biết tận dụng câu lạc bộ, nhà văn hóa, rạp chiếu phim, vô tuyến truyền hình, đài phát thanh, nhà xuất bản, thư viện.v.v vào công tác HN, tác dụng hướng dẫn chọn nghề đối với học sinh sẽ rất to lớn
Thông qua hướng nghiệp, mỗi HS phải lĩnh hội được những thông tin
về nghề nghiệp trong xã hội, đặc biệt là nghề nghiệp ở điạ phương, phải nắm được hệ thống yêu cầu của từng nghề cụ thể mà mình muốn chọn, phải
có kỹ năng tự đối chiếu những phẩm chất, những đặc điểm tâm - sinh lý của mình với hệ thống yêu cầu của nghề đang đặt ra cho người lao động.v.v
Nhà trường phổ thông làm nhiệm vụ "hướng nghiệp cho người khác", có nghĩa là nhà trường sẽ giúp HS đi vào các nghề trong xã hội Song, thực ra trường
PT có trách nhiệm HN sư phạm, giúp vào việc phát hiện những trẻ em có năng lực sư phạm, hướng các em vào nghề thầy giáo Như vậy, cùng với nhiệm vụ
"hướng nghiệp cho người khác", trường PT cũng "hướng nghiệp cho mình"
Công tác HN trong trường PT chỉ là một bộ phận của công tác HN của toàn XH Vì vậy, công tác HN trong trường phải thống nhất với công tác HN trong xã hội Hai bộ phận này có quan hệ mật thiết với nhau, bổ sung và hỗ trợ cho nhau Công tác GDHN không thể có hiệu quả nếu nhà trường tiến hành một cách biệt lập hoặc ngược lại
Trong trường PT, giáo viên là người tổ chức, hướng dẫn, học sinh là người chủ động tham gia vào các hoạt động để tiếp cận với hệ thống nghề nghiệp để tự quyết định cho việc lựa chọn nghề nghiệp trong tương lai
Trang 31Xét trên bình diện trường phổ thông, HN là một hình thức hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò Với tư cách là hoạt động dạy của thầy,
HN được coi như là công việc của toàn thể giáo viên, tập thể sư phạm, có mục đích giáo dục học sinh trong việc chọn nghề, giúp các em tự quyết định nghề nghiệp tương lai trên cơ sở phân tích khoa học về năng lực, hứng thú của bản thân và nhu cầu nhân lực của các ngành sản xuất trong xã hội Như vậy HN trong trường PT được thể hiện như một hệ thống tác động sư phạm nhằm làm cho HS chọn được nghề một cách phù hợp
Với cách hiểu này, hướng nghiệp là nhiệm vụ của bất kỳ thành viên
nào trong tập thể sư phạm: Hiệu trưởng, phó Hiệu trưởng, giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn, cán bộ phụ trách Đoàn Thanh niên v.v vấn đề là phải có sự phân công, phân nhiệm cụ thể cho từng đối tượng nói trên
Từ các khái niệm trên cho thấy, hướng nghiệp là quá trình hướng dẫn chọn nghề, quá trình chuẩn bị cho thế hệ trẻ đi vào lao động sản xuất xã hội HN
là một hệ thống các biện pháp tác động của gia đình, nhà trường và xã hội, trong
đó nhà trường đóng vai trò chủ đạo, nhằm hướng dẫn và chuẩn bị cho thế hệ trẻ sẵn sàng đi vào lao động Mục đích chủ yếu của công tác HN cho HSPT là bồi dưỡng, hướng dẫn việc lựa chọn nghề của HS cho phù hợp với yêu cầu phát triển của XH, đồng thời phù hợp với năng khiếu và sở trường của cá nhân
Muốn làm tốt nhiệm vụ HN cho HS PT, cần có sự kết hợp chặt chẽ giữa
3 nội dung (3 khâu): định hướng nghề - tư vấn nghề - tuyển chọn nghề
Ba nội dung trong công tác HN được biểu hiện theo sơ đồ sau:
Tƣ vấn chọn nghề
Tuyển chọn nghề
Trang 32+ Định hướng nghề: Đối tượng tác động chủ yếu là học sinh và
PHHS Giai đoạn định hướng nghề có nhiệm vụ:
- Cung cấp thông tin về sự phát triển của các nghề trong xã hội và ở địa phương Đặc biệt là những nghề đang phát triển trong thời kỳ đất nước hội nhập cần có một nguồn lao động lớn với tay nghề cao
- Cung cấp thông tin về hệ thống các trường chuyên nghiệp (ĐH, CĐ, TCCN) và các cơ sở đào tạo nghề, các cơ sở sản xuất, dịch vụ…
- Thực hiện đồng bộ nhiều biện pháp nhằm giúp HS làm quen với nghề;
+ Tư vấn nghề: Là một hình thức góp ý, đưa ra những lời khuyên của
đội ngũ cán bộ, giáo viên HN, của đại diện các tổ chức, cá nhân phối hợp (đại diện các trường ĐH, CĐ, TCCN, các cơ sở dạy nghề, doanh nghiệp, cơ
sở sản xuất dịch vụ, Hội CMHS…) cho thanh, thiếu niên;
Để thực hiện tốt khâu tư vấn nghề cho HS, các trường THPT phải thành lập ban HN và xây dựng cơ chế phối hợp các lực lượng có liên quan
+ Tuyển chọn nghề: Căn cứ vào nhu cầu nhân lực của từng nghề cụ
thể để chọn những HS có đặc điểm, nhân cách phù hợp Để thực hiện khâu tuyển chọn nghề được tốt, các trường chuyên nghiệp phải dựa vào trường phổ thông để nắm chắc đặc điểm của học sinh
Ba nội dung nói trên có mối quan hệ mật thiết và tác động qua lại lẫn nhau; khâu tuyển chọn nghề tuy không phải chức năng của trường PT, nhưng lại xuyên suốt hai quá trình định hướng nghề và tư vấn nghề, vì vậy trong quá trình tổ chức thực hiện không được coi nhẹ một khâu nào
1.2.2 Tổ chức và tổ chức giáo dục hướng nghiệp
1.2.2.1 Tổ chức
Tuỳ thuộc vào cách tiếp cận khác nhau mà người ta đưa ra những những định nghĩa khác nhau về tổ chức
Trang 33Nghiên cứu về quản lý, các nhà khoa học đều cho rằng tổ chức là một trong những chức năng cơ bản của quản lý
Theo tác giả P.M.Kecgientxep: “Tổ chức” nghĩa là liên hiệp nhiều người lại để thực hiện một công việc nhất định Chúng ta cũng có thể gọi bản thân hình thức liên hiệp đó là một “Tổ chức”
P.M.Kecgientxep cho rằng “Tổ chức” có 7 yếu tố cơ bản:
- Mục tiêu: Mục tiêu hoặc nhiệm vụ công tác là gì
- Loại hình tổ chức: Loại hình tổ chức nào là thích hợp nhất
- Phương pháp: Phải vận dụng những phương pháp tổ chức như thế nào để đạt được mục tiêu đã định
- Con người: Cần có những con người giúp việc và sử dụng đội ngũ như thế nào để thực hiện công tác
- Phương tiện vật chất: Cần có những loại vật liệu nào và phải dùng những công cụ nào để chế biến những vật liệu đó theo các phương pháp đã vạch ra
- Thời gian: Trong khoảng thời gian nào thì công việc có thể và phải được hoàn tất
Trang 34Từ đó, tác giả cho rằng: Tổ chức là tập thể một số người có sự phân công công việc, do một số cá nhân thành lập, nhằm đạt đến một số mục tiêu nhất định, được tạo dựng một cách có kế hoạch, liên kết với nhau, mang tính hỗn hợp, tương đối lâu dài Tập thể này có tối thiểu một trung tâm ra quyết định và kiểm tra, điều hành việc hợp tác lẫn nhau
Theo lý thuyết hệ thống thì tổ chức là những hệ thống được tạo bởi những nhân tố lệ thuộc chung với nhau, được vận hành theo mục tiêu, trong một giới hạn và trạng thái cân bằng
Theo quan điểm của xã hội học, tổ chức là những thực thể xã hội phối hợp với nhau có mục đích, là những hệ thống xã hội được cơ cấu theo mục tiêu
Dưới góc độ tâm lý xã hội, tổ chức được hiểu là một nhóm có tổ chức của các cá nhân hoặc là những hệ thống tương tác xử lý các thông tin và đưa ra quyết định
Như vậy, chúng ta thấy rằng khái niệm tổ chức mang tính bất định và tính đa nghĩa Tổ chức trong quản lý có 2 ý nghĩa cơ bản, chúng có liên quan và bổ sung cho nhau:
Ý nghĩa thứ nhất, tổ chức là một tập hợp các bộ phận, con người gắn với một chức năng, nhiệm vụ; tổ chức với tư cách là một danh từ Ở đây tổ chức được nhận diện là tổ chức bộ máy
Ý nghĩa thứ hai, tổ chức là triển khai các hoạt động theo kế hoạch, tổ chức theo nghĩa động từ, ở đây tổ chức được coi là một chức năng hoạt động quản lý, hay nhấn mạnh đến đặc tính động, đến phương diện mang tiến trình của khái niệm
Ở đây, chúng tôi sử dụng cả hai nghĩa cơ bản của tổ chức
Từ những cách tiếp cận khác nhau nói trên, chúng ta có thể hiểu khái niệm tổ chức như sau:
Trang 35+ Tổ chức là một nhóm xã hội trên cơ sở tập hợp những con người có
sự thống nhất về mục đích, có sự phối hợp chặt chẽ về hành động và có văn bản pháp quy quy định
+ Tổ chức là một đơn vị xã hội, được điều phối một cách có ý thức,
có phạm vi tương đối rõ ràng, hoạt động nhằm đạt được một hoặc nhiều mục tiêu chung
+ Tổ chức là một quá trình triển khai các kế hoạch Như vậy, tổ chức bao gồm 3 chức năng của quá trình quản lý, đó là:
- Xây dựng những hình thức cơ cấu làm khuôn khổ để triển khai kế hoạch
- Chỉ đạo thực hiện kế hoạch
- Kiểm tra đối với kế hoạch
Mục đích của tổ chức là làm cho những mục tiêu trở nên có ý nghĩa
và góp phần tăng thêm tính hiệu quả về mặt tổ chức Một cơ cấu tổ chức được coi là có hiệu quả nếu nó cho phép mỗi cá nhân góp phần công sức vào các mục tiêu của đơn vị
Như vậy khi ta nói tổ chức hoạt động GDHN là chúng ta nhấn mạnh ý nghĩa tổ chức là một chức năng quản lý công tác GDHN
1.2.2.2 Tổ chức giáo dục hướng nghiệp
Tổ chức GDHN cho HS PT là toàn bộ hệ thống các giải pháp, phương pháp được thực hiện trong quá trình quản lý, phân công trách nhiệm, sắp xếp,
bố trí người thực hiện, phối hợp các hoạt động trong và ngoài nhà trường nhằm đưa hệ thống hoạt động đồng bộ, có hiệu quả cao
Tổ chức GDHN có các nhiệm vụ sau đây:
+ Xác định cấu trúc hợp lý cho hoạt động GDHN
+ Tạo một mạng lưới các quan hệ tổ chức giữa chủ thể quản lý với các tập thể, cá nhân
+ Chỉ ra những nhận thức mới có cơ sở khoa học từ thực tiễn của hoạt động GDHN
Trang 36+ Tạo ra một môi trường bên trong thuận lợi
+ Xem xét các điều kiện đảm bảo cho GDHN: Con người, CSVC, các nguồn lực hỗ trợ từ các tổ chức, cá nhân…
Tổ chức GDHN (cho học sinh THPT) là một chức năng quản lý giáo dục ở trường THPT, nhằm đảm bảo cơ cấu tổ chức và nhân sự cùng các nguồn lực khác
để thực hiện quá trình GDHN cho HS theo mục tiêu của GDHN THPT
Từ đó, chúng ta có thể hiểu: “Tập hợp hệ thống các giải pháp quản lý có tính tổ chức quá trình GDHN” có thể gọi là “Tổ chức giáo dục hướng nghiệp” Giải pháp tổ chức GDHN cho HS THPT là sự tập hợp các biện pháp chủ yếu của giai đoạn tổ chức và một số biện pháp của các giai đoạn khác, nhằm đưa GDHN cho HS THPT đạt hiệu quả mong muốn
Tổ chức GDHN (HN cho học sinh THPT) là một chức năng quản lý giáo dục ở trường THPT, nhằm đảm bảo cơ cấu tổ chức và nhân sự cùng các nguồn lực khác và thực hiện quá trình GDHN cho HS theo mục tiêu của giáo dục hướng nghiệp THPT Cơ cấu tổ chức GDHN trong trường phổ thông được
cụ thể hoá qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 2: Cơ cấu tổ chức GDHN trong trường phổ thông
Tổ giáo viên chủ nhiệm
Đoàn thanh niên
BAN HƯỚNG NGHIỆP
HIỆU TRƯỞNG
Các tổ chuyên môn
Trang 371.2.3 Giáo dục hướng nghiệp theo tinh thần xã hội hoá
1.2.3.1 Thuật ngữ "Xã hội hóa"
Khái niệm "Xã hội hóa" xuất hiện ở Paris vào những năm 1902 - 1903; trong đó, giáo dục được coi như là một "Socialisation méthodique"
Từ đó đến nay khái niệm XHH được dùng trong nhiều lĩnh vực với nhiều ý nghĩa Đây là vấn đề được nhiều nhà khoa học thuộc nhiều lĩnh vực trên thế giới quan tâm
Ở bình diện triết học, tâm lý học, xã hội học, N.K Gontscharow cho rằng "Xã hội hóa là quá trình cá nhân hòa nhập vào xã hội hay vào một trong các nhóm của họ thông qua quá trình học các chuẩn mực và giá trị của từng nhóm và xã hội" [89; tr31]
Theo F.W.Krow: "Quá trình xã hội hoá được hiểu chung là một quá trình biện chứng, trong đó, mỗi người với tư cách là thành viên của xã hội trở nên có năng lực hành động và mặt khác, thông qua quá trình này duy trì
và tái sản xuất xã hội" [89; tr31]
Ở bình diện hoạt động xã hội, thông thường khi nói đến XHH, người ta thường nhấn mạnh ở hai khía cạnh: một là XHH cá nhân (như các tác giả nêu trên); hai là XHH là một quá trình nâng cao vai trò xã hội hay tăng tính xã hội trong các hoạt động trong một ngành và rộng hơn là trong một nước
Ở đây, chúng ta có thể hiểu: Xã hội hoá là tăng cường tính chất xã hội và hiệu quả của các hoạt động trong một Nhà nước bằng cách phát huy vai trò của các tổ chức xã hội trong cộng đồng với tinh thần tự nguyện cả về ý chí, tinh thần, trí tuệ, các nguồn lực vật chất nhằm động viên được mọi thành phần kinh
tế, mọi cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước tham gia vào quá trình xây dựng
và phát triển đất nước
Trong các văn kiện của Đảng và Nhà nước, thuật ngữ xã hội hoá được hiểu là sự huy động lực lượng toàn xã hội vào một sự nghiệp Khái niệm XHH
Trang 38được dùng trong các văn kiện của Đảng bắt nguồn từ quan điểm "Cách mạng là
sự nghiệp của quần chúng" Trong giai đoạn phát triển CNH - HĐH đất nước nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, sự hội nhập và hợp tác với các nước trong khu vực và trên thế giới đặt ra cho giáo dục một nhiệm vụ hết sức nặng nề
Xã hội hoá là một chủ trương có nội dung rất phong phú Đó là quá trình vận động quần chúng nâng cao tính tích cực và ý thức tự giác Xã hội hoá không phải là một giải pháp tình thế, mà là một tư tưởng chiến lược
Những quan điểm trên đây đã nêu lên được một số nội dung cơ bản thuộc phạm trù xã hội hoá nhìn trên các khía cạnh khác nhau Xã hội hoá một lĩnh vực nào đó thực chất là quá trình tương tác để làm sao cho nội dung, thành quả của lĩnh vực đó thấm sâu đến mọi người và toàn xã hội, làm cho mọi người trong xã hội tiếp nhận được và tích cực tham gia đóng góp về tinh thần, vật chất cho lĩnh vực đó Đồng thời mọi người trong xã hội đều được hưởng thụ những thành quả do lĩnh vực đó mang lại
Khái niệm XHH được Đại hội VIII đưa ra có nội hàm rất phong phú, bao gồm cả nội dung, công tác vận động quần chúng đến phương châm
"Nhà nước và nhân dân cùng làm", nhưng lại không đồng nhất với từng nội
dung đó Đây là một bước tiến mới trên bình diện lý luận cũng như trong chỉ đạo hoạt động thực tiễn nhằm thực hiện hóa chủ trương đường lối quan trọng của Đảng trong việc giải quyết các vấn đề của xã hội nói chung XHH
ở nước ta bao gồm cả hai mặt: sự đóng góp cho xã hội và sự hưởng thụ
những lợi ích mang lại từ xã hội
Đảng và Nhà nước ta đã có những chủ trương cụ thể về vấn đề xã hội hoá được thể hiện trong vác văn bản: Nghị quyết 90 - NQ/CP (ngày 21/8/1997) ,
Trang 39Nghị định 73/1999/NĐ-CP (ngày 19/8/1999), Nghị quyết 05/2005 (ngày 18/4/2005) Chính phủ đã xác định nội dung chủ yếu của xã hội hoá là:
- Vận động và tổ chức sự tham gia rộng rãi của nhân dân, của toàn xã hội vào một lĩnh vực cụ thể
- Xây dựng cộng đồng trách nhiệm của các tổ chức Đảng, Nhà nước, đoàn thể nhân dân, các tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp và của các tầng lớp nhân dân đối với việc tạo ra và phát triển một môi trường kinh tế - xã hội cho các hoạt động văn hoá - xã hội
- Đa dạng hoá các hình thức hoạt động trong các lĩnh vực văn hoá -
xã hội, mở rộng cơ hội cho các tầng lớp nhân dân được tham gia một cách chủ động và bình đẳng vào các hoạt động xã hội
- Đa dạng hoá các nguồn đầu tư, khai thác các nguồn nhân lực, vật lực đang tiềm ẩn trong xã hội
1.2.3.2 Xã hội hóa giáo dục
Khái niệm xã hội hóa giáo dục (XHHGD) ở mỗi quốc gia có một quan niệm khác nhau
Các nước trên thế giới coi việc huy động cộng đồng tham gia vào công tác giáo dục là một tất yếu Yếu tố sức mạnh cộng đồng là điều kiện quan trọng đem lại hiệu quả trong giáo dục của các nước Một số nước không sử dụng thuật ngữ "XHHGD" mà dùng các khái niệm khác như:
+ Phi tập trung hóa (decentralization) với hai nội dung: phân quyền hạn và trách nhiệm cho cơ sở, huy động sự tham gia của cộng đồng, các tổ chức phi chính phủ và các tổ chức quần chúng vào việc phát triển giáo dục
+ Đại chúng hóa giáo dục (mass education) đưa học vấn đến cho mọi người UNESCO lấy thập kỷ 90 của thế kỷ XX làm "Thập kỷ giáo dục cho mọi người" nhằm vào phát triển GD cơ sở, GD thường xuyên
Trang 40+ Giáo dục suốt đời (longlife education) nói về một quá trình học tập liên tục, trong đó mỗi người đều có cơ hội học liên tục để không bị lạc hậu so với những biến đổi của khoa học kỹ thuật và sự phát triển của xã hội
+ Xã hội học tập (learning societi) - "Báo cáo của Uỷ ban văn hoá giáo dục của Liên hiệp quốc của thế kỷ XXI" - UNESCO, đưa ra triết lý bốn trụ cột dựa trên nền tảng: học suốt đời và hướng về "xã hội học tập"
+ Giáo dục cộng đồng (community education) mọi hoạt động giáo dục nhằm vào lợi ích cộng đồng và hướng vào việc nâng cao chất lượng cuộc sống
+ Công bằng xã hội trong giáo dục: Tạo ra cơ hội ngang nhau giữa mọi người trong sự tham gia và hưởng thụ thành quả giáo dục; thái độ bình đẳng trong quá trình tham gia và hưởng thụ
Các nước phát triển coi giáo dục thực sự trở thành nhân tố phát triển
KT – XH vì GD thực hiện các nhiệm vụ cơ bản là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực có trình độ tay nghề cao, giải quyết được sự mất cân bằng giữa phát triển KT - XH, tạo việc làm cho người lao động Do đó giáo dục phải được XHH, đại chúng hoá và thực sự trở thành nhân tố thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế của đất nước Đó cũng là quan điểm mà nhiều nước như Trung Quốc, Pháp, Đức, Hàn Quốc, Singapore coi trọng Ấn Độ, Nhật Bản coi trọng việc huy động XH tham gia vào GD; gắn với vấn đề phát triển nông thôn thông qua liên kết với đào tạo nghề, thực hiện xóa đói giảm nghèo, công bằng XH về giáo dục
Từ những cách nhìn, quan niệm ở những góc độ và xuất phát điểm khác nhau, nhưng nhìn chung các nước đều coi trọng vai trò của GD đối với phát triển KT - XH; phát triển GD theo phương thức XHH
Ở nước ta, khái niệm XHHGD được sử dụng từ giữa thế kỷ XX Cho đến nay vẫn có nhiều quan niệm khác nhau về khái niệm XHHGD, phần lớn