9. CẤU TRÚC CỦA LUẬN ÁN
2.2. Thực trạng về giáo dục hướng nghiệp theo tinh thần xã hội hoá ở nước ta trong những năm qua
2.2.1. Giáo dục hướng nghiệp theo tinh thần xã hội hoá qua 4 hình thức trong trường THPT
Ngày 19/03/1981, Hội đồng Chính phủ ban hành Quyết định 126/CP về công tác hướng nghiệp trong trường phổ thông và việc sử dụng hợp lý học sinh các cấp phổ thông cơ sở và phổ thông trung học tốt nghiệp ra trường. Theo Quyết định 126/CP việc tiến hành HN theo 4 hình thức nhằm giúp đỡ HS định hướng chọn nghề, đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực của xã hội, phù hợp với hứng thú, năng lực của cá nhân, đó là:
+ HN qua hoạt động dạy học các bộ môn văn hoá, khoa học cơ bản.
+ HN qua hoạt động dạy học kỹ thuật PT và lao động sản xuất.
+ HN qua hoạt động ngoại khoá trong và ngoài nhà trường.
+ HN qua chương trình GDHN chính khoá.
Kết quả điều tra việc thực hiện 4 hình thức GDHN từ 2.750 HS thuộc 21 trường THPT hai tỉnh Quảng Trị và Hà Tĩnh thu được ở bảng sau:
Bảng 1. Tổng hợp kết quả điều tra 4 hình thức GDHN T
TT CÁC CON ĐƯỜNG
Thực hiện
tốt (%)
Có thực hiện (%)
Không thực hiện (%) 1 Hướng nghiệp qua dạy - học các bộ
môn khoa học cơ bản
0 46,2 53,8
2 Hướng nghiệp qua dạy học môn KTPT(CN )
17,5 73,1 9,4 3 Hướng nghiệp qua các buổi "Sinh
hoạt HN"
14,7 45,8 39,5 4 Hướng nghiệp qua hoạt động ngoại
khóa trong và ngoài trường
0 22,8 77,2
Những số liệu ở bảng (1) cho thấy trong những năm qua hầu hết các trường THPT chưa thực hiện tốt 4 hình thức GDHN theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, cụ thể:
Việc HN qua việc dạy các bộ môn khoa học cơ bản ở các trường THPT còn yếu, có 53,8% ý kiến cho rằng các trường không thực hiện, 46,2% ý kiến cho rằng có thực hiện. Trong thực tế, công việc giảng dạy hàng ngày rất ít giáo viên làm tốt được công việc này, theo chúng tôi nhận định do các nguyên nhân sau đây:
- Giáo viên dạy các bộ môn khoa học cơ bản (văn, toán, lý, hoá...) thiếu kiến thức về hướng nghiệp, nhưng không được đào tạo hoặc đào tạo lại.
- Yêu cầu về kiến thức kỹ năng liên hệ giữa nội dung bài học với nội dung lao động của nghề tương lai không được đặt ra và cũng không nằm trong nội dung khi kiểm tra giáo án, vì thế đây chưa phải là nội dung bắt buộc.
- Phần lớn giáo viên bộ môn chỉ quan tâm đến việc truyền thụ kiến thức cơ bản, không quan tâm đến việc HN cho học sinh thông qua bộ môn của mình. Một số nhà giáo có kiến thức vững chắc, có nhiều kinh nghiệm trong giảng dạy mới chú ý đến GDHN qua môn học,
- Hầu hết các trường THPT không triển khai đồng bộ việc lồng ghép, tích hợp kiến thức HN vào trong các giờ lên lớp.
Hướng nghiệp qua dạy học kỹ thuật phổ thông (KTPT) và lao động sản xuất (LĐSX):
Kết quả điều tra cho thấy có 90,6% người được hỏi cho rằng có thực hiện và thực hiện tốt; nhưng phần lớn giáo viên dạy không đúng chuyên môn đào tạo nên không hiểu biết về nghề, vì vậy từ khâu chuẩn bị giáo án đến khi lên lớp thường thiếu kiến thức thực tế, nên không chỉ ra những kiến thức trong bài có ý nghĩa như thế nào đối với một nghề xác định.
Một ví dụ, năm 2004 trong một công trình khoa học của tác giả nghiên cứu về vai trò của đội ngũ giáo viên CN&HN đối với GDHN cho HS THPT ở 3 tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên Huế và Thành phố Đà Nẵng, số lượng đội ngũ giáo viên CN & HN được thể hiện ở bảng sau:
Bảng 2: Số lượng giáo viên dạy công nghệ và hướng nghiệp một số tỉnh năm học 2003 -2004
TT Tỉnh/Thành
Tổng số GV
dạy công nghệ,
HN
Trình độ đào tạo ĐHSP
KTCN
ĐHSP Toán, Lý
ĐHSP Khác
CĐSP KTCN SL TL% SL TL% SL TL% SL TL%
1 Quảng Trị 96 0 0 66 68,8 24 25,0 6 6,2 2 Thừa Thiên Huế 116 3 2,6 78 67,2 13 11,2 22 19,0 3 TP Đà Nẵng 45 14 31,1 25 55,5 7 15,5 0 0
Tổng cộng 257 17 6,6 169 65,8 44 17,1 28 10,9 Những số liệu trên cho thấy:
- Trong tổng số 257 giáo viên dạy công nghệ và HN ở 3 tỉnh, thành phố chỉ có 6,6 % giáo viên đạt chuẩn; số giáo viên chưa đạt chuẩn chiếm đến 93,4%.
- Tổng số giáo viên Toán, Vật lý và các ngành khác tham gia dạy công nghệ, HN chiếm một tỷ lệ rất cao: 213/257 (chiếm 82,8%).
- Số giáo viên đã được đào tạo đúng chuyên ngành (Cao đẳng KTCN) nhưng chưa đạt chuẩn cũng chỉ chiếm 10,9 %. Số giáo viên này cần được đào tạo lại hoặc bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ.
Trong 3 tỉnh, thành phố nói trên, Đà Nẵng là địa phương có số giáo viên công nghệ, HN đạt chuẩn cao nhất chiếm 31,1%; Thừa Thiên Huế 2,6%; Quảng Trị chưa có giáo viên nào đạt chuẩn. Trong những
năm qua, để đảm bảo định mức lao động, đủ số lượng giáo viên giảng dạy môn công nghệ, nhiều trường học phải bố trí giáo viên Vật lý, Toán và một số chuyên ngành khác tham gia dạy công nghệ và HN.
Đây chỉ là giải pháp tình thế để hoàn thành chương trình môn công nghệ, HN cho HS THPT theo quy định của Bộ GD&ĐT.
Thực tế trên cho thấy, hầu hết các trường THPT đã sử dụng đội ngũ giáo viên thiếu kiến thức và năng lực để dạy KTPT và hướng nghiệp, trong khi đó nhà trường lại không dựa vào đội ngũ cán bộ kỹ thuật của các cơ sở dạy nghề, các trường đại học cao đẳng, nhất là các đơn vị đóng tại địa phương.
Về hướng nghiệp cho học sinh thông qua lao động sản xuất: Để gắn mục tiêu đào tạo với mục tiêu phát triển KT-XH ở từng địa phương, chương trình LĐSX có phần “cứng” là nội dung kỹ thuật bắt buộc mà tất cả các trường trung học trong toàn quốc phải thực hiện, còn phần “mềm” là nội dung mà các trường ở mỗi địa phương khác nhau có quyền lựa chọn để phù hợp với yêu cầu phát triển sản xuất ở từng địa phương. Mỗi tuần trường THCS và THPT đều có 2 tiết LĐKT.
Từ đầu thập kỷ 90 hình thành hệ thống trường phổ thông trung học vừa học vừa làm, ngoài học văn hoá, mỗi tuần HS có từ 1 đến 3 buổi LĐSX. Đến 1995 thì mỗi tháng nhà trường bố trí 3 buổi LĐSX. Ngoài ra trong mùa hè việc bố trí LĐSX cho HS từ lớp 8 đến lớp 12 có 2 tuần LĐSX tập trung.
Xuất phát từ đặc điểm khác nhau của trường THCS và THPT, việc thực hiện chương trình LĐSX gặp nhiều khó khăn, nên Bộ GD&ĐT đã đưa ra nguyên tắc: LĐSX ở nhà trường phải gắn với những nghề đang cần phát triển theo mức độ từ thấp đến cao, phù hợp với thế mạnh của từng vùng kinh tế và đặc điểm tâm, sinh lý HS. Những nội dung LĐSX đã thực hiện là:
+ LĐSX nông, lâm, ngư theo hệ sinh thái VAC (vườn, ao, chuồng).
Với hình thức này, nhiều trường đã thực hiện tốt chương trình “Trồng cây hỗ trợ phát triển GD-ĐT và bảo vệ môi trường” theo hướng “trồng cây từ trường - ra đường - về nhà - lên đồi - lấn biển”.
+ LĐSX theo các nghề mộc, nề, sản xuất vật liệu xây dựng… Quan điểm chỉ đạo theo hướng này là: Tiến hành một hệ thống công việc có liên quan chặt chẽ với nhau để vừa đạt được MT giáo dục, vừa mang lại hiệu quả kinh tế.
+ LĐSX theo các nghề thủ công và tiểu thủ công, nhất là các nghề truyền thống ở từng địa phương, những nghề mà sản phẩm không đòi hỏi nhiều nguyên liệu, lại dễ kiếm, thu hút được nhiều lao động, sản phảm làm ra dễ tiêu thụ mà giá trị cao như mây, tre đan, mành trúc, gốm sứ, chạm khắc gỗ…
+ LĐSX theo các nghề dịch vụ như gia công may quần áo, sữa chữa xe đạp, sản xuất bánh kẹo các loại…
+ LĐSX theo các nghề cơ khí, sản xuất hàng dân dụng như rèn, gò, hàn, đúc.
+ LĐSX theo các nghề điện kỹ thuật, vô tuyến điện như xây dựng các trạm thuỷ điện nhỏ, lắp ráp vô tuyến…
Trong thời kỳ này, Bộ GD&ĐT đã đề ra 4 yêu cầu tối thiểu nhà trường PT phải thực hiện, đó là:
- LĐSX của HS phải góp phần tu bổ, sữa chữa, xây dựng trường lớp khang trang, sạch đẹp.
- LĐSX phải chú trọng việc trồng và bảo vệ cây trong trường và xung quanh trường.
- LĐSX phải theo một trong những nghề thuộc lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp mà địa phương đã có thế mạnh hoặc có truyền thống.
- LĐSX phải giáo dục ý thức tiết kiệm và lòng yêu lao động của HS.
Hướng nghiệp qua chương trình GDHN chính khoá hàng tháng:
Bộ Giáo dục và Đào tạo đã quy định mỗi tháng học sinh có 3 tiết sinh hoạt HN, nhưng số trường THPT thực hiện tốt chỉ chiếm 14,7%, có 39,5%
số trường không thực hiện theo đúng quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Trong chương trình GDHN chính khoá, trường THPT chưa vận dụng linh hoạt những hình thức sau đây:
- Giới thiệu cho HS những nghề đang cần nhân lực, nhất là những nghề nằm trong kế hoạch phát triển KT - XH của địa phương; đồng thời phân tích để HS hiểu được những đặc điểm của các nghề đó.
- Tạo điều kiện cho HS có cơ hội tìm hiểu về hệ thống những trường đào tạo nghề, trường công nhân kỹ thuật ở trong và ngoài địa phương.
- Tổ chức các buổi toạ đàm, diễn đàn về nghề nghiệp trong tương lai, về nhu cầu và hứng thú chọn nghề của lứa tuổi HS THPT.
- Giới thiệu HS tiếp xúc với những đại biểu ưu tú của các ngành sản xuất, qua đó, HS có thể tìm hiểu thêm về người lao động trong các nghề.
Những vấn đề trên cho thấy:
+ Thiếu sự quan tâm chỉ đạo của các cấp QLGD, các trường THPT còn xem nhẹ GDHN cho học sinh.
+ Các trường THPT chưa huy động được các lực lượng xã hội ở địa phương cùng phối hợp trong tổ chức GDHN cho học sinh.
+ Nguồn kinh phí và cơ sở vật chất đầu tư hàng năm cho GDHN không đáng kể, nhiều trường THPT không có kinh phí để tổ chức hoạt động.
Hướng nghiệp qua hoạt động ngoại khoá ở trong và ngoài nhà trường:
Các hoạt động HN này rất đa dạng và phong phú. Tuy nhiên, có thể khái quát thành hai loại hoạt động chủ yếu sau đây:
+ Tổ chức cho HS đọc sách, báo, nghe các chương trình truyền thanh, xem các chương trình truyền hình và tìm kiếm thông tin có liên quan đến HN và tìm hiểu nghề nghiệp trên mạng Internet.
+ Tổ chức cho HS tham gia các buổi sinh hoạt mang tính HN, các buổi tham quan tại các trường đại học, cao đẳng, các nhà máy, xí nghiệp, nông trường, hoặc tổ chức sinh hoạt thường xuyên tại các câu lạc bộ, thư viện, trung tâm học tập cộng đồng ở địa phương...
Hướng nghiệp qua hoạt động ngoại khoá là một hoạt động quan trọng và mang lại hiệu quả cao. Tuy nhiên, kết quả khảo sát cho thấy có đến 77,2% đơn vị trường học không tổ chức thực hiện hình thức này dẫn đến tình trạng học sinh không được tiếp xúc thực tế, các em chỉ nhận diện nghề theo cảm tính mà không có các hiểu biết về nghề mình đã chọn. Một trong những nguyên nhân làm cho học sinh thiếu kiến thức thực tế là do nhà trường chưa xây dựng cơ chế phối hợp với các tổ chức xã hội, chưa phối hợp tổ chức cho học sinh tham quan để HS có điều kiện tiếp cận các nhà máy, xí nghiệp sản xuất, nông trường, nhằm giúp HS có nhận thức đúng đắn và có hiểu biết về những nghề đang cần tìm hiểu.
Trong một số năm gần đây, một số trường THPT đã có sự phối hợp với các tổ chức như đoàn thanh niên, hội phụ nữ và các cơ sở dạy nghề để tổ chức hội thi khéo tay kỹ thuật cho HS THPT. Một số ít trường THPT đã tạo ra được bước chuyển biến mới trong việc tổ chức các hoạt động ngoại khoá cho học sinh thông qua phối hợp với một số trường đại học, nhà máy, xí nghiệp để đưa học sinh đi tham quan. Qua đó, chúng ta thấy rằng nếu có
sự hỗ trợ của các tổ chức XH thì nhà trường có thể làm tốt công tác GDHN cho HS, tạo điều kiện chuẩn bị cho HS sẵn sàng đi vào LĐSX.