9. CẤU TRÚC CỦA LUẬN ÁN
2.2. Thực trạng về giáo dục hướng nghiệp theo tinh thần xã hội hoá ở nước ta trong những năm qua
2.2.3. Thực trạng về phân luồng học sinh sau trung học
Như chúng ta đã biết: “Phân luồng trong giáo dục là các biện pháp tổ chức hoạt động giáo dục trên cơ sở thực hiện hướng nghiệp trong giáo dục, tạo điều kiện để học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở, trung học phổ thông tiếp tục học ở cấp học hoặc trình độ cao hơn, học trung cấp, học nghề hoặc lao động phù hợp với năng lực, điều kiện cụ thể của cá nhân và nhu cầu xã hội; góp phần điều tiết cơ cấu ngành nghề của lực lượng lao động phù hợp với nhu cầu phát triển của đất nước” [87; tr 2-3].
Tác giả Đặng Danh Ánh đã có những nhận xét phù hợp về vấn đề này:
Hướng nghiệp và phân luồng HS PT có quan hệ mật thiết với nhau và tác động qua lại lẫn nhau, đó là hai mặt của một quá trình thống nhất vì chúng có cùng tác động lên một đối tượng là HS, nhằm mục đích chung là làm cho cơ cấu ĐT, cơ cấu nguồn nhân lực phù hợp với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của từng địa phương.
Hướng nghiệp có vai trò điều chỉnh, uốn nắn động cơ chọn nghề của HS cho phù hợp với nhu cầu nhân lực của các thành phần kinh tế của từng vùng và từng địa phương, phù hợp với các hướng phân luồng đã được nhà nước định ra ở từng giai đoạn phát triển kinh tế.
Hướng nghiệp và phân luồng HS chính là cầu nối giữa GDPT và GD nghề nghiệp, với giáo dục ĐH và việc làm. Nói cách khác, HN và phân luồng HS là cầu nối giữa người học với thị trường đào tạo và thị trường lao động. Nếu làm tốt công tác HN và phân luồng HS, chúng ta sẽ có cơ cấu ĐT cân đối, dẫn tới cơ cấu nguồn nhân lực hợp lý đủ các cấp trình độ, nền kinh tế sẽ phát triển nhanh.
Trong báo cáo của Chính phủ về tình hình GD trong kỳ họp Quốc hội tháng 11/2004 đã nêu rõ: “Trong những năm qua, công tác hướng nghiệp và
phân luồng học sinh sau trung học cơ sở, trung học phổ thông còn yếu kém và chưa được quan tâm đúng mức”.
Theo kết quả nghiên cứu của Đặng Danh Ánh [6] thì từ năm 1990 đến 2006 có sự tăng đột biến trong việc tuyển mới HS sau THCS vào THPT: Năm học 1990- 1991 có 136.485 HS (chiếm 40,27%) tăng lên 1.260.145 HS (79,8%) năm học 2005-2006. Tỷ lệ này tính trung bình trong các trường THPT của cả nước, nếu tính riêng ở một số thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh thì tỷ lệ ấy còn cao hơn 80%. Nếu so sánh với các nước có nền kinh tế đang phát triển như ta thì tỷ lệ tuyển mới HS sau THCS và THPT của Việt Nam là cao nhất, trong khi đó Trung Quốc (một nước có thể chế chính trị giống nhau, cùng đi lên từ một nước nông nghiệp lạc hậu và cùng là nước đang phát triển) đã làm một cuộc cách mạng trong phân luồng HS sau THCS rất thành công: từ 90% HS sau THCS vào THPT năm học 1979- 1980 xuống còn 43.3% năm học 1995-1996.
Chỉ tiêu phân luồng HS sau THCS và THPT vào ĐT nghề và trung học chuyên nghiệp (THCN) ở nước ta rất thấp. Số liệu thống kê của Bộ GD&ĐT và Tổng cục dạy nghề cho thấy:
+ Tuyển sinh mới vào đào tạo nghề: Năm học 1990-1991 tuyển 51.485, thì năm học 2003-2004 là 164.000 HS (chiếm 7.8%), năm học 2005 - 2006 là 28.000 HS (9,3%);
+ Tuyển sinh mới vào TCCN: Năm học 1997-1998 tuyển 84.053 học sinh, thì năm học 2003-2004 là 194.744 học sinh (9.2%), năm học 2005-2006 là 273.239 học sinh (11,1%);
Chỉ tiêu tuyển sinh hàng năm vào các trường dạy nghề và trường TCCN có tăng nhưng tỷ lệ % lại giảm vì tổng số học sinh tốt nghiệp THCS và THPT tăng rất nhanh. Ví dụ: năm học 1990-1991 tổng số HS tốt nghiệp các cấp chỉ là 527.947 thì năm học 2005-2006 là 2.461.886;
Chỉ tiêu Phân luồng HS sau THPT vào CĐ, ĐH rất cao: Nếu năm học 1990-1991 tổng số HS tốt nghiệp THPT và Bổ túc THPT là 189.040, tuyển mới vào CĐ, ĐH là 48.433 (25.6%) thì đến năm học 2003-2004 số liệu tương ứng là 815.913 và 298.975 (36.6%); năm học 2005-2006 số liệu tương ứng là 882.443 và 411.631 (46,64%). Như vậy, trong 17 năm qua chỉ tiêu tuyển sinh vào CĐ, ĐH liên tục tăng, năm sau cao hơn năm trước, từ 25.6% năm lên 46.64%, đây là một tỷ lệ quá cao.
Sau THPT học sinh phân luồng chủ yếu theo các hướng sau:
+ Các trường đại học, cao đẳng.
+ Các trường trung cấp chuyên nghiệp.
+ Các cơ sở ĐT nghề (Cao đẳng nghề, trung cấp nghề và nghề ngắn hạn).
+ Trực tiếp lao động trên các thị trường trong và ngoài nước.
Các hướng phân luồng HS sau THPT được thể hiện qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 4: Các hướng phân luồng HS sau THPT
Nếu so sánh số lượng trường học và số HS, SV qua 3 mốc thời gian 1986 (năm tổ chức Đại hội VI - Đại hội đề xuất Đổi mới) - 1996 (10 năm sau đổi mới) và 2006 (sau 1 năm tổng kết lý luận và thực tiễn 20 năm Đổi mới), ta có bảng sau:
TRƯỜNG THPT
Dạy nghề
CĐ nghề
TC nghề
Sơ cấp
TCCN Đại học,
Cao đẳng
Thị trường lao động
Bảng 6: Số lượng trường học và học sinh, sinh viên qua một số năm Ngành
đào tạo
Số trường Số học sinh, sinh viên 1986 1996 2006 1986 1996 2006 Dạy nghề 298 176 262 113.016 79.794 1.340.000 Trung cấp
chuyên nghiệp 281 253 292 135.409 149.378 334.975 Đại học, Cao
đẳng 95 101 255 121.195 437.506 1.032.440 (Nguồn: Bộ giáo dục-Đào tạo và tổng cục dạy nghề)
Số trường dạy nghề trong bảng (6) là số trường ĐT dài hạn, chính quy. Bên cạnh số trường này còn có 165 trường CĐ, ĐH hoặc TCCN cũng ĐT công nhân kỹ thuật hệ dài hạn. Như vậy, hiện có đến 391 cơ sở ĐT nghề dài hạn. Cùng với hệ ĐT dài hạn còn có 320 Trung tâm dạy nghề, 150 Trung tâm dịch vụ việc làm và trên 300 Trung tâm KTTH-HN tham gia dạy nghề ngắn hạn. Chính vì thế, số học sinh, sinh viên đã tăng nhanh trong những năm gần đây.
Hiện nay, cả nước có 506 cơ sở đào tạo TCCN, trong đó có 276 trường TCCN và 230 trường ĐH, CĐ, học viện, trường cao đẳng nghề có đào tạo TCCN.
Nhìn vào sự chênh lệch về học sinh, sinh viên giữa hệ đại học, cao đẳng với trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề qua ba mốc thời gian nói trên, chúng ta thấy một sợ bất hợp lý về số lượng, đáng lẽ ra số học sinh, sinh viên học nghề và TCCN phải lớn hơn nhiều. Điều đó nói lên rằng vai trò của các lực lượng xã hội trong việc phân luồng học sinh rất mờ nhạt, các trường THPT chưa thực sự làm nòng cốt để thu hút các lực lượng xã hội cùng tham gia tổ chức GDHN cho học sinh.
Giáo dục TCCN đang tuyển sinh trình độ tốt nghiệp THPT. Trong số HS được tuyển vào hiện nay, đã có đến 97% có bằng tốt nghiệp lớp 12. Hệ GD này đang có xu thế hợp nhất với hệ dạy nghề và sẽ trở thành hệ GD nghề nghiệp.
Về mặt tích cực, giáo dục CĐ và ĐH tăng nhanh số lượng là một thành tích, song cho đến nay, việc tuyển sinh vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu học ĐH trong cả nước. Nhìn chung, sinh viên tốt nghiệp thường thể hiện sự non yếu về khả năng thực hành, năng lực tự học, năng lực nghiên cứu và giao tiếp. Trình độ ngoại ngữ và ứng dụng công nghệ thông tin còn thấp so với yêu cầu của khu vực.
So sánh với một số nước như Nhật Bản khi bước vào CNH (năm 1960) như ta hiện nay, có 4 triệu học sinh trung học thì 1,8 triệu là HS học nghề (chiếm 45%), Cộng hòa liên bang Đức cứ 10 HS THPT thì có 8 HS học nghề (chiếm 80%)..., trong khi đó ở Việt Nam tỷ lệ HS tốt nghiệp PT học tại các trường dạy nghề và trường TCCN rất thấp, chỉ chiếm 15,3%.
Quá trình phân luồng HS như đã nêu trên cho thấy có sự bất hợp lý trong cơ cấu phân luồng HS sau THCS và THPT (77.4%) so với đào tạo nghề (7.8%) đã tạo ra “sức ép tâm lý” rất lớn đối với học sinh, phụ huynh học sinh và toàn xã hội khi các kỳ thi ĐH, CĐ hàng năm đến gần; vì vậy đã gây ra tình trạng quá tải và các cuộc chạy đua vào ĐH. Đây là một trong những nguyên nhân cơ bản nảy sinh tình trạng dạy thêm, học thêm tràn lan trong nhiều năm qua. Về mặt kinh tế, các cuộc chạy đua vào ĐH, CĐ đã gây tốn kém kinh phí không chỉ đối với Nhà nước mà còn đối với nhân dân. Riêng việc ăn, ở, đi lại, của hơn 2 triệu thí sinh và gia đình ước tính khoảng 1000 tỷ đồng.
Đa số các ngành đào tạo trong trường TCCN và các nghề trong trường Dạy nghề chỉ cần tuyển học sinh sau THCS, nhưng vì học sinh sau
THPT thừa nhiều thì các trường TCCN và Dạy nghề không “dại gì” mà không tuyển học sinh sau THPT. Như vậy, số học sinh đã tốt nghiệp THCS không được vào THPT (25% hàng năm) sẽ không có cơ hội học tiếp các trường TCCN, dạy nghề và cũng không có cơ hội tự kiếm việc làm.
Có sự bất hợp lý trong cơ cấu tuyển học sinh sau THPT vào CĐ, ĐH (36.6%) so với (7.8%). Hậu quả là: sự mất cân đối trầm trọng trong cơ cấu tuyển sinh, sẽ dẫn tới mất cân đối trong cơ cấu ĐT và tất yếu dẫn tới mất cân đối trong cơ cấu nguồn nhân lực. Ví dụ:
+ Về quy mô tuyển sinh: ĐH, CĐ tăng 11 lần, từ 37.404 s inh viên năm học 1986-1987 lên 411.631 sinh viên (2005-2006), trong khi đó ĐT nghề chỉ tăng 5 lần, từ 53.000 HS (1996 -1997) lên 260.000 HS (2006-2007).
+ Về quy mô đào tạo: ĐH, CĐ tăng 11 lần, từ 127.000 sinh viên năm học 1986-1987 lên 1.540.201 sinh viên (2006-2007), trong đó khi đào tạo nghề chỉ tăng gần 4 lần từ 120.000 HS (1986 -1987) lên 460.000 HS (2006-2007).
+ Về cơ cấu nguồn nhân lực: ở giai đoạn đầu CNH, trên thế giới, các nước bố trí cơ cấu nguồn nhân lực theo hình tháp 1/4/10 (đối với khu vực dịch vụ) và 1ĐH + 4 THCN + 60 CNKT lành nghề + 20 CNKT bán lành nghề + 15 lao động phổ thông. Cơ cấu tuyển sinh, cơ cấu đào tạo phải tuân theo hình tháp đó. Nhưng trong nhiều năm qua, cơ cấu đào tạo của ta lại phát triển theo hình tháp “lật ngược” như đã nêu trên [06; tr 2-4].
Tóm lại, công tác phân luồng học sinh trung học ở nước ta trong những năm qua đã có nhiều cố gắng nhất định. Một số nhà xuất bản đã giới thiệu các bộ sách về ngành nghề, như bộ sách giới thiệu ngành nghề của nhà xuất bản Thanh niên; tủ sách “Nhất nghệ tinh” của nhà xuất bản Kim Đồng đã xuất bản một số lượng hàng chục cuốn có nội dung giới thiệu về các
ngành nghề... Song chúng ta chưa có các biện pháp để phát huy vai trò của cộng đồng trong công tác phân luồng học sinh.
2.3. THỰC TRẠNG GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP THEO TINH THẦN XÃ HỘI HOÁ Ở HAI TỈNH QUẢNG TRỊ VÀ HÀ TĨNH
Để có cơ sở đánh giá thực trạng tổ chức GDHN theo tinh thần XHH trong những năm qua ở hai tỉnh Quảng Trị và Hà Tĩnh, chúng tôi đã tiến hành một số công việc như sau:
- Nghiên cứu một số báo cáo các sở GD-ĐT và một số trường THPT có nội dung liên quan về GDHN cho HS THPT.
- Phỏng vấn một số chuyên gia, CBQL trường THPT và trung tâm KTTH-HN về những công việc đã làm, những thuận lợi, khó khăn của nhà trường và trung tâm trong quá trình tổ chức GDHN cho học sinh.
- Điều tra thực trạng về GDHN và tổ chức GDHN theo tinh thần XHH dưới hình thức phiếu hỏi ở 21 trường THPT (gồm học sinh, giáo viên và CBQL) và CBQL 14 trung tâm KTTH-HN thuộc 2 tỉnh Quảng Trị và Hà Tĩnh, cụ thể như sau:
- Đối với học sinh: Số phiếu phát ra 2.900 phiếu, số phiếu thu về 2.750 phiếu (đạt 94,82%).
- Đối với giáo viên: Số phiếu phát ra 115 phiếu, số phiếu thu về 89 phiếu (đạt 77,39%).
- Đối với CBQL các trường THPT: Số phiếu phát ra 62 phiếu, số phiếu thu về 46 phiếu (đạt 74,19%).
- Đối với CBQL các trung tâm KTTH-HN: Số phiếu phát ra 31 phiếu, số phiếu thu về 22 phiếu (đạt 70,96%).