Hình thức tổ chức GDHN cho HS THPT theo tinh thần XHH

Một phần của tài liệu Tổ Chức Giáo Dục Hướng Nghiệp Cho Học Sinh Trung Học Phổ Thông Theo Tinh Thần Xã Hội Hóa 6830540.Pdf (Trang 58 - 62)

9. CẤU TRÚC CỦA LUẬN ÁN

1.4.3. Hình thức tổ chức GDHN cho HS THPT theo tinh thần XHH

1.4.3.1. Tổ chức dạy học trên lớp

* Hướng nghiệp qua dạy học các môn khoa học cơ bản: Ban giám hiệu nhà trường có nhiệm vụ lập kế hoạch, chỉ đạo và kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ HN cho HS thông qua việc dạy các môn khoa học cơ bản, có tiêu chí đánh giá thi đua cuối học kỳ, cuối năm học.

Nội dung HN qua dạy học các môn khoa học cơ bản cần được tích hợp, lồng ghép hợp lý trong các tiết dạy, dưới các hình thức sinh động như mô tả, tranh ảnh, những mẩu chuyện ngắn có nội dung về GDHN - LN, kể cả kinh nghiệm của thầy cô giáo. Đặc biệt là các hình ảnh, thông tin về HN trên mạng Internet.

* Hướng nghiệp qua dạy - học môn công nghệ và dạy nghề PT: Các trường THPT, trung tâm KTTHHN thực hiện đúng chương trình GD nghề PT và các chủ đề GDHN do Bộ GD - ĐT quy định cho các khối.

- HN thông qua dạy học môn công nghệ.

- HN thông qua giáo dục nghề phổ thông.

1.4.3.2. Hướng nghiệp thông qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp

* Tổ chức câu lạc bộ, diễn đàn, đối thoại, sinh hoạt HN. Đây là một hoạt động hoàn toàn mới mẻ, nhưng có tác dụng quan trọng trong quá trình cung cấp thông tin cần thiết một cách có hệ thống, có chủ đích của nhà trường.

Để nội dung phong phú và sinh động, ngoài đội ngũ GV của nhà trường cần vận động đại diện các trường dạy nghề, các doanh nghiệp, đại

diện hội PHHS cùng tham gia. Nhà trường gắn hoạt động câu lạc bộ, diễn đàn, đối thoại với lực lượng đoàn thanh niên, coi đây là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của công tác thanh niên trong trường học.

Về hình thức, có thể tổ chức tập trung hoặc theo nhóm, lớp theo các hình thức: sinh hoạt, hội thảo, trao đổi, toạ đàm sao cho phù hợp với số lượng HS, điều kiện CSVC và đội ngũ GV HN của mỗi trường.

* Tổ chức hoạt động ngoại khóa: Du lịch sinh thái, tổ chức xem phim.

* Tổ chức cho HS đi tham quan các trường ĐH, CĐ, TCCN, các cơ sở ĐT nghề, các nhà máy, xí nghiệp cơ sở sản xuất dịch vụ tại địa phương, các nông trường.

* Tổ chức các cuộc thi theo từng chuyên đề:

- Thi kể chuyện nghề nghiệp: Để nội dung cuộc thi được phong phú và đa dạng phát huy được tính sáng tạo của HS, ban tổ chức cần xây dựng kế hoạch để HS dự thi tự chọn chủ đề về nghề nghiệp mà các em ưa thích, phù hợp với năng lực và sở trường. Trong một số trường hợp cần thiết giáo viên chủ nhiệm, giáo viên HN có thể định hướng, gợi ý để HS tự quyết định.

- Sưu tầm các thông tin, tranh ảnh các ngành nghề: Xây dựng, GD, Y tế, chăn nuôi, trồng trọt….,

- Hướng dẫn HS xây dựng các dự án nhỏ ở địa phương, như dự án khai hoang trồng cây lâm nghiệp; dự án chăn nuôi lợn, gà, bò, dê; dự án trồng cây ăn quả; dự án xây dựng vườn trường…

Tổng kết chương 1

Trên cơ sở nghiên cứu các tài liệu ở trong nước và nước ngoài, nghiên cứu một số công trình khoa học của các tác giả khác, luận án đã khái quát được lịch sử vấn đề nghiên cứu trên cơ sở phân tích các công trình khoa học trong nước và trên thế giới về giáo dục hướng nghiệp, giáo dục HN theo tinh thần XHH để từ đó nhận định vấn đề nghiên cứu là mới mẻ và

cần thiết. Trên thực tế, nhiều nước trên thế giới đã làm tốt công tác GDHN cho học sinh PT, một số nước đã phát huy tốt vai trò của cộng đồng xã hội với GDHN trong trường PT. Nhiều mô hình liên kết phối hợp ở Cộng hoà Pháp, Hoa Kỳ, Australia, Liên xô (cũ)… đã đem lại hiệu quả cao. Đây là điểm khác biệt giữa các nước có nền GD phát triển với Việt Nam.

Luận án đã xây dựng các khái niệm làm cơ sở cho việc khảo sát thực trạng và xây dựng các nhóm giải pháp. Các khái niệm đó là: Hướng nghiệp, tổ chức, xã hội hoá, tinh thần xã hội hoá, xã hội hoá công tác giáo dục và tổ chức giáo dục hướng nghiệp theo tinh thần xã hội hoá.

Luận án cũng đã chỉ ra những quan điểm đổi mới về tổ chức GDHN cho học sinh phổ thông ở nước ta trong giai đoạn hiện nay, đây là một trong những cơ sở quan trọng để định hướng cho việc xây dựng các nhóm giải pháp tổ chức GDHN cho học sinh trung học phổ thông theo tinh thần xã hội hoá.

Chương 2

CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ GDHN VÀ TỔ CHỨC GDHN CHO HỌC SINH THPT THEO TINH THẦN XÃ HỘI HOÁ

2.1. BỐI CẢNH KINH TẾ - XÃ HỘI TRONG NHỮNG NĂM QUA 2.1.1. Hội nhập Quốc tế và trong khu vực

Bước vào thế kỷ XXI, các quốc gia trên toàn cầu có những hoạt động sôi động trong điều kiện thế giới đang diễn biến nhanh chóng, sâu sắc và phức tạp với những cơ hội và thách thức to lớn, nhất là đối với các nước nghèo và chậm phát triển. Hòa bình, ổn định, hợp tác để tiếp tục phát triển vẫn là xu thế chủ đạo chi phối các quan hệ quốc tế cũng như chiến lược phát triển của mỗi quốc gia.

Trong bối cảnh đó, văn kiện Đại hội IX của Đảng Cộng Sản Việt Nam đã khẳng định:"Xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ phải đi đôi với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại, kết hợp nội lực với ngoại lực thành nguồn lực tổng hợp để phát triển đất nước" [11; tr 25,26].

Cuối năm 2001, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết về hội nhập kinh tế quốc tế. Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX đã nhấn mạnh: "Tiếp tục chủ động hội nhập, thực hiện có hiệu quả các cam kết và lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế, chuẩn bị tốt các điều kiện trong nước để sớm gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới WTO". [38; tr 197].

Thực hiện chủ trương của Đảng, những năm qua nước ta đã có những bước đi và chuẩn bị quan trọng để hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Việt Nam có quan hệ thương mại với 170 quốc gia, vùng và lãnh thổ; phát triển đầu tư với khoảng 70 nước, vùng và lãnh thổ; đã ký hơn 60 hiệp định kinh tế và song phương. Năm 1993, Việt Nam đã nối lại quan hệ với quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và ngân hàng thế

giới (WB); năm 1995 gia nhập Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và trở thành thành viên của tổ chức thương mại thế giới WTO.

Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực đã góp phần quan trọng giúp nước ta giữ được tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm là 7% (riêng năm 1995 đạt 9,54%). Trong vòng 10 năm từ 1995 đến 2005, sức cạnh tranh của một số sản phẩm, dịch vụ tăng mạnh, tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 40% xuống còn 11% năm 2003.

Tuy vậy, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta còn chậm, phạm vi, nhịp độ và hiệu quả kinh tế tham gia toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế còn kém xa các nước châu Á và Đông Nam Á. Một trong những nguyên nhân cơ bản đó là lực lượng lao động qua đào tạo chiếm tỷ lệ còn thấp, chất lượng đào tạo còn bất cập chưa đáp ứng yêu cầu thị trường lao động, đặc biệt cho các lĩnh vực công nghệ cao, các khu công nghiệp tập trung, khu chế xuất, các loại hình dịch vụ hiện đại. Tỷ lệ thất nghiệp còn cao, thu nhập của người lao động thấp..., về chuẩn mực lao động của người Việt Nam còn kém xa các nước trong khu vực và quốc tế.

Để nhanh chóng phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế và trong khu vực, trong những năm tới Việt Nam cần giải quyết vấn đề lao động, việc làm và phát triển nguồn nhân lực, tạo bước đột phá mới có khả năng đuổi kịp các nước trong khu vực và trên thế giới.

Một phần của tài liệu Tổ Chức Giáo Dục Hướng Nghiệp Cho Học Sinh Trung Học Phổ Thông Theo Tinh Thần Xã Hội Hóa 6830540.Pdf (Trang 58 - 62)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(90 trang)