Tác động của sự chuyển dịch cơ cấu KT và cơ cấu lao động

Một phần của tài liệu Tổ Chức Giáo Dục Hướng Nghiệp Cho Học Sinh Trung Học Phổ Thông Theo Tinh Thần Xã Hội Hóa 6830540.Pdf (Trang 64 - 68)

9. CẤU TRÚC CỦA LUẬN ÁN

2.1.3. Tác động của sự chuyển dịch cơ cấu KT và cơ cấu lao động

Thực hiện tốt yêu cầu đó, việc đào tạo và đào tạo lại người lao động phải cần đến lực lượng các doanh nghiệp. Việc đưa học sinh đi thực tập, thực hành phải có sự giúp đỡ của các cơ sở sản xuất và xí nghiệp; việc giới thiệu các nghề, nhất là các nghề mới phải dựa vào các ngành; do vậy để đi vào chuyển đổi cơ cấu kinh tế càng phải xã hội hoá giáo dục mạnh hơn.

Quá trình CNH - HĐH nông nghiệp, nông thôn tất sẽ dẫn đến việc chuyển dịch cơ cấu KT và tất nhiên sẽ thay đổi cơ cấu lao động.

Trong điều kiện ấy, trách nhiệm của giáo dục là hết sức nặng nề.

Hội nghị TW lần thứ 7 (khoá IX) đầu năm 2003 đã chỉ ra những việc rất cụ thể để tăng năng lực sản xuất cho nguồn lực lao động này.

Nghị quyết nhấn mạnh: "Đưa công nghệ sinh học, công nghệ sau thu hoạch và công nghệ chế biến vào nông thôn; điều chỉnh hợp lý việc sử dụng quỹ đất để vừa đảm bảo an ninh lương thực, vừa thúc đẩy chuyển đổi cơ cấu sản xuất; bảo đảm cho những nông dân trong diện thu hồi đất có đời sống ít nhất bằng hoặc khá hơn so với trước khi di chuyển;

khôi phục làng nghề, phát triển ngành nghề mới ở nông thôn; chuyển giao tri thức khoa học và công nghệ mới qua các hình thức khuyến học, khuyến tài, khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư”.

Một trong những vấn đề mới cần quan tâm là kinh tế trang trại.

Năm 2001, số trang trại tăng 33,9% so với năm 1999. Tỷ lệ trang trại trồng cây dài ngày chiếm khá cao so với trang trại chăn nuôi, đã bắt đầu xuất hiện những trang trại kinh doanh tổng hợp. Mặt khá c, trong giai đoạn 2006 - 2010 sẽ có hàng triệu nông dân rời khỏi ruộng đất và tham gia các nghề phi nông nghiệp. Việc dạy nghề cho nông dân đang trở thành công việc bức thiết của toàn XH.

Về đào tạo trí thức, đội ngũ trí thức Việt Nam ngày càng đông đảo về số lượng và càng đa dạng về chủng loại ngành nghề. Nguồn nhân lực được đào tạo trình độ đại học và sau đại học đã được phân bố vào các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân. Tại Hội nghị TW lần thứ 6 (khóa IX), Đảng nhận định rằng, nguồn lực này đã có năng lực tiếp cận với những thành quả khoa học và công nghệ của thế giới.

Nhằm cung ứng cán bộ có trình độ đại học cho các lĩnh vực khoa học, công nghệ, văn học, nghệ thuật, hành chính, sự nghiệp..., số trường đại học cũng như số sinh viên tăng lên rất nhanh. Tuy vậy, sự phân bố các cơ sở đào tạo cao đẳng và đại học cho đến nay vẫn chưa hợp lý. Số trường cao đẳng và đại học tập trung nhiều nhất là vùng đồng bằng sông Hồng, sau đến là vùng Đông Nam Bộ (bảng 1). Sự tăng thêm các cơ sở đào tạo ở bậc học này chắc chắn phải tính đến các vùng đông dân cư mà còn ít trường lớp cao đẳng, đại học và cũng cần ưu tiên cho các vùng khó khăn.

Về cơ cấu ngành nghề đào tạo, khối khoa học cơ bản chiếm tỷ lệ lớn nhất (53%), tiếp theo là khối kinh tế - luật (16%), khối kỹ thuật - công nghệ (12%), khối sư phạm (10%), khối nông - lâm - ngư (5%), khối y - dược - thể dục thể thao (3%) và khối văn hoá - nghệ thuật (1%). Nếu xét về cơ cấu tuyển mới hàng năm thì sư phạm chiếm khoảng 24,7%: tin học khoảng 5,4%; các nhóm ngành văn hoá - nghệ

thuật - TDTT, y dược và nông lâm ngư khoảng 6%, khối kỹ thuật - công nghệ khoảng 25%; khối kinh tế khoảng 20% và khối khoa học cơ bản (cả tự nhiên và xã hội) khoảng 18,9%.

Để nâng cao dân trí, một vấn đề lớn phải thực hiện là mở rộng quy mô đào tạo. Đến nay, tình hình mở rộng quy mô đào tạo nghề và TCCN rất khả quan. Số trường dạy nghề đã tăng lên khá nhanh kể từ năm 1998 đến nay. Nếu như năm học 1999 - 2000 cả nước có 129 trường dạy nghề, đến năm học 2006 - 2007 có 262 trường. Đặc biệt dạy nghề ngắn hạn tăng nhanh, năm 1999 có 180 TTDN, đến 2006 có 559 TTDN, tăng 233%. Ngoài ra, một số trường CĐ, ĐH, TCCN cũng có hệ dạy nghề, do đó tổng số cơ sở đào tạo nghề dài hạn đã lên tới 391 cơ sở. Nhìn chung tốc độ phát triển còn chậm so với ĐH nên nguồn đào tạo chưa đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp. Trong khi đó quy mô tuyển sinh ĐH, CĐ tăng nhanh, từ 216.131 HS (năm học 1998 – 1999) lên 330.000 HS (2006 – 2007), số trường từ (1998 – 1999) 139 lên 255 (2006 – 2007);

Hệ thống đào tạo nghề ngắn hạn phát triển nhanh và đa dạng.

Tính đến năm 2006 có 559 TTDN, ngoài ra có trên 300 trung tâm KTTH-HN, trên 300 trung tâm giáo dục thường xuyên có dạy nghề, hơn 150 trung tâm dịch vụ việc làm và hàng ngàn lớp dạy nghề khác, Số HS trong các trường dạy nghề cả hệ dài hạn lẫn hệ ngắn hạn đều tăng. Năm học 1998-1999 tuyển sinh 525.600 HS (trong đó có 7.500 dài hạn), năm học 2006-2007 tuyển sinh 1.340.000 HS tăng 1,55 lần, tuy nhiên tuyển sinh hệ dài hạn là 260.000, chỉ chiếm 19% tổng số.

Biểu đồ1: Số HS trong các trường dạy nghề giai đoạn 2000 - 2006

Ngoài hệ trung cấp chuyên nghiệp, nhiều trường cao đẳng và đại học cũng đào tạo trung cấp chuyên nghiệp. Hiện nay cả nước đã có 506 cơ sở đào tạo trung cấp chuyên nghiệp, trong đó có 276 trường TCCN và 230 trường đại học, học viện có đào tạo TCCN. Ngoài ra còn có 224 trường trung cấp nghề, 60 trường cao đẳng nghề, 556 trường sơ cấp nghề.

Số học sinh trung cấp chuyên nghiệp cũng tăng đều đặn. Năm học 1999 - 2000 có 227.992 học sinh đến năm học 2005 - 2006 con số đó là 391.520 (tăng 58,2%).

Biểu đồ 2: Số HS trong các trường TCCN giai đoạn 1999 - 2006

0 100000 200000 300000 400000

1999- 2000

2000- 2001

2001- 2002

2002- 2003

2003- 2004

2005- 2006

1999-2000 2000-2001 2001-2002 2002-2003 2003-2004 2005-2006

(Nguồn: Vụ Kế họạch - Tài chính, Bộ Giáo dục và Đào tạo)

(Nguồn: Vụ Kế họạch - Tài chính, Bộ Giáo dục và Đào tạo)

0 200000 400000 600000 800000 1000000 1200000 1400000

2000-2001 2001-2002 2002-2003 2003-2004 2005-2006

2000-2001 2001-2002 2002-2003 2003-2004 2005-2006

Một phần của tài liệu Tổ Chức Giáo Dục Hướng Nghiệp Cho Học Sinh Trung Học Phổ Thông Theo Tinh Thần Xã Hội Hóa 6830540.Pdf (Trang 64 - 68)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(90 trang)