1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tổ chức giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ thông theo tinh thần xã hội hoá

24 825 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 457,51 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tổ chức giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ thông theo tinh thần xã hội hoá

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

1.1 Sự phát triển vũ bão của cách mạng khoa học - công nghệ (KH-CN) hiện đại và

sự nghiệp CNH-HĐH ở nước ta đã đặt ra những yêu cầu cao về chất lượng nguồn nhân lực trong những năm tới, nhất là nguồn nhân lực cần cho quá trình tiếp cận với kinh tế (KT) tri thức Vì vậy, công tác HN theo quyết định 126/CP đã có một số điểm không phù hợp với sự phát triển KT- XH hiện nay và giai đoạn sắp tới

1.2 Trong nhiều năm qua, GDHN cho học sinh THPT có nhiều cố gắng và có những

đóng góp nhất định, góp phần vào việc định hướng nghề nghiệp cho HSPT, nhằm đào tạo nguồn nhân lực phục vụ sự phát triển KT-XH của đất nước Nhưng sau đó, công tác tổ chức GDHN cho học sinh phổ thông không được các cấp QLGD và các trường học quan tâm đúng mức, nhiều địa phương và trường học chưa thực hiện đầy đủ các nội dung GDHN Việc huy động các lực lượng XH tham gia tổ chức GDHN cho HSPT chưa được các cấp chú trọng; các hình thức tổ chức GDHN chưa phù hợp với yêu cầu mới đặt ra; việc sử dụng và khai thác các nguồn nhân lực - vật lực - tài lực còn ít hiệu quả

1.3 Để đáp ứng được yêu cầu phát triển nguồn nhân lực cho sự phát triển KT-XH

của đất nước, đồng thời đẩy mạnh một số lĩnh vực công nghệ cao, GDHN cho HS THPT cần phải đổi mới cả nội dung, hình thức tổ chức, trong đó coi trọng việc huy động một cách hợp lý các lực lượng XH cùng tham gia tổ chức GDHN cho HS THPT

1.4 Trên thực tế, GDHN cho HSPT đang gặp nhiều khó khăn, chưa có tác động

nhiều đến chủ trương phân luồng HS sau THPT Một trong những nguyên nhân yếu kém của HN là do công tác HN chỉ được triển khai bó hẹp trong trường THPT, các lực lượng xã hội chưa tham gia tổ chức GDHN Việc huy động và phát huy vai trò của các lực lượng xã hội cho GDHN là một vấn đề cấp thiết cần được quan tâm hiện nay

Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài "Tổ chức giáo dục hướng

nghiệp cho học sinh trung học phổ thông theo tinh thần xã hội hoá"

2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn tổ chức GDHN cho học sinh THPT theo tinh thần XHH, đề xuất các giải pháp tổ chức GDHN để thực hiện có hiệu quả công tác GDHN cho học sinh trường trung học phổ thông

3 KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

3.1 Khách thể nghiên cứu

Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trường trung học phổ thông của các cấp quản lý giáo dục

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Tổ chức GDHN cho học sinh THPT với sự tham gia của các lực lượng xã hội

4 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI

Tổ chức GDHN ở trường THPT đang còn nhiều vấn đề bất cập về nội dung và phương thức tổ chức thực hiện Nếu nhà trường thực hiện đồng bộ các giải pháp tổ chức GDHN cho học sinh THPT theo tinh thần xã hội hoá như: tổ chức nhận thức; tổ chức nội dung; cung ứng nhân lực; cung ứng vật lực, tài lực và tổ chức cơ chế phối hợp GDHN thì sẽ góp phần nâng cao hiệu quả GDHN cho học sinh THPT đồng thời đáp ứng nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho sự phát triển của đất nước

5 NHIỆM VỤ VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

5.1 Nhiệm vụ nghiên cứu

Trang 2

+ Xây dựng cơ sở lý luận tổ chức GDHN cho học sinh THPT theo tinh thần XHH + Khảo sát, đánh giá thực trạng GDHN theo tinh thần XHH

+ Đề xuất các giải pháp tổ chức GDHN cho học sinh THPT theo tinh thần XHH

6 CƠ SỞ PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

6.1 Cơ sở phương pháp luận

+ Luận án được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận triết học Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; các quan điểm đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước; chiến lược phát triển giáo dục đào tạo; định hướng GDHN đến 2010 và những năm tiếp theo

+ Kế thừa và phát triển có chọn lọc một số kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài nước về những vấn đề có liên quan đến luận án

+ Cơ sở thực tiễn: Thực trạng GDHN cho học sinh THPT và việc tổ chức GDHN cho

HS THPT theo tinh thần XHH

6.2 Các phương pháp nghiên cứu

6.2.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

+ Tổng hợp các tài liệu khoa học chuyên môn về GD, GDHN, các công trình có liên quan đến vấn đề nghiên cứu

+ Phân tích các công trình khoa học về HN của các tác giả trong và ngoài nước + Nghiên cứu xu hướng hiện nay của các nước phát triển và cách tiếp cận GDHN trong thời kỳ hội nhập theo tinh thần XHH

6.2.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

+ Điều tra, toạ đàm, phỏng vấn; tổng kết kinh nghiệm

+ Trưng cầu ý kiến chuyên gia; khảo nghiệm và thử nghiệm

+ Phương pháp so sánh

7 NHỮNG LUẬN ĐIỂM BẢO VỆ

7.1 Vai trò quan trọng của GDHN trong việc chuẩn bị nguồn nhân lực đáp ứng các

yêu cầu của sự phát triển KT-XH của đất nước trong thời kỳ hội nhập kinh tế

7.2 Công tác hướng nghiệp cần có sự tham gia của các lực lượng xã hội, một mình

nhà trường PT không thể đảm nhiệm công việc này

7.3 Những bất cập trong GDHN cho HS THPT trong thời gian qua Nguyên nhân

của những bất cập đó chủ yếu thuộc về phương thức tổ chức GDHN của các cấp quản lý trong hệ thống giáo duc quốc dân

7.4 Tính hợp lý và khả thi của các giải pháp tổ chức GDHN cho học sinh THPT theo

tinh thần xã hội hoá

8 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI

8.1 Đề tài góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về GDHN; xã hội hoá trong

giáo dục và tổ chức GDHN theo tinh thần XHH ở cấp THPT

8.2 Làm rõ thực trạng, chỉ ra những bất cập trong tổ chức GDHN cho học sinh

THPT và phân tích được những nguyên nhân cơ bản đó

8.3 Nêu rõ tính khả thi của năm nhóm giải pháp tổ chức GDHN cho học sinh THPT

theo tinh thần xã hội hoá

Trang 3

Tác giả Jacques Delors, Chủ tịch ủy ban Quốc tế độc lập về GD cho thế kỷ XXI của UNESCO đã nhấn mạnh: HSPT có cơ hội phát triển và nâng cao năng lực của mình bằng cách tham gia các hoạt động nghề nghiệp song song với việc học

Trên thực tế, cả lý luận và thực tiễn, việc huy động các tổ chức xã hội tham gia vào công tác GDHN ở nhiều nước trên thế giới đã được nghiên cứu ở một số khía cạnh khác nhau và được một số nước quan tâm, thực hiện khá tốt

1.1.2 Ở Việt Nam

Từ cuối những năm 70 của thế kỷ XX, nhiều công trình khoa học của các nhà tâm lý học, giáo dục học, xã hội học đã tiếp cận nghiên cứu nhiều vấn đề về GDHN cho HSPT ở những khía cạnh khác nhau Tác giả Phạm Minh Hạc đã đưa ra quan điểm về con người trong công cuộc đổi mới, là “ưu tiên đến việc giáo dục nghề nghiệp” Trong các công trình khoa học khác, nhiều tác giả như: Phạm Tất Dong, Đặng Danh Ánh, Nguyễn Như Ất, Nguyễn Viết Sự, Nguyễn Văn Lê, Trần Khánh Đức, Hà Thế Truyền, Bùi Văn Quân, Nguyễn Đức Trí … đã làm nổi bật vai trò quan trọng của công tác hướng nghiệp đối với việc phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam trong giai đoạn 2001 – 2010 và đề xuất một số giải pháp về công tác giáo dục hướng nghiệp ở Việt Nam trong giai đoạn 2005 - 2010

Ngoài ra, một số công trình khoa học của các tác giả nói trên đã bước đầu đề cập đến

sự cần thiết phải có sự phối hợp trong công tác GDHN cho HSPT, đây là một khía cạnh để thực hiện XHH công tác GDHN Song các tác giả chưa đi sâu vào nghiên cứu các nội dung

tổ chức GDHN cho HS THPT theo tinh thần XHH

1.2 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CÔNG CỤ

1.2.1 Hướng nghiệp

Tùy theo cách tiếp cận trên các lĩnh vực khoa học mà HN được hiểu theo những cách khác nhau Ngày nay, người ta nhận thấy chỉ cung cấp thông tin là không đầy đủ, mà cần phải

chỉ ra sự phát triển về mặt cá nhân, XH, GD và nghề nghiệp của HS: “Hướng nghiệp trong giáo

dục là hệ thống các biện pháp tiến hành trong và ngoài nhà trường để giúp HS có kiến thức về nghề nghiệp và có khả năng lựa chọn nghề nghiệp trên cơ sở kết hợp nguyện vọng, sở trường của cá nhân với nhu cầu sử dụng lao động của xã hội” [88; tr 2]

Từ khái niệm trên cho thấy, HN là quá trình hướng dẫn chọn nghề, quá trình chuẩn bị cho thế hệ trẻ đi vào lao động sản xuất xã hội HN là một hệ thống các biện pháp tác động của gia đình, nhà trường và xã hội, trong đó nhà trường đóng vai trò chủ đạo, nhằm hướng dẫn và chuẩn bị cho thế hệ trẻ sẵn sàng đi vào lao động

1.2.2 Tổ chức và tổ chức giáo dục hướng nghiệp

Trang 4

1.2.2.1 Tổ chức

Khái niệm tổ chức mang tính bất định và tính đa nghĩa Tuỳ thuộc vào cách tiếp cận

khác nhau mà người ta đưa ra những định nghĩa khác nhau về tổ chức

Trong khoa học quản lý, các nhà khoa học đều cho rằng tổ chức là một trong những

chức năng cơ bản của quản lý Tổ chức trong quản lý có 2 ý nghĩa cơ bản, chúng có liên

quan và bổ sung cho nhau: Ý nghĩa thứ nhất, tổ chức là một tập hợp các bộ phận, con người

gắn với một chức năng, nhiệm vụ, tổ chức với tư cách là một danh từ, ở đây, tổ chức được

nhận diện là tổ chức bộ máy Ý nghĩa thứ hai, tổ chức là triển khai các hoạt động theo kế

hoạch, tổ chức theo nghĩa động từ, theo đó tổ chức được coi là một chức năng hoạt động

quản lý, hay nhấn mạnh đến đặc tính động, đến phương diện mang tiến trình của khái niệm Trong luận án này, chúng tôi sử dụng cả hai nghĩa cơ bản của tổ chức

Từ những cách tiếp cận khác nhau, chúng ta có thể hiểu khái niệm tổ chức như sau:

+ Tổ chức là một nhóm xã hội trên cơ sở tập hợp những con người có sự thống nhất về

mục đích, có sự phối hợp chặt chẽ về hành động và có văn bản pháp quy quy định

+ Tổ chức là một đơn vị xã hội, được điều phối một cách có ý thức, có phạm vi

tương đối rõ ràng, hoạt động nhằm đạt được một hoặc nhiều mục tiêu chung

+ Tổ chức là một quá trình triển khai các kế hoạch Tổ chức bao gồm 3 chức năng

của quá trình quản lý

Như vậy, khi ta nói tổ chức hoạt động GDHN, chúng ta nhấn mạnh ý nghĩa tổ chức là

một chức năng quản lý công tác GDHN

1.2.2.2 Tổ chức giáo dục hướng nghiệp

Tổ chức GDHN cho HS PT là toàn bộ hệ thống các giải pháp, phương pháp được thực

hiện trong quá trình QL, phân công trách nhiệm, sắp xếp, bố trí người thực hiện, phối hợp các

hoạt động trong và ngoài nhà trường nhằm đưa hệ thống hoạt động đồng bộ và có hiệu quả cao

Nói cách khác, tập hợp hệ thống các giải pháp quản lý có tính tổ chức lên quá trình

GDHN gọi là “Tổ chức giáo dục hướng nghiệp” Tổ chức GDHN cho HS THPT là một

chức năng QLGD ở trường THPT để đảm bảo cơ cấu tổ chức và nhân sự cùng các nguồn

lực khác để thực hiện quá trình GDHN cho HS theo mục tiêu của GDHN THPT Cơ cấu tổ

chức GDHN được cụ thể hoá qua sơ đồ sau:

Sơ đồ 1: Cơ cấu tổ chức GDHN trong trường phổ thông

Tổ giáo viên chủ nhiệm

Các tổ chuyên môn

Đoàn thanh niên

BAN HƯỚNG NGHIỆP HIỆU TRƯỞNG

Trang 5

1.2.3 Giáo dục hướng nghiệp theo tinh thần xã hội hóa

1.2.3.1 Thuật ngữ "Xã hội hóa"

Khái niệm xã hội hoá được hiểu theo nhiều cách khác nhau, một số nước thường dùng

"mobilization", "participation" Cụm từ đó đã được nhiều nhà khoa học ở nước ta vận dụng dưới

dạng "Community participation in education" (sự tham gia của cộng đồng vào trong giáo dục)

Ở đây, chúng tôi sử dụng khái niệm XHH theo quan điểm của Đảng và Nhà nước ta được thể hiện trong các văn bản: Nghị quyết 90 - NQ/CP (ngày 21/8/1997), Nghị định 73/1999/NĐ-CP (ngày 19/8/1999), Nghị quyết 05/2005 (ngày 18/4/2005) Nội dung chủ yếu của XHH là:

- Vận động sự tham gia của nhân dân, của toàn XH vào một lĩnh vực cụ thể

- Xây dựng cộng đồng trách nhiệm của các tổ chức Đảng, Nhà nước, đoàn thể nhân dân, các tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp và của các tầng lớp nhân dân đối với việc tạo ra

và phát triển một môi trường KT-XH cho các hoạt động VH-XH

- Đa dạng hoá các hình thức hoạt động trong các lĩnh vực VH-XH, mở rộng cơ hội cho các tầng lớp nhân dân được tham gia chủ động và bình đẳng vào các hoạt động XH

- Đa dạng hoá các nguồn đầu tư, khai thác các nguồn nhân lực, vật lực đang tiềm ẩn trong xã hội

Tóm lại, có thể hiểu: Xã hội hoá là tăng cường tính chất xã hội và hiệu quả của các hoạt động trong một nhà nước bằng cách phát huy vai trò của các tổ chức xã hội trong cộng đồng với tinh thần tự nguyện cả về ý chí, tinh thần, trí tuệ, các nguồn lực vật chất nhằm động viên được mọi thành phần kinh tế, mọi cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước tham gia vào quá trình xây dựng và phát triển đất nước

1.2.3.2 Xã hội hóa giáo dục

Khái niệm xã hội hóa giáo dục (XHHGD) ở mỗi quốc gia có một quan niệm khác nhau Ở nước ta, khái niệm XHHGD được hiểu như sau: XHHGD là huy động toàn xã hội làm giáo dục, động viên các tầng lớp nhân dân góp sức xây dựng nền giáo dục quốc dân dưới sự quản lý của nhà nước

Qua nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy nội hàm của khái niệm XHHGD được thể hiện ở các nội dung sau:

- Tạo cơ hội và môi trường học tập cho mọi người

- Đa dạng hóa các loại hình đào tạo và hình thức học tập

- Tham gia đóng góp nhân lực - vật lực và tài lực cho giáo dục

- Tham gia trực tiếp vào việc giáo dục trẻ em và phát triển giáo dục

- Huy động sức mạnh của các lực lượng xã hội tham gia vào QLGD

1.2.3.3 Tinh thần “xã hội hoá”

Dựa vào quan điểm chỉ đạo của Đảng: "Các vấn đề chính sách xã hội đều giải quyết theo tinh thần XHH" Từ đây thuật ngữ " tinh thần xã hội hoá" được chính thức sử dụng Khi nói “tinh thần xã hội hoá” chúng tôi muốn trình bày với ý nghĩa cách tiếp cận hướng vào các nội dung xã

hội hoá Bởi vậy, tổ chức hoạt động GDHN theo tinh thần “xã hội hoá” được hiểu là:

+ Coi trọng vai trò tổ chức QL của các tổ chức XH trong quá trình phát triển GDHN + Vận dụng các nội dung (nguyên tắc) của xã hội hoá vào tổ chức QL GDHN

+ Tận dụng các lực lượng XH để phát triển GDHN thông qua việc tổ chức GDHN cho HS + Phát huy vai trò của cộng đồng xã hội trong việc tổ chức và quản lý GDHN

Trang 6

1.2.3.4 Giáo dục hướng nghiệp theo tinh thần xã hội hóa

Định hướng GDHN cho HS PT theo tinh thần xã hội hóa thực chất là:

- Tăng cường các mối quan hệ giữa nhà trường với tổ chức, đoàn thể và cá nhân trong XH

- Tăng cường sự hỗ trợ, giám sát hoạt động GDHN

- Tăng cường sự huy động nguồn lực cho GDHN

GDHN theo tinh thần XHH là tăng cường cộng đồng trách nhiệm trong hoạt động GDHN giữa 3 thành phần: xã hội - ngành giáo dục - người học

+ Đối với cộng đồng xã hội phải quán triệt và cụ thể hóa nhận thức vai trò, vị trí của HN trong việc phát triển nguồn nhân lực của đất nước, do đó các lực lượng xã hội phải tham gia phối hợp và hỗ trợ nhà trường phổ thông tổ chức GDHN cho HS

+ Đối với ngành GD-ĐT phải tích cực và chủ động thực hiện đầy đủ những quy định về GDHN cho HSPT theo chương trình phân ban ở bậc THPT đã được Chính phủ phê duyệt

+ Đối với người học (học sinh), trước hết phải hiểu được vai trò, tầm quan trọng của GDHN trước yêu cầu đổi mới của đất nước để xác định động cơ thái độ đúng đắn trong học tập Mỗi khi đã quyết định chọn nghề nào thì phải có thái độ và trách nhiệm với nghề đó

1.3 NHỮNG QUAN ĐIỂM ĐỔI MỚI TỔ CHỨC GDHN CHO HS THPT

1.3.1 Hướng nghiệp phải bám sát yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ

cấu lao động

1.3.2 Hướng nghiệp phải phục vụ nhu cầu phát triển nguồn nhân lực cho sự nghiệp

công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

1.3.3 Hướng nghiệp phải đáp ứng yêu cầu của kinh tế thị trường và tính đến xu thế

phát triển của kinh tế tri thức

1.3.4 Hướng nghiệp gắn việc học tập của học sinh với việc làm chủ công nghệ mới 1.3.5 Hướng nghiệp gắn với quá trình dạy học phân ban hiện nay

1.4 TỔ CHỨC GDHN CHO HỌC SINH THPT THEO TINH THẦN XHH

1.4.1 Thiết kế cơ cấu tổ chức theo tinh thần XHH

Cơ cấu tổ chức gồm có:

Trường THPT (thông thường là ban HN nhà trường)

Các tổ chức, cá nhân phối hợp: trung tâm KTTH-HN - các trường ĐH, CĐ,

TCCN; các cơ sở dạy nghề - các cơ sở sản xuất; dịch vụ - đại diện Hội CMHS; một số cá nhân: phụ huynh, các nhà hảo tâm, các cựu HS đã trưởng thành…

+ Vai trò chủ đạo của nhà trường:

- Xây dựng kế hoạch

- Tổ chức triển khai thực hiện: Trường THPT đóng vai trò trung tâm

+ Trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân phối hợp:

- Cùng trường THPT xây dựng kế hoạch

- Hỗ trợ nguồn lực: Đội ngũ giáo viên, kỹ thuật viên, tài liệu, CSVC; hỗ trợ tài chính

- Phối hợp với ban HN nhà trường tổ chức thực hiện GDHN

- Bố trí việc làm cho HS sau khi tốt nghiệp

Trang 7

Sơ đồ 2: Cơ cấu tổ chức GDHN cho HSPT theo tinh thần XHH

1.4.2 Bảo đảm các nguồn lực cho GDHN theo tinh thần XHH

Các nguồn lực cần thiết đảm bảo cho hoạt động GDHN:

a Nhân lực (con người): Đội ngũ giáo viên, cán bộ kỹ thuật của các trường dạy nghề, các cơ sở sản xuất, doanh nghiệp, nghệ nhân các làng nghề, cán bộ phụ trách đào tạo của các trường ĐH, CĐ, TCCN…; các nhà khoa học trong nước, các chuyên gia nước ngoài nghiên cứu nội dung GDHN

b Vật lực (cơ sở vật chất – kỹ thuật): Phòng hướng nghiệp, các thiết bị phục vụ cho hoạt động GDHN

c Tài lực (nguồn tài chính) bao gồm: Nguồn tài chính từ ngân sách nhà nước và nguồn tài chính huy động từ sự hỗ trợ của các tổ chức, cá nhân phối hợp

1.4.3 Hình thức tổ chức GDHN cho HS THPT theo tinh thần XHH

1.4.3.1 Tổ chức dạy học trên lớp

- Hướng nghiệp qua dạy học các môn khoa học cơ bản

- Hướng nghiệp qua dạy - học môn công nghệ và dạy nghề PT: Trường THPT tăng cường phối hợp với trung tâm KTTH-HN thực hiện đúng chương trình

1.4.3.2 Hướng nghiệp thông qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp

- Tổ chức câu lạc bộ, diễn đàn, đối thoại, sinh hoạt HN

- Tổ chức hoạt động ngoại khóa, du lịch sinh thái, tổ chức xem phim

- Tổ chức cho HS đi tham quan các trường ĐH, CĐ, các cơ sở ĐT nghề, các nhà máy, xí nghiệp cơ sở sản xuất dịch vụ tại địa phương, các nông trường

- Tổ chức các cuộc thi theo từng chuyên đề: thi kể chuyện nghề nghiệp; sưu tầm các thông tin, tranh ảnh các ngành nghề; cho HS xây dựng các dự án nhỏ ở địa phương…

HIỆU TRƯỞNG

BAN HƯỚNG NGHIỆP

CÁC TỔ CHỨC TRONG

NHÀ TRƯỜNG (Đoàn thanh niên, tổ chuyên môn,

tổ GVCN )

CÁC TỔ CHỨC XÃ HỘI (Cơ quan thông tin truyền thông, trung tâm KTTH-HN, trường dạy nghề, trường ĐH,CĐ,TC, doanh nghiệp, Hội CMHS )

Trang 8

Chương 2

CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ GDHN VÀ TỔ CHỨC GDHN CHO HỌC SINH THPT THEO TINH THẦN XÃ HỘI HOÁ

2.1 BỐI CẢNH KINH TẾ - XÃ HỘI TRONG NHỮNG NĂM QUA

2.1.1 Hội nhập quốc tế và khu vực

2.1.2 Sự chuyển đổi nền kinh tế kế hoạch hóa sang nền kinh tế thị trường theo định

hướng xã hội chủ nghĩa

2.1.3 Tác động của sự chuyển dịch cơ cấu KT và cơ cấu lao động

Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế sẽ dẫn đến việc chuyển dịch cơ cấu lao động

Do đó HN phải bám sát yêu cầu chuyển dịch cơ cấu ngành nghề lao động Để làm việc này, việc đào tạo và đào tạo lại người lao động phải cần đến lực lượng các doanh nghiệp; việc đưa học sinh đi thực tập, thực hành phải có sự giúp đỡ của các cơ sở sản xuất

và xí nghiệp; việc giới thiệu các nghề, nhất là các nghề mới phải dựa vào các ngành Do vậy

để đi vào chuyển đổi cơ cấu kinh tế càng phải xã hội hoá giáo dục mạnh hơn

Quá trình CNH - HĐH nông nghiệp, nông thôn tất sẽ dẫn đến việc chuyển dịch cơ cấu KT và tất nhiên sẽ thay đổi cơ cấu lao động - chuyển dịch cơ cấu đào tạo, từ đó dẫn đến nhu cầu cần điều chỉnh phân luồng và cơ cấu ngành nghề, cơ cấu trình độ đào tạo sau THPT

Biểu đồ 1: Số HS trong các trường dạy nghề giai đoạn 2000 - 2006

0 200000 400000 600000 800000 1000000 1200000 1400000

2000-2001 2001-2002 2002-2003 2003-2004 2005-2006

2000-2001 2001-2002 2002-2003 2003-2004 2005-2006

2.2 THƯC TRẠNG GDHN THEO TINH THẦN XHH TRONG NHỮNG NĂM QUA 2.2.1 Giáo dục hướng nghiệp theo tinh thần xã hội hoá qua 4 hình thức trong trường THPT

Kết quả điều tra việc thực hiện 4 hình thức GDHN từ 2.750 HS thuộc 21 trường THPT hai tỉnh Quảng Trị và Hà Tĩnh thu được ở bảng sau:

Thực hiện tốt (%)

Có thực hiện (%)

Không thực hiện (%)

1 Hướng nghiệp qua dạy - học các bộ môn khoa

3 Hướng nghiệp qua các buổi "Sinh hoạt HN" 14,7 45,8 39,5

4 Hướng nghiệp qua hoạt động ngoại khóa trong

và ngoài trường

0 22,8 77,2 (Nguồn: Vụ Kế họạch - Tài chính, Bộ Giáo dục và Đào tạo)

Trang 9

Những số liệu ở bảng (1) cho thấy trong những năm qua hầu hết các trường THPT chưa thực hiện tốt 4 hình thức GDHN theo quy định của Bộ GD&ĐT, cụ thể:

- GDHN qua dạy các bộ môn khoa học cơ bản và GDHN qua hoạt động ngoại khoá trong và ngoài nhà trường ở các trường THPT còn yếu kém

- Hướng nghiệp qua dạy học kỹ thuật phổ thông và GDHN và các buổi sinh hoạt HN

có thực hiện và thực hiện tốt Nhưng phần lớn giáo viên dạy không đúng chuyên môn đào tạo nên không hiểu biết về nghề, vì vậy từ khâu chuẩn bị giáo án đến khi lên lớp thường thiếu kiến thức thực tế nên công tác HN còn thiếu tính khả thi và không đáp ứng được nhu cầu thực tế của xã hội

2.2.2 Giáo dục hướng nghiệp theo tinh thần XHH qua học nghề phổ thông

Kết quả của hoạt động HN, dạy nghề tại các trung tâm KTTH-HN năm học 2001 -

2002 và 2006 - 2007 được thể hiện như sau:

+ Về số lượng: Năm học: 2001 - 2002 2006 – 2007

- Tổng số HS tham gia học nghề PT: 738.941 1.400.558

- Số HS được tư vấn HN tại trung tâm: 56.744 647.037 + Về chất lượng và quy mô: Học sinh nắm được lý thuyết nghề cơ bản, có kỹ năng thực hành tương đối tốt Quy mô dạy nghề PT và tổ chức tư vấn HN cho HS của nhiều trung tâm được mở rộng, số HS tham gia HN ngày càng nhiều.Tuy nhiên việc tổ chức GDHN và dạy nghề PT tại các trung tâm KTTH-HN vẫn còn một số hạn chế nhất định:

Nhiều trung tâm cơ sở vật chất yếu kém, lạc hậu, không đủ phòng học để tiếp nhận

HS Đội ngũ giáo viên thiếu đồng bộ, các trung tâm chưa huy động được đội ngũ giáo viên

từ các trường dạy nghề tham gia dạy nghề PT và GDHN cho học sinh Tỷ lệ HS bỏ học ở các trung tâm khá cao đã chứng tỏ khả năng thu hút học sinh ở một số trung tâm còn yếu kém, nhiều học sinh lớp cuối cấp THCS chưa được tư vấn chọn ban học ở cấp THPT GDHN chưa phát huy được vai trò của cộng đồng trong việc tổ chức và quản lý, dạy - học nghề phổ thông cho học sinh

2.2.3 Thực trạng về phân luồng học sinh sau trung học

Sau THPT, ngoài số ít HS trực tiếp tham gia lao động thì quá trình phân luồng HS vào các trường ĐH,CĐ, TCCN so với đào tạo nghề của nước ta từ 1986 đến nay có sự chênh lệch rất lớn về số lượng và quy mô đào tạo Ta có bảng so sánh:

Bảng 2 Số lượng trường học và số HSSV qua các mốc thời gian từ 1986-2006

Số trường Số học sinh, sinh viên

Ngành đào tạo

Dạy nghề 298 176 262 113.016 79.794 1.340.000 Trung cấp CN 281 253 292 135.409 149.378 334.975 Đại học, Cao đẳng 95 101 255 121.195 437.506 1.032.440

(Nguồn: Bộ Giáo dục và Đào tạo và tổng cục dạy nghề)

Thực trạng phân luồng HS như đã nêu trên cho thấy có sự bất hợp lý trong cơ cấu phân luồng HS sau THCS và THPT (77.4%) so với đào tạo nghề (7.8%) Điều này lý giải sự yếu kém về phân bố nguồn lực lao động ở nước ta so với các nước phát triển Nhật Bản khi bước vào CNH (năm 1960) như ta hiện nay, có 4 triệu học sinh trung học thì 1,8 triệu là HS học nghề (chiếm 45%), Cộng hòa liên bang Đức cứ 10 HS THPT thì có 8 HS học nghề (chiếm 80%) , trong khi đó ở Việt Nam tỷ lệ HS tốt nghiệp PT học tại các trường dạy nghề và trường TCCN rất thấp, chỉ chiếm 15,3%

Tóm lại, mặc dù công tác phân luồng học sinh trung học ở nước ta trong những năm qua đã có nhiều cố gắng nhất định nhưng chúng ta chưa có các biện pháp để phát huy vai trò của cộng đồng trong công tác phân luồng làm nảy sinh sự mất cân đối trong cơ cấu đào tạo

và cơ cấu nguồn nhân lực

Trang 10

2.3 THỰC TRẠNG GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP THEO TINH THẦN XÃ HỘI HOÁ Ở HAI TỈNH QUẢNG TRỊ VÀ HÀ TĨNH

2.3.1 Kết quả điều tra

2.3.1.1 Kết quả điều tra từ học sinh trường THPT

+ Các lực lượng xã hội có tham gia tổ chức GDHN cho học sinh trường THPT:

- Trung tâm KTTH-HN: 68,2%; đoàn thanh niên: 61,7%; hội CMHS: 0%

- Các trường ĐH, CĐ, trường dạy nghề, các doanh nghiệp: 4,6%

- Các tổ chức xã hội khác: 0%

+ Các nguồn thông tin giúp HS có hiểu biết về nghề nghiệp và thị trường lao động: Sách, báo, đài, ti vi: 83,2%; thông qua thầy cô giáo: 31,7%; bố, mẹ, anh chị, bạn bè, người thân: 22,1%; tự tìm hiểu lấy: 53,8%

+ Các hoạt động ngoại khoá về GDHN được nhà trường tổ chức trong năm học:

- Tổ chức tham quan: 8,7% ý kiến được khảo sát cho rằng có thực hiện

- Tổ chức các cuộc thi tìm hiểu về nghề: 0%

- Tổ chức câu lạc bộ, diễn đàn về hướng nghiệp theo các chủ đề trong năm học: có

21, 5% ý kiến cho rằng nhà trường có thực hiện

Các kết quả thu được từ HS cho thấy trong những năm qua công tác tổ chức GDHN chỉ được thực hiện bó hẹp trong nhà trường, từ công tác tổ chức đến việc huy động nguồn lực Ngoài các trung tâm KTTH-HN và tổ chức đoàn thanh niên có tham gia tổ chức GDHN, các lực lượng XH khác còn đứng ngoài cuộc 100% học sinh được hỏi cho rằng hội CMHS và nhiều tổ chức XH chưa tham gia vào hoạt động GDHN Vai trò của một số tổ chức XH trong GDHN cho học sinh còn mờ nhạt, một số tổ chức ở các địa phương như các doanh nghiệp, các cơ sở dạy nghề, một số Hội có quy mô lớn chưa tham gia vào hoạt động GDHN, có 95,4% ý kiến cho rằng các trường dạy nghề, các doanh nghiệp không tham gia GDHN

Thiếu thông tin và thiếu kiến thức thực tế về HN là điểm yếu lớn nhất hiện nay của học sinh THPT, đòi hỏi nhà trường phải huy động được sức mạnh của các tổ chức xã hội để tuyên truyền, phối hợp tổ chức các hoạt động ngoại khoá trong và ngoài nhà trường

2.3.1.2 Kết quả điều tra từ cán bộ QLGD các trường THPT và trung tâm KTTH-HN

+ Các lực lượng xã hội có tham gia giới thiệu nghề cho HS: đội ngũ giáo viên kỹ thuật chiếm tỷ lệ lớn nhất: 91,2% Tiếp đến là trung tâm KTTH-HN: 75,4% Đoàn thanh niên chỉ chiếm tỷ lệ ít ỏi: 14,2% Trường dạy nghề cũng không đáng kể: 6,1% Riêng hội CMHS và

cơ sở sản xuất dịch vụ không hề tham gia vào công tác HN (0%)

+ Về đội ngũ giáo viên dạy Công nghệ và hướng nghiệp tại 21 trường THPT khảo sát: Tổng số 108 Trình độ đào tạo: Đại học Sư phạm KTCN: 0 Cao đẳng Sư phạm KTCN: 11; đại học các ngành khác: 97

+ Về cơ sở vật chất – kỹ thuật cho GDHN: có 3/21 trường có phòng hướng nghiệp (chiếm 14,3%); 18/21 trường không có phòng HN (chiếm 85,7%)

+ Xây dựng cơ chế phối hợp với các đơn vị, tổ chức XH phối hợp tổ chức GDHN cho HS:

- Số trường có hợp đồng cam kết với trung tâm KTTH-HN: 14/21 (chiếm 66,7)

- Số trường có cơ chế phối hợp với hội CMHS: 3/21 (chiếm 14,3%)

- Số trường có cơ chế phối hợp với các trường ĐH, CĐ, TCCN, trường dạy nghề: 2/21 (chiếm 9,5%) và cơ chế phối hợp các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất dịch vụ: 0%

+ Kết quả điều tra và phỏng vấn từ cán bộ QLGD các trường THPT cho thấy khi giới thiều về nghề, nhà trường chỉ biết dựa vào đội ngũ giáo viên dạy kỹ thuật phổ thông (có

Trang 11

91,2% ý kiến), trung tâm KTTH-HN (75,4% ý kiến) mà chưa khai thác được sự tham gia đóng góp của các lực lượng xã hội khác như các cơ sở sản xuất, dịch vụ, các nhà máy, nông trường, các trường dạy nghề, hội cha mẹ học sinh

Về đội ngũ giáo viên dạy kỹ thuật và hướng nghiệp chưa có giáo viên nào được đào tạo chính quy đúng chuyên ngành Trong điều kiện giáo viên dạy kỹ thuật và hướng nghiệp vừa thiếu vừa yếu như hiện nay, việc khai thác nguồn cán bộ kỹ thuật từ các tổ chức, cơ sở nói trên sẽ góp phần quan trọng vào việc đa dạng hoá nguồn giáo viên hướng nghiệp trong trường THPT

Việc xây dựng cơ chế phối hợp với các lực lượng trong và ngoài nhà trường: 66,7%

ý kiến cho rằng việc phối hợp với trung tâm KTTH-HN để dạy nghề phổ thông và hướng nghiệp cho học sinh hàng năm thực hiện khá tốt Tuy nhiên, hầu hết các trường THPT chưa xây dựng cơ chế với hội CMHS (0%), các trường ĐH, CĐ, trường dạy nghề (9,5%), các cơ

sở sản xuất dịch vụ (0%) dẫn đến tình trạng trong nhiều năm qua chỉ có một số ít trường tổ chức GDHN cho học sinh trong khuôn khổ nhà trường, các lực lượng xã hội chưa có gì để cam kết, ràng buộc trong việc tổ chức GDHN cho học sinh

Về cơ sở vật chất, trong 21 trường THPT được khảo sát chỉ có 3 trường có phòng hướng nghiệp, nhưng thiết bị vật chất còn hết sức nghèo nàn và lạc hậu Cán bộ phụ trách phòng hướng nghiệp là bí thư hoặc phó bí thư đoàn thanh niên, chưa có cán bộ chuyên trách hướng nghiệp Khi trao đổi với chúng tôi, lãnh đạo Sở giáo dục và Đào tạo hai tỉnh Quảng Trị

và Hà Tĩnh đều cho biết hàng năm nguồn ngân sách xây dựng trường lớp chưa đáp ứng được yêu cầu, các trường không thể có ngân sách để xây dựng phòng hướng nghiệp, về lĩnh vực này ngành giáo dục rất cần sự quan tâm, hỗ trợ của các tổ chức xã hội

Bảng 3: Kết quả điều tra nguyên nhân hạn chế của hoạt động GDHN

trí (%)

Số ý kiến khác (%)

3 Hướng nghiệp chưa được coi là hoạt động giáo

5 Chưa xây dựng cơ chế phối hợp giữa trường

6 Hệ thống văn bản pháp quy chưa đủ mạnh, nội

7 Các tổ chức XH, trường chuyên nghiệp, trường

Kết quả ở bảng (3) cho thấy, trong 7 nguyên nhân làm cho hoạt động GDHN ngày càng giảm sút, 5 nguyên nhân có trên 94% người được hỏi cho là đúng Đó là: các trường THPT chưa xây dựng cơ chế phối hợp với các tổ chức đơn vị có liên quan; cơ sở vật chất cho GDHN yếu kém; các tổ chức XH, các trường chuyên nghiệp, trường dạy nghề, Hội CMHS chưa tham gia GDHN; thiếu giáo viên công nghệ, giáo viên chuyên trách HN và hướng nghiệp chưa được coi là hoạt động giáo dục chính khoá trong nhà trường Tất cả những nội dung trên đã nói lên rằng tinh thần xã hội hoá trong hoạt động GDHN cho học

Trang 12

sinh trung học phổ thông ở nước ta trong thời gian qua còn yếu kém, nhà trường chưa tận dụng được các lực lượng xã hội tham gia vào hoạt động GDHN cho học sinh

2.3.1.3 Thực trạng GDHN theo tinh thần xã hội hoá qua loại hình trường PTTH vừa học - vừa làm ở tỉnh Quảng Trị

Điểm nổi bật của mô hình trường PTTH vừa học - vừa làm Tân Lâm giai đoạn 1980 –

1990 là việc xây dựng cơ chế kết hợp giữa nhà trường với nông trường Tân Lâm, trong đó phân rõ trách nhiệm của nông trường và nhà trường về việc đào tạo và giáo dục lao động cho

HS Học sinh sau khi tốt nghiệp phổ thông được nông trường bố trí việc làm tại chỗ hoặc cho

đi đào tạo theo từng ngành nghề phù hợp với năng lực của học sinh và nhu cầu nguồn nhân lực của nông trường để sau khi tốt nghiệp ra trường trở về phục vụ tại nông trường

2.3 2 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ TỔ CHỨC GDHN CHO HS THPT THEO TINH THẦN XÃ HỘI HOÁ

2.3.2.1 Ưu điểm

Trong một thời gian khá dài (1986-1996), công tác tổ chức GDHN cho học sinh THPT khá tốt, nhiều trường THPT và trung tâm KTTH-HN đã có sự phối hợp tổ chức dạy nghề phổ thông và GDHN cho học sinh; nội dung và hình thức tổ chức khá linh hoạt nên đã mang lại những kết quả nhất định

Thực hiện chủ trương xã hội hoá, nhiều trường đại học, cao đẳng, trung cấp và trường đào tạo nghề ngoài công lập ra đời Cùng với hệ thống trường công lập, các trường ngoài công lập đã góp sức cùng các trường THPT tư vấn nghề và định hướng nghề nghiệp cho học sinh trong các mùa tuyển sinh hàng năm

Số lượng các trung tâm KTTH-HN ở các quận, huyện và trung tâm học tập cộng đồng ngày càng mở rộng đã làm phong phú đội ngũ giáo viên dạy kỹ thuật, hướng nghiệp cho trường THPT, học sinh có thêm cơ hội được GDHN tại các trung tâm và các trung tâm học tập cộng đồng

Trong những năm gần đây, các Sở giáo dục và Đào tạo đã phối hợp với báo Thanh niên, đài phát thanh truyền hình địa phương và các trường đại học, cao đẳng, trường trung cấp để tổ chức tư vấn tuyển sinh cho học sinh lớp 12 cuối cấp

2.3.2.2 Khuyết điểm và nguyên nhân tồn tại

Công tác tuyên truyền, phổ biến các chủ trương, chính sách của địa phương, đặc biệt

là nhu cầu về nguồn nhân lực cho sự phát triển KT-XH chưa đến với PH, HS Các phương tiện truyền thông còn hạn chế, chưa kịp thời đưa các thông tin về HN đến với mọi người, nhất là đối tượng HS lớp cuối cấp; nguồn thông tin về HN đưa vào các trung tâm học tập văn hoá cộng

đồng còn hạn chế

Chính quyền các cấp và các cấp QLGD chưa quan tâm đúng mức đối với GDHN cho HSPT, trong một khoảng thời gian khá dài từ 1990 – 2003 nhiều trường THPT không tổ chức thực hiện GDHN cho HS [33] Các trường THPT còn xem nhẹ công tác GDHN cho

HS, công tác tuyên truyền, giáo dục về HN cho HS chưa được các cấp QLGD quan tâm đúng mức

Các trường THPT thiếu chủ động xây dựng kế hoạch phối hợp với các lực lượng XH, chưa tổ chức tốt các hoạt động ngoại khoá về GDHN cho học sinh Nhà trường chưa xây dựng cơ chế phối hợp với các tổ chức xã hội Lâu nay, GDHN chỉ được triển khai bó hẹp trong trường THPT và một số trung tâm KTTH-HN; trong khi

đó các lực lượng xã hội còn đứng ngoài cuộc, chưa quan tâm phối hợp và hỗ trợ cả về con người, CSVC và nguồn tài chính

Ngày đăng: 04/04/2014, 08:58

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3: Kết quả điều tra nguyên nhân hạn chế của hoạt động GDHN - Tổ chức giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ thông theo tinh thần xã hội hoá
Bảng 3 Kết quả điều tra nguyên nhân hạn chế của hoạt động GDHN (Trang 11)
Bảng 4: Kết quả khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các giải pháp - Tổ chức giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ thông theo tinh thần xã hội hoá
Bảng 4 Kết quả khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các giải pháp (Trang 20)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w