Giải pháp 4: Hiệu trưởng THPT trong quản lý các hoạt động giáo dục Hệ giá trị đạo đức truyền thống cho học sinh ..... Mục đích nghiên cứu Đề xuất một số giải pháp quản lý hoạt động GDĐĐ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
THIỆU MINH QUỲNH
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TỈNH THÁI BÌNH
TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
HÀ NỘI - 2018
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
THIỆU MINH QUỲNH
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TỈNH THÁI BÌNH
TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 9 14 01 14 LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS.TS ĐẶNG BÁ LÃM
2 TS.TRẦN ANH TUẤN
HÀ NỘI - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của riêng tôi Các số liệu và tƣ liệu đƣợc sử dụng từ nhiều nguồn tài liệu đáng tin cậy và là kết quả của quá trình tiến hành khảo sát thực tế của tôi
Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về công trình nghiên cứu này
Hà Nội, tháng 12 năm 2018
Tác giả luận án
Thiệu Minh Quỳnh
Trang 4Nghiên cứu sinh xin trân trọng cám ơn Ban Giám hiệu, Lãnh đạo Khoa Quản lý giáo dục, Phòng Đào tạo và các quý thầy cô Trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho chúng em trong quá trình học tập và nghiên cứu
Nghiên cứu sinh xin trân trọng cám ơn Ban Giám hiệu, giáo viên và học sinh các trường THPT, các đồng chí cán bộ Ban Tuyên giáo, cán bộ Đoàn TNCS HCM, cán bộ các ngành Văn hoá, Giáo dục trên địa bàn tỉnh Thái Bình
đã tạo điều kiện và nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập dữ liệu
Xin trân trọng cám ơn gia đình và bạn bè - những người đã luôn động viên và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để tôi hoàn thành khoá học này
Luận án chắc chắn không tránh khỏi thiếu sót, kính mong quý thầy cô, anh chị, bạn bè đồng nghiệp quan tâm góp ý để luận án được hoàn thiện hơn
Hà Nội, tháng 12 năm 2018
Tác giả luận án
Thiệu Minh Quỳnh
Trang 5Cán bộ quản lý Công nghiệp hóa, hiện đại hóa Đạo đức truyền thống
Đại học Giáo dục đạo đức Giáo dục đạo đức truyền thống Giá trị văn hoá truyền thống Giáo viên
(Đoàn) thanh niên cộng sản Học sinh, sinh viên
Kinh tế thị trường Luận án
Quản lý giáo dục Trung học phổ thông Trung ương
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN I LỜI CẢM ƠN II DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT III DANH MỤC BẢNG SỐ IX DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ XI
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 2
4 Giả thuyết nghiên cứu 3
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu 3
7 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 4
8 Các câu hỏi nghiên cứu 9
9 Những đóng góp và điểm mới của vấn đề nghiên cứu 9
10 Cấu trúc luận án 10
Chương 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 11 1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài 11
1.1.1 Về đạo đức, giá trị đạo đức và văn hóa đạo đức 11
1.1.2 Về đạo đức truyền thống, giáo dục ĐĐTT và quản lý GDĐĐTT 12
1.1.3 Đánh giá và nhận định 14
1.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam 15
1.2.1 Về đạo đức, giá trị đạo đức và văn hóa đạo đức 15
1.2.2 Về đạo đức truyền thống, giáo dục ĐĐTT, quản lý GDĐĐTT 21
1.2.3 Nghiên cứu trường hợp: một số luận án liên quan đến đề tài 24
1.2.4 Những vấn đề đặt ra 27
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 29
Trang 7Chương 2: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ
THÔNG TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY 30
2.1 Các khái niệm cơ bản 30
2.1.1 Khái niệm Đạo đức theo tiếp cận giá trị 30
2.1.2 Giá trị đạo đức 31
2.1.3 Chuẩn mực đạo đức 33
2.1.4 Hoạt động giáo dục đạo đức 35
2.1.5 Quản lý hoạt động GDĐĐTT cho học sinh THPT 37
2.1.6 Giải pháp và biện pháp quản lý hoạt động GDĐĐTT cho học sinh THPT 38
2.2 Giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam 38
2.2.1 Giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc 38
2.2.2 Hệ giá trị đạo đức truyền thống của người Việt Nam 39
2.3 Đặc điểm giáo dục đạo đức truyền thống cho học sinh THPT 41
2.3.1 Đặc điểm lứa tuổi 41
2.3.2 Những đặc điểm nhân cách chủ yếu của học sinh THPT 45
2.4 Giáo dục đạo đức cho học sinh trường THPT 47
2.4.1 Mục tiêu giáo dục đạo đức truyền thống cho học sinh THPT 47
2.4.2 Nội dung giáo dục đạo đức truyền thống cho học sinh THPT 49
2.4.3 Cách thức giáo dục đạo đức truyền thống cho học sinh THPT 52
2.5 Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức truyền thống cho học sinh THPT 56
2.5.1 Mục tiêu của quản lý hoạt động GDĐĐTT cho học sinh THPT 56
2.5.2 Nội dung quản lý hoạt động GDĐĐTT cho học sinh THPT 57
2.5.3 Hệ thống tổ chức và phương thức triển khai 59
2.6 Bối cảnh hiện nay 61
2.6.1 Sự khác biệt giữa giá trị truyền thống và các giá trị xã hội hiện đại trong việc giáo dục giá trị ĐĐTT cho học sinh hiện nay 63
Trang 82.6.2 Mục tiêu giáo dục hệ giá trị ĐĐTT với xu hướng xa rời các giá trị ĐĐTT do ảnh hưởng, tác động tiêu cực của kinh tế thị trường và lối sống
thực dụng hiện nay đến quan niệm đạo đức của thanh niên học sinh 63
2.6.3 Khoảng cách giữa giá trị ĐĐTT với hiện thực cuộc sống đang diễn biến phức tạp, thường xuyên tác động đến họ 64
2.7 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động GDĐĐTT cho học sinh THPT 64
2.7.1 Yếu tố giáo dục gia đình và dòng tộc 64
2.7.2 Vai trò của các lực lượng tham gia vào quá trình giáo dục trong nhà trường 65 2.7.3 Vai trò của môi trường văn hóa cộng đồng 66
2.7.4 Yếu tố tự giáo dục của bản thân học sinh 67
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 68
Chương 3: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TỈNH THÁI BÌNH 69
3.1 Mô tả cách thức khảo sát thực trạng vấn đề nghiên cứu 69
3.1.1 Mục đích khảo sát và nội dung khảo sát 69
3.1.2 Công cụ và phương pháp khảo sát 69
3.1.3 Khách thể khảo sát 70
3.1.4 Đặc điểm của địa bàn khảo sát 71
3.2 Thực trạng hoạt động giáo dục ĐĐTT cho học sinh THPT ở Thái Bình 73
3.2.1 Thực trạng nhận thức về GDĐĐTT cho học sinh THPT 73
3.2.2 Thực trạng nhu cầu của học sinh về các giá trị ĐĐTT 87
3.2.3 Thực trạng triển khai thực hiện hoạt động giáo dục ĐĐTT trong các trường THPT tỉnh Thái Bình 89
3.2.4 Một số vấn đề từ thực trạng GDĐĐTT cho HSTHPT Thái Bình 93
3.3 Thực trạng quản lý hoạt động GDĐĐTT cho học sinh THPT Thái Bình 95 3.3.1 Về việc xây dựng kế hoạch và chương trình giáo dục đạọ đức 95
3.3.2 Về công tác kiểm tra, đánh giá hoạt động GDĐĐ, GDĐĐTT 97
Trang 93.3.3 Về hệ thống GDĐĐ và phối hợp các lực lượng giáo dục 98
3.3.4 Xây dựng môi trường văn hóa nhà trường và các điều kiện đảm bảo 105
3.4 Thực trạng tác động của các yếu tố ảnh hưởng tới quản lý hoạt động GDĐĐTT cho học sinh THPT ở tỉnh Thái Bình 107
3.5 Đánh giá chung về thực trạng quản lý hoạt động GDÐÐTT cho học sinh THPT ở tỉnh Thái Bình (phân tích S.W.O.T) 108
3.5.1 Điểm mạnh 108
3.5.2 Mặt yếu 111
3.5.3 Thời cơ 112
3.5.4 Thách thức 113
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 114
Chương 4: GIẢI PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TỈNH THÁI BÌNH TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY 115
4.1 Nguyên tắc dề xuất giải pháp 115
4.1.1 Đảm bảo mục tiêu giáo dục THPT 115
4.1.2 Đảm bảo tính pháp lý và tính thực tiễn 115
4.1.3 Đảm bảo tính đồng bộ 117
4.1.4 Đảm bảo tính khả thi 117
4.2 Giải pháp quản lý giáo dục ĐĐTT cho học sinh THPT tỉnh Thái Bình trong bối cảnh hiện nay 118
4.2.1 Giải pháp 1: Tổ chức triển khai cuộc vận động phát triển Hệ giá trị văn hóa dân tộc tiêu biểu của Việt Nam và của quê hương Thái Bình 118
4.2.2 Giải pháp 2: Tổ chức lồng ghép Hệ giá trị VHTTTB vào nội dung các cuộc vận động hiện có trong ngành GDĐT Thái Bình 122
4.2.3 Giải pháp 3: Thể chế hóa chính sách, nâng cao vai trò của pháp luật trong việc xây dựng văn hóa đạo đức, lối sống mới tại cộng đồng dân cư 128
4.2.4 Giải pháp 4: Hiệu trưởng THPT trong quản lý các hoạt động giáo dục Hệ giá trị đạo đức truyền thống cho học sinh 132
Trang 104.3 Kiểm định các giải pháp đề xuất 141
4.3.1 Lấy ý kiến chuyên gia về tính cấp thiết, tính khả thi và tính đồng bộ 141
4.3.2 Kết quả và phân tích 141
4.3.3 Tổ chức thực nghiệm Giải pháp 2 148
KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 156
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 158
1 Kết luận 158
1.1 Về lý luận 158
1.2 Về thực tiễn 159
2 Một số khuyến nghị 160
2.1 Đối với Tỉnh ủy, UBND tỉnh Thái Bình và Sở Giáo dục Đào tạo Thái Bình 160
2.2 Đối với BCH tỉnh đoàn và BCH Đoàn các cấp 161
2.3 Đối với Ban giám hiệu các trường THPT tỉnh Thái Bình 161
2.4 Đối với các cơ quan đoàn thể và các tổ chức xã hội địa phương 161
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ 163
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 164 PHỤ LỤC
Trang 11DANH MỤC BẢNG SỐ
Bảng 3.1.A Tổng hợp số liệu khách thể khảo sát lần 1 70 Bảng 3.1.B Tổng hợp số liệu khách thể khảo sát lần thứ 2 71 Bảng 3.2 Chất lượng giáo dục toàn diện học sinh THPT tỉnh Thái Bình 73 Bảng 3.3 Nhận thức của học sinh THPT Thái Bình về thực trạng chất lượng giáo dục đạo đức 75 Bảng 3.4 Nhận thức của GV, CBQL về thực trạng chất lượng giáo dục đạo đức (có so sánh với ý kiến của HS) 77 Bảng 3.5 Tự đánh giá của HS về những biểu hiện hành vi yếu kém đạo đức79 Bảng 3.6 Đánh giá của GV về những biểu hiện hành vi yếu kém đạo đức của
HS (có so sánh với HS) 80 Bảng 3.7 Đánh giá của GV (và HS) về nguyên nhân dẫn tới HS có đạo đức yếu 83 Bảng 3.8 Đánh giá nhu cầu của HS về các giá trị ĐĐTT 88 Bảng 3.9 Đánh giá của GV, CBQL về nhu cầu giáo dục các giá trị ĐĐTT cho
HS (và so sánh tương quan với ý kiến HS) 89 Bảng 3.10 Đánh giá về thực hiện mục tiêu GDĐĐTT cho HS 90 Bảng 3.11 Đánh giá về thực hiện các giá trị GDĐĐTT cho HS 91 Bảng 3.12 Đánh giá về hình thức tổ chức hoạt động GDĐĐTT ở trường THPT 92 Bảng 3.13 Đánh giá của GV, CBQL về kế hoạch và chương trình giáo dục đạọ đức, GDĐĐTT ở trường THPT 96 Bảng 3.14 Đánh giá của GV, CBQL về việc chỉ đạo triển khai GDĐĐTT 97 Bảng 3.15 Đánh giá của GV, CBQL về việc kiểm tra, đánh giá hoạt động GDĐĐ, GDĐĐTT cho học sinh ở trường THPT 98 Bảng 3.16 Đánh giá của GV, CBQL về vai trò của các chủ thể trong hệ thống GDĐĐTT cho HS THPT 100 Bảng 3.17 Đánh giá của GV, CBQL về hiệu quả phối hợp giữa Nhà trường, Gia đình và cộng đồng trong quá trình GDĐĐ 102
Trang 12Bảng 3.18 Đánh giá của GV, CBQL về hiệu quả tham gia quản lý hoạt động
giáo dục đạọ đức, lối sống cho học sinh THPT 104
Bảng 3.19 Đánh giá về xây dựng môi trường văn hóa nhà trường hiện nay105 Bảng 3.20 Đánh giá của GV, CBQLGD về việc đảm bảo các điều kiện giáo dục và tạo động lực giáo dục, tự giáo dục trong quá trình GDĐĐTT cho HS 106
Bảng 3.21 Đánh giá của GV, CBQLGD về thực trạng tác động của các yếu tố ảnh hưởng tới quản lý hoạt động GDĐĐTT cho học sinh 107
Bảng 4.1 Kết quả đánh giá tính cấp thiết của các giải pháp 141
Bảng 4.2 Kết quả đánh giá tính khả thi của các giải pháp 143
Bảng 4.3 Đánh giá về tính thống nhất và đồng bộ của các giải pháp 145
Bảng 4.4 Đối chiếu ý kiến theo các nhóm cán bộ về tính cấp thiết và tính khả thi của các giải pháp (số liệu tổng hợp) 145
Bảng 4.5 Các hoạt động thử nghiệm Giải pháp 02 152
Bảng 4.6 Đánh giá hiệu quả giáo dục giá trị ĐĐTT của GP2 đem lại 154
Trang 13DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Hình 2.1 Hệ thống tổ chức, quản lý hoạt động GDĐĐTT trên địa bàn một tỉnh 60 Biểu đồ 3.1 Tương quan tỉ lệ đánh giá mức độ Rất tốt giữa GV, CBQL và học sinh về thực trạng giáo dục đạo đức ở trường THPT 78 Biểu đồ 3.2 Tương quan tỉ lệ đánh giá mức độ vi phạm Rất thường xuyên các chuẩn mực đạo đức của GV, CBQL và học sinh 82 Biểu đồ 3.3 Đối chiếu đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nguyên nhân đến hành vi đạo đức yếu kém (Line Series 1 là đánh giá của học sinh THPT) 85 Biểu đồ 3.4 Đối chiếu đánh giá mức độ tham gia quản lý của các chủ thể trong hệ thống GDĐĐ (Line Series 1 là đánh giá của CBQL ngoài trường) 99 Hình 4.1 Mối quan hệ giữa các giải pháp quản lý xã hội và quản lý hoạt động GDĐĐTT cho học sinh (các trường THPT tỉnh Thái Bình) 140
Trang 14MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Thế kỷ XXI là thế kỷ không chỉ của khoa học công nghệ, của kinh tế tri thức,
mà còn là thế kỷ của đổi mới giáo dục Hơn lúc nào hết, con người được coi là vị trí trung tâm, là nhân tố quyết định sự phát triển của xã hội Đổi mới giáo dục đang diễn ra toàn cầu với những khuyến cáo của UNESCO về 4 trụ cột giáo dục và mục
đích của sự học: Học để chung sống (to live together), Học để hiểu biết (to know), Học để làm (to do) và Học để làm người, để tồn tại (to be) Những cuộc cải cách
giáo dục đang diễn ra rộng khắp hoàn cầu [132]
Ở Việt Nam, nguyên lý “dạy chữ đi đôi với dạy người” đã được thể hiện trong các nghị quyết của Đảng, Luật giáo dục và các quyết sách của Chính phủ,
của Bộ GD&ĐT Trong đó cốt lõi và xuyên suốt là vấn đề giáo dục nhân cách, giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ
Nhìn vào thực tiễn cuộc sống, chúng ta thấy, trong những năm gần đây, chúng ta đang phải đối mặt với một thực tế đáng buồn, đó là sự xuống cấp về mặt đạo đức xã hội Những hiện tượng băng hoại về đạo đức đang là nỗi nhức nhối của
xã hội chúng ta Vấn đề đạo đức xã hội, đạo đức cá nhân đang diễn ra hết sức phức tạp, đang có sự đấu tranh giữa cái mới, cái tiến bộ, cái thiện, với cái cũ, cái lạc hậu, cái ác; giữa chủ nghĩa vị tha với chủ nghĩa vị kỷ, giữa lối sống trung thực với thói dối trá chạy theo đồng tiền Dẫn đến tình trạng, trong gia đình, con cái bất hiếu, hắt hủi cha mẹ; vì lợi ích kinh tế, anh chị em quay lưng lại với nhau Ở nhà trường, trò khinh thầy, đi ngược lại truyền thống "tôn sư trọng giáo" Ngoài xã hội, quan hệ giữa người với người theo kiểu "đèn nhà ai nấy rạng", "cháy nhà hàng xóm bình chân như vại" Đây là một tình trạng đảo lộn về các chuẩn mực đạo đức truyền thống dân tộc, làm hoen ố những giá trị đạo đức truyền thống mà ông cha ta đã đổ biết bao mồ hôi, nước mắt, thậm chí cả máu xương để tạo dựng nên
Các nhà trường THPT cũng đã ý thức rõ được tầm quan trọng của việc giáo dục đạo đức truyền thống cho học sinh Giá trị của đạo đức truyền thống được kết tinh ở những phương diện chủ yêu như: Lòng yêu nước, căm thù giặc ngoại xâm; Sẵn sàng chiến đấu, hi sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc; Lối sống đoàn kết, nhân
ái, nghĩa tình; Truyền thống cần cù, hiếu học; Giàu ý chí, nghị lực vượt khó Giáo dục đạo đức truyền thống cho học sinh là hoạt động giáo dục giúp học sinh hiểu rõ những giá trị kết tinh nói trên, vận dụng vào cuộc sống của cá nhân và cộng đồng, nâng cao chất lượng cuộc sống Học sinh là đối tượng thụ hưởng trong hoạt động
Trang 15giáo dục này, phải tích cực, chủ động trong lĩnh hội những giá trị đạo đức nói trên, góp phần tự hoàn thiện bản thân, làm giàu vốn sống cá nhân, gắn kết truyền thống với hiện đại, đẩy mạnh tiến bộ xã hội
Công tác GDĐĐTT cho học sinh trong các nhà trường THPT địa bàn tỉnh Thái Bình những năm qua đã có nhiều chuyển biến tích cực và có tác dụng thiết thực, góp phần rất quan trọng trong việc phát triển toàn diện Đức - Trí - Thể - Mỹ cho người công dân tương lai của đất nước
Tuy nhiên, không nằm ngoài bối cảnh chung đã nói ở trên, việc quản lý hoạt động GDĐĐTT cho học sinh THPT hiện vẫn chủ yếu diễn ra theo kinh nghiệm, nội dung không được xác định rõ ràng và chỉ bó hẹp trong nội bộ từng nhà trường, thậm chí tách rời khỏi môi trường văn hóa cộng đồng, nên hiệu quả của GDĐĐTT chưa được như mong đợi Trên thực tế công tác quản lý GDĐĐTT cho học sinh còn thiếu những giải pháp có hiệu quả giáo dục
Mặt khác, Thái Bình là một trong những vùng đất tiêu biểu cho văn hóa đồng bằng Bắc bộ, là miền quê giàu truyền thống dân tộc và trong những cộng đồng dân cư Thái Bình vẫn còn lưu giữ bền vững khá nhiều những thuần phong
mỹ tục gắn liền với các giá trị ĐĐTT mà những vùng miền khác hiện nay đã không còn có được, Những ưu thế đó cần được đặc biệt xem xét đến trong bối cảnh đổi mới giáo dục đạo đức trong học sinh, sinh viên hiện nay
Do đó, nghiên cứu những biện pháp quản lý GDĐĐTT cho học sinh THPT Thái Bình theo tiếp cận giá trị, gắn với khai thác và phát huy hệ giá trị VHTT đặc thù của vùng đồng bằng Bắc bộ là một hướng đi mới, một việc làm cần thiết Từ nghiên cứu này, hoàn toàn có thể tham khảo, vận dụng cho công tác quản lý GDĐĐTT cho học sinh THPT ở những tỉnh có điều kiện tương tự
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi đã chọn đề tài: “Quản lý hoạt động
giáo dục đạo đức truyền thống cho học sinh trung học phổ thông tỉnh Thái Bình trong bối cảnh hiện nay”
2 Mục đích nghiên cứu
Đề xuất một số giải pháp quản lý hoạt động GDĐĐTT cho học sinh THPT tỉnh Thái Bình theo tiếp cận giá trị và góp phần nâng cao chất lượng GDĐĐ trong các trường THPT trên địa bàn tỉnh trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu: Quản lý hoạt động GDĐĐ cho học sinh THPT
Trang 163.2 Đối tượng nghiên cứu: Quản lý hoạt động GDĐĐTT cho học sinh
THPT trong bối cảnh hiện nay trên địa bàn tỉnh Thái Bình
4 Giả thuyết nghiên cứu
Các hoạt động giáo dục đạo đức truyền thống cho học sinh THPT tại tỉnh Thái Bình trong bối cảnh hiện nay trong những năm gần đây có nhiều tiến bộ, song vẫn còn nhiều bất cập và hạn chế về nhận thức tư tưởng đạo đức, chưa góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức truyền thống cho học sinh THPT tại tỉnh Thái Bình
Nghiên cứu, đề xuất các giải pháp quản lí hoạt động giáo dục đạo đức truyền thống cho học sinh Trung học phổ thông tại tỉnh Thái Bình trong bối cảnh hiện nay được xây dựng phù hợp với cơ sở lý luận về giáo dục đạo đức, kế thừa và phát triển kinh nghiệm thực tiễn giáo dục chính trị… sẽ góp phần xây dựng hệ thống giáo dục đạo đức cho học sinh tại Tỉnh Thái Bình ngày càng có chất lượng cao trong những năm tới
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Hệ thống hoá cơ sở lý luận về giáo dục đạo đức truyền thống, tác động
của kinh tế thị trường, xu thế toàn cầu hóa đến lối sống của học sinh THPT, nhân cách của học sinh Việt Nam trong thế kỉ XXI
5.2 Đánh giá thực trạng quản lý hoạt động giáo dục đạo đức truyền thống
cho học sinh THPT tại tỉnh Thái Bình trong bối cảnh hiện nay
5.3 Đề xuất giải pháp quản lí hoạt động giáo dục đạo đức truyền thống cho
học sinh THPT tại tỉnh Thái Bình trong bối cảnh hiện nay
5.4 Tổ chức thăm dò tính cần thiết và khả thi của các giải pháp đó và thử
nghiệm một số giải pháp tại một trường THPT thuộc tỉnh Thái Bình
6 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
Về nội dung, Đề tài tập trung nghiên cứu vấn đề quản lý hoạt động GDĐĐ
học đường trong bối cảnh hiện nay, gắn liền với vấn đề kế thừa và phát triển hệ giá trị VHTT tốt đẹp của dân tộc Việt Nam và những giá trị văn hóa tiêu biểu của vùng đồng bằng Bắc bộ nói riêng, đồng thời xem xét mối quan hệ giữa GDĐĐTT trong các trường THPT với vấn đề xây dựng môi trường văn hóa của địa phương và với
sự thống nhất các lực lượng giáo dục, trong đó có vai trò nòng cốt của Đoàn TNCS HCM các cấp tỉnh, huyện ở tỉnh Thái Bình
Trang 17Phạm vi khảo sát thực trạng về hoạt động GDĐĐ nói chung, GDĐĐTT nói
riêng cho học sinh THPT và thực trạng quản lý các hoạt động GDĐĐTT tại các trường THPT trên địa bàn tỉnh Thái Bình
Phạm vi thử nghiệm sư phạm được tiến hành tại 06 trường THPT đại diện cho 3 khu vực khác nhau: Khu vực Thành phố - đô thị (khu vực I), Khu vực Nông thôn - nông nghiệp (khu vực II nông thôn) và Khu vực Nông thôn- khó khăn của tỉnh Thái Bình
Chủ thể của các giải pháp quản lý giáo dục trong luận án này- với tư cách là
một hệ thống tác động quản lý giáo dục trên một địa bàn cấp tỉnh - là cơ quan Đảng, Đoàn và các cơ quan quản lý văn hóa- giáo dục cấp tỉnh (Ban Tuyên giáo tỉnh ủy, BCH tỉnh Đoàn TNCS, Sở GD&ĐT, Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch), và
ở cấp cơ sở (các trường học) là hiệu trưởng các trường THPT
7 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp luận
a) Phép biện chứng duy vật lịch sử là cơ sở phương pháp luận định hướng,
chỉ đạo quá trình nghiên cứu và trình bày kết quả nghiên cứu đề tài
- Quan điểm hệ thống- cấu trúc: Được vận dụng để phân tích các thành tố
hệ thống GDĐĐTT và xem xét các mối quan hệ biện chứng trong quản lý các hoạt động GDĐĐTT ở các trường THPT tỉnh Thái Bình hiện nay:
+ Mối quan hệ giữa GDĐĐTT và GDĐĐ, lối sống cho học sinh THPT
Trong đó, GDĐĐTT cho học sinh không phải là một số hoạt động riêng lẻ, mà phải
là nòng cốt trong các hoạt động toàn trường về GDĐĐ;
+ Mối quan hệ giữa GDĐĐTT trong các trường THPT và hoạt động giữ gìn, phát triển các giá trị VHTT trong cộng đồng, trong đó, công tác giáo dục các
giá trị ĐĐTT trong nhà trường phải là một bộ phận không thể tách rời các hoạt động giữ gìn, phát triển các giá trị VHTT trong cộng đồng dân cư, nơi nhà trường đóng chân và đa số học sinh sinh sống;
+ Mối quan hệ giữa GDĐĐTT học đường với các giải pháp xây dựng môi trường văn hóa của địa phương và với sự thống nhất các lực lượng giáo dục, trong
đó có vai trò nòng cốt của Đoàn TNCS HCM các cấp (BCH Đoàn trường THPT và
huyện/quận Đoàn, tỉnh Đoàn)
+ Mặt khác, cần xem xét những tác động quản lý công tác GDĐĐTT trong
trường học trong mối quan hệ biện chứng với hệ thống chính sách phát triển
Trang 18GD&ĐT của địa phương (tỉnh, huyện) và của quốc gia và trong tổng thể các mối
quan hệ chính trị, kinh tế, văn hóa- xã hội của cộng đồng
- Quan điểm lịch sử - logic: Đòi hỏi việc nghiên cứu thực trạng và các giải
pháp, biện pháp quản lý các hoạt động GDĐĐTT trong các trường THPT phải được đặt trong quá trình phát triển lịch sử của nó Cụ thể:
+ Một mặt, xem xét thực trạng các hoạt động GDĐĐTT cho học sinh THPT
tỉnh Thái Bình hiện nay trong quá trình vận động, phát sinh, xác định các mối quan
hệ nhân- quả của các “vấn đề” GDĐĐ trong các trường THPT những năm qua và trong các điều kiện cụ thể;
+ Nghiên cứu đề xuất các giải pháp, biện pháp cần tuân thủ nguyên tắc kế
thừa, phát triển những kinh nghiệm thực tiễn giáo dục tiên tiến ở Thái Bình (và các nơi khác);
- Quan điểm thực tiễn: Thực tiễn là động lực của nhận thức và thước đo của
chân lý Do đó:
+ Một mặt, tiếp cận này đòi hỏi từ mục đích nghiên cứu của đề tài, khách thể
và đối tượng nghiên cứu, phải xuất phát từ thực tiễn giáo dục Thái Bình, đáp ứng yêu cầu chất lượng GDĐĐ cho học sinh THPT Thái Bình;
+ Mặt khác, tiếp cận này là cơ sở đề ra nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn và
tính khả thi của các giải pháp, biện pháp quản lý hoạt động GDĐĐTT được đề tài nghiên cứu đề xuất
b) Tiếp cận giá trị và giá trị văn hóa
- Tiếp cận giá trị: Theo nghĩa chung nhất, giá trị là cái đã làm cho một
khách thể có ý nghĩa, lợi ích đối với chủ thể (cá nhân, nhóm, cộng đồng) và được
mọi người thừa nhận Giá trị trong đạo đức học là những chuẩn mực, những quy
tắc ứng xử của con người, luôn gắn liền với những khái niệm trung tâm như cái thiện, cái ác, công bằng, bình đẳng…đã được chủ thể chọn lọc và có ý nghĩa định hướng cho con người trong hoạt động
Giáo dục đạo đức nói chung, trong đó có GDĐĐTT, về bản chất là giáo dục giá trị đạo đức và chọn lọc các giá trị ĐĐTT tốt đẹp để giáo dục cho thanh thiếu
niên, chính là cách tiếp cận nhằm đạt được mục đích cao cả của GDĐĐ nói chung
và GDĐĐTT nói riêng trong các trường THPT
Trang 19Tiếp cận giá trị trong Luận án đòi hỏi việc nghiên cứu và tổ chức các hoạt
động GDĐĐTT phải xem xét đầy đủ các yếu tố của giá trị: Yếu tố nhận thức, Yếu
tố ảnh hưởng và Yếu tố lựa chọn
Sự phát triển các giá trị ĐĐTT được diễn ra trong toàn bộ hoạt động của người học trong nhà trường và trong cuộc sống, do đó còn liên quan đến hệ thống
giá trị văn hóa của cộng đồng
- Tiếp cận giá trị văn hóa:
Về bản chất, văn hóa là trình độ phát triển các giá trị chân, thiện, mỹ phản ánh sự tiến bộ, mức độ và trình độ nhân tính hóa và hoàn thiện nhân cách của con người Các giá trị của con người qua các thế hệ vừa là bản chất của văn hóa, vừa là
nội dung của sự phát triển con người
Tiếp cận giá trị văn hóa đòi hỏi việc nghiên cứu và tổ chức các hoạt động GDĐĐTT phải xem xét các giá trị ĐĐTT không tách rời các giá trị văn hóa nói chung và hệ giá trị VHTT của dân tộc Mặt khác, GDĐĐTT trong nhà trường không thể tách rời vấn đề xây dựng môi trường văn hóa, văn hóa cộng đồng và giữ gìn, phát huy các giá trị VHTT của dân tộc trong các cộng đồng
c) Tiếp cận hệ thống
Chúng tôi nhận thức rằng: tiếp cận hệ thống là hệ quả tất yếu của tiếp cận giá trị (giá trị văn hóa) và tiếp cận quản lý giáo dục theo địa bàn trong nghiên cứu quản lý hoạt động GDĐĐTT
Văn hóa đạo đức không thể nghiên cứu và tác động hình thành, phát triển cho học sinh chỉ trong môi trường giáo dục học đường, càng không thể bó hẹp trong phạm vi một nhà trường nào
Mặt khác, giáo dục- trong đó có giáo dục đạo đức là một quá trình xã hội, cũng không thể thực hiện hiệu quả, nếu chỉ được giao phó hoàn toàn cho nhà trường Quản lý giáo dục trên một địa bàn (tỉnh, huyện) thực chất là tổ chức, quản
lý một hệ thống giáo dục xã hội, vừa là quản lý giáo dục, vừa là quản lý xã hội, vừa là quản lý nhà nước về văn hóa xã hội
Từ đó, có thể và cần vận dụng tiếp cận hệ thống trong nghiên cứu LA này Trước hết, xét quan hệ Chủ thể- Đối tượng của hoạt động GDĐĐTT: Đối tượng giáo dục của giáo dục đạo đức nói chung, của các hoạt động GDĐĐTT nói riêng là thế hệ trẻ Việt Nam đang lớn lên trong một cộng đồng, có tính đồng nhất và thống
nhất Trong khi đó, chủ thể quản lý hoạt động GDĐĐTT thực chất là một hệ quản
Trang 20lý đa chủ thể, hay nói cách khác là sự phối hợp đa chủ thể trong một hệ thống quản
lý giáo dục trên một địa bàn cấp tỉnh, bao gồm: Cơ quan quản lý nhà nước về GD&ĐT (Sở, phòng), Cơ quan quản lý nhà nước về Văn hóa (Sở, phòng VHTT&DL), BCH Đoàn TNCS Hồ Chí Minh (tỉnh Đoàn, huyện/ thành Đoàn) Riêng với mô hình quản lý xã hội tại một địa bàn tỉnh như ở nước ta còn có sự lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối của Đảng CSVN tại địa phương (tỉnh ủy) Hơn nữa, trong
hệ thống chính trị ở Việt Nam chức năng quản lý các hoạt động chính trị, tư tưởng, trong đó có quản lý, chỉ đạo lĩnh vực giáo dục và văn hóa trên địa bàn một tỉnh đã được mặc định thuộc về Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Với hoạt động giáo dục chính trị, tư tưởng - đạo đức cho thanh thiếu niên trong tỉnh, Tỉnh Đoàn là cơ quan chủ quản, song dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh ủy (trực tiếp thông qua Ban Tuyên giáo tỉnh ủy)
Chính vì vậy, dù giữ một vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng trong quản lý hoạt động GDĐĐTT cho học sinh THPT trên địa bàn tỉnh, song Sở GD&ĐT- với tư cách là cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục- đào tạo tại một tỉnh chỉ là một trong
các chủ thể tham gia, mà không thể coi là chủ thể duy nhất
Tiếp cận hệ thống cũng được vận dụng trong LA khi đánh giá thực trạng, cũng như khi đề xuất một hệ thống giải pháp quản lý hoạt động GDĐĐTT cho họ sinh trên địa bàn toàn tỉnh Thái Bình
7.2 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể
7.2.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu tài liệu
- Nghiên cứu các tài liệu về kinh nghiệm của thế giới về giáo dục nhân cách
và giáo dục đạo đức học sinh trong bối cảnh hiện nay (thế kỉ XX-XXI)
- Nghiên cứu các văn bản về đường lối, chính sách, pháp luật của Nhà nước, địa phương về GDĐĐ, GDĐĐTT và quản lý GDĐĐTT cho thanh thiếu niên và học sinh;
- Nghiên cứu các sách, báo, tạp chí, tài liệu có liên quan đến đề tài (phân tích, tổng hợp, phân loại, ) hệ thống hoá tài liệu
Các PPNC lý luận giúp làm tổng quan nghiên cứu, xây dựng các khái niệm
và xác định cơ sở lý thuyết cho khảo sát, đánh giá thực trạng và tìm kiếm các giải pháp quản lý hoạt động GDĐĐTT trong trường học và cho học sinh THPT;
7.2.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Trang 21Phương pháp khảo sát bằng phiếu hỏi: Khảo sát, phân tích, đánh giá thực
trạng GDĐĐTT và quản lý hoạt động GDĐĐTT, những yếu tố tác động đến GDĐĐTT tại tỉnh Thái Bình trong bối cảnh hiện nay Đối tượng khảo sát là học sinh THPT, giáo viên các trường THPT tỉnh Thái Bình và một số CBQL giáo dục
Sở GD&ĐT, Ban giám hiệu các trường THPT
Phiếu khảo sát cũng được phát ra lấy ý kiến của một số cán bộ quản lý văn hóa cơ sở, cán bộ lãnh đạo tỉnh Đoàn, huyện Đoàn và một số cán bộ Ban Tuyên giáo tỉnh ủy, những người đại diện cho chủ thể tham gia quản lý hoạt động GDĐĐTT cho thanh thiếu niên tỉnh Thái Bình
- Phương pháp quan sát: Quan sát, đánh giá các biểu hiện hành vi ĐĐTT của
học sinh THPT trong tình huống tự nhiên và một số biểu hiện của các hoạt động quản lý GDĐĐ cho học sinh THPT trong tỉnh Qua đó thu được các thông tin cần thiết về quản lý hoạt động GDĐĐTT
- Phương pháp phỏng vấn: Phỏng vấn lãnh đạo, một số chuyên viên Sở
GD&ĐT tỉnh Thái Bình, giáo viên và CBQL trường THPT trong tỉnh và một số cán bộ quản lý văn hóa cơ sở, cán bộ lãnh đạo tỉnh Đoàn, huyện Đoàn và một số cán bộ Ban Tuyên giáo tỉnh ủy
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Tổng kết kinh nghiệm thực tiễn về
quản lý hoạt động GDĐĐ nói chung, trong đó có hoạt động GDĐĐTT nói riêng của các trường THPT và của Sở GD&ĐT Thái Bình , trong đó có một số báo cáo tổng kết năm học của các trường THPT tỉnh Thái Bình
Các PPNC thực tiễn luận án thu thập thông tin, số liệu thống kê, giúp tác giả nghiên cứu kế thừa các kết quả nghiên cứu thực tiễn đã được công bố và đánh giá thực trạng hoạt động GDĐĐTT tại tỉnh Thái Bình làm căn cứ cho các giải pháp quản lý hoạt động GDĐĐTT cho học sinh THPT trên địa bàn tỉnh
7.2.3 Phương pháp chuyên gia
Phỏng vấn và tham khảo ý kiến các chuyên gia giáo dục, cán bộ QLGD, những giáo viên giàu kinh nghiệm ở các trường THPT về hoạt động giáo GDĐĐTT hiện nay ở các trường THPT
Khảo sát bằng phiếu hỏi để kiểm định tính cấp thiết và tính khả thi của các giải pháp quản lý do LA đề xuất đối với hoạt động GDĐĐTT cho học sinh THPT tỉnh Thái Bình trong bối cảnh hiện nay
7.2.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Trang 22Tổ chức thử nghiệm một trong số các giải pháp do LA đề xuất trong điều kiện thực tế (có các minh chứng) ở các trường THPT tỉnh Thái Bình để kiểm định giả thuyết của đề tài
7.2.5 Các phương pháp hỗ trợ
Luận án sử dụng các phương pháp toán thống kê, trong đó có kết hợp sử dụng phần mềm SPSS để xử lý dữ liệu khảo sát thực trạng vấn đề và dữ liệu có được khi lấy ý kiến chuyên gia về tính cấp thiết, tính khả thi của các giải pháp
Sử dụng các hình vẽ, sơ đồ, biểu bảng, đồ thị, khi trình bày, diễn giải các kết quả nghiên cứu
8 Các câu hỏi nghiên cứu
8.1 Hoạt động giáo dục đạo đức truyền thống tại tại tỉnh Thái Bình trong bối
cảnh hiện nay có tác động thế nào đến phẩm chất, nhân cách học sinh THPT hiện nay?
8.2 Có cần giáo dục đạo đức truyền thống cho học sinh không? Giáo dục
đạo đức truyền thống là giáo dục cái gì và như thế nào? Để GDĐĐTT cho học
sinh THPT hiệu quả trong bối cảnh hiện nay cần lựa chọn những giá trị ĐĐTT nào,
và các giá trị đó được biểu hiện ở các chuẩn mực hành vi của học sinh như thế nào trong các hoạt động GDĐĐ ở các trường THPT trên địa bàn một tỉnh?
8.3 Quản lí hoạt động giáo dục đạo đức truyền thống tại tại tỉnh Thái Bình
trong bối cảnh hiện nay như thế nào? Tác động quản lý hoạt động giáo dục đạo đức truyền thống tại tỉnh Thái Bình trong bối cảnh hiện nay đến các hoạt động giáo dục học sinh như thế nào?
8.4 Công tác quản lý hoạt động GDĐĐTT cho học sinh các trường THPT tỉnh
Thái Bình hiện nay đã và đang được triển khai như thế nào và đâu là những “vấn đề” cần được giải quyết nhằm nâng cao chất lượng GDĐĐ thế hệ trẻ hiện nay?
8.5 Trong chủ trương cần đề xuất, bổ sung những hoạt động giáo dục nào
để nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức truyền thống tại các trường THPT tại tỉnh Thái Bình, góp phần thúc đẩy chất lượng giáo dục hiện nay và hình thành phẩm chất học sinh trong bối cảnh hiện nay?
9 Những đóng góp và điểm mới của vấn đề nghiên cứu
9.1 Hệ thống hóa cơ sở lý luận của quản lý giáo dục đạo đức truyền thống
với việc xây dựng lối sống, nhân cách, phẩm chất chính trị mới cho học sinh THPT trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay Làm rõ mối quan hệ biện chứng giữa giá trị đạo đức và chất lượng giáo dục đạo đức truyền thống
Trang 239.2 Đánh giá đúng thực trạng quản lý hoạt động giáo dục đạo đức truyền
thống cho học sinh Trung học phổ thông tại tỉnh Thái Bình trong bối cảnh hiện nay
9.3 Đề xuất được một tập hợp các giải pháp quản lý giáo dục theo tiếp cận
quản lý giáo dục theo địa bàn, trong đó có sự phối hợp các lực lượng giáo dục, từ vai trò tổ chức- chỉ đạo của các cơ quan quản lý xã hội về văn hóa- giáo dục cấp tỉnh đến công tác tổ chức- thực hiện ở từng cộng đồng dân cư và ở từng trường THPT Đó là những giải pháp quản lý giáo dục dựa trên cộng đồng, có tính khả thi
và đáp ứng nhu cầu cấp thiết đối với vấn đề quản lý các hoạt động GDĐĐTT cho học sinh THPT tỉnh Thái Bình trong bối cảnh hiện nay, đồng thời có thể vận dụng cho các tỉnh khác có điều kiện tương tự
Chương 2: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động GDĐĐTT cho học sinh
THPT trong bối cảnh hiện nay
Chương 3: Thực trạng quản lý hoạt động GDĐĐTT cho học sinh các
trường THPT tỉnh Thái Bình hiện nay
Chương 4: Giải pháp quản lý hoạt động GDĐĐTT cho học sinh THPT tỉnh
Thái Bình trong bối cảnh hiện nay
Trang 24Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC
TRUYỀN THỐNG CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Do tính chất của đề tài và điều kiện thực tế, tác giả LA gặp khó khăn khi tìm kiếm những nghiên cứu ở nước ngoài về GDĐĐTT Các tài liệu nghiên cứu tập hợp được chủ yếu là loại thứ cấp và gián tiếp Xin được tổng quan và khái quát tình hình nghiên cứu vấn đề liên quan đến đề tài như sau:
1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài
1.1.1 Về đạo đức, giá trị đạo đức và văn hóa đạo đức
Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, xuất hiện từ buổi bình minh của lịch
sử Những tư tưởng về đạo đức, giá trị đạo đức và về đạo đức học đã hình thành hơn 2500 trước đây trong triết học cổ đại (Ấn Độ, Trung Quốc cổ đại ở Phương Đông và Hy Lạp cổ đại, La Mã cổ đại ở phương Tây)
Ở Trung Quốc: Khổng Tử (551- 479 TCN) cổ đại đề cao hình mẫu người
“chính nhân quân tử” với đầy đủ các đức tính Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín (ngũ thường)
Hệ thống đạo đức của Khổng Tử dựa trên chữ “Nhân” và chữ “Đức” để chỉnh đốn ý thức cá nhân “tu thân, tích đức, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” Dựa theo mức độ tu dưỡng đạo đức, Khổng Tử chia thành ba hạng người: Thánh nhân, Quân tử và Tiểu nhân Trong đó, Tiểu nhân là kẻ "hèn mọn", hành động không biết tới đạo đức [50] Quan niệm về đạo đức của Khổng tử là trụ cột của hệ thống đạo đức Nho gia và được coi là nền tảng của ĐĐTT của nhiều dân tộc Đông Á (Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên) và Đông Nam Á (Việt Nam)
Ở Hoa Kỳ Đã đưa ra mấy loại định hướng giá trị: (1) Định hướng cá nhân
tuyệt đối: chỉ vì lợi ích cá nhân - cần kịch liệt lên án định hướng này; (2) Định hướng cạnh tranh: hướng vào giành kết quả có lợi cho mình, nhưng trong quan hệ với người khác, hai bên cùng có lợi, nhưng mình có lợi hơn; (3) Định hướng hợp tác: cùng hợp tác và cùng thắng; (4) Định hướng vị tha: ai cần thì mình giúp, thậm chí có thể hy sinh quyền lợi của bản thân để giúp người khác Từ phân loại định hướng giá trị xã hội đi đến phân loại hành vi tích cực mà xã hội mong đợi: (1) Hành vi hợp tác; (2) Hành vi tương trợ; (3) Hành vi từ thiện; (4) Hành vi bảo vệ môi trường; (5) Hành vi điều đình [dẫn theo 44]
Singapore Cuối thế kỷ XX đã đề ra “Hệ giá trị Singapore” gồm 5 điểm: (1)
quốc gia trên hết, xã hội đầu tiên; (2) gia đình là gốc, xã hội là thân; (3) quan tâm giống nhau đồng cam cộng khổ; (4) tìm cái đồng, gạt bất đồng, hiệp thương cùng
Trang 25hiểu biết; (5) chủng tộc hài hoà, tôn giáo khoan dung Đến năm 2004, Bộ Giáo dục Singapore công bố mới Hệ giá trị của ngành gồm 4 điểm: (a) chính trực; (b) con người là tiêu điểm, phát huy cái tốt của mọi người; (c) đam mê học tập, học tập là đường đời, đón tương lai; (d) chất lượng [dẫn theo 45]
Indonesia Dựa trên 12 giá trị toàn cầu (Universal values (taken from
Lickona 1997), Bộ Giáo dục và Văn hóa Indonesia đã đưa ra cho các trường học
17 giá trị, trong đó có các giá trị truyền thống dân tộc: Tính trung thực/ lòng khoan dung/ Tính kỷ luật / sự làm việc chăm chỉ/ Tính sáng tạo / Tính độc lập/ Tính dân chủ/ Ham học hỏi / Lòng yêu nước / Chủ nghĩa dân tộc / Đánh giá cao thành tích/ Thân thiện, giao tiếp / Kiến tạo hòa bình / Người đọc giỏi / Ý thức về môi trường/
Ý thức xã hội/ Có trách nhiệm Từ bảng trên cho thấy chính quyền giáo dục cố gắng chấp nhận nhiều giá trị khác nhau Các giá trị của “tôn giáo” cũng được chấp nhận, do đó, trường học và giáo viên có thể ưu tiên giá trị này trong kế hoạch bài học của họ [U.Qoyyimah (2015),140]
1.1.2 Về đạo đức truyền thống, giáo dục ĐĐTT và quản lý GDĐĐTT
Nghiên cứu trường hợp ở một số quốc gia có nền giáo dục phát triển
Nước Mỹ rất chú trọng “giá trị” Mỗi người dân Hợp Chúng quốc Hoa Kỳ
luôn tự hào được là công dân Mỹ và về các “giá trị Mỹ” như là giá trị văn hóa truyền thống của nước Mỹ Tổng thống thứ hai của Mỹ John Adams, 200 năm trước đã từng nói: “Trẻ em nên được giáo dục dựa theo nguyên tắc tự do” Những công dân Mỹ tương lai được định hình bởi giá trị cốt lõi là tự do đi kèm với tự chủ
và ý thức tự tôn quốc gia [dẫn theo H.Hải, 133]
Hầu hết các bang của nước Mỹ không có môn Giáo dục đạo đức (Morals Education) dạy trong trường học, mà có các hoạt động chủ đề về GDĐĐ “cắt
ngang” (across) chương trình giảng dạy và cũng chỉ chủ yếu ở các lớp tiểu học
“Không có nhiều thỏa thuận về giáo dục đạo đức nên là gì, và không có
"môn học" của giáo dục đạo đức tương ứng với các quy định các khóa học Tuy nhiên, giáo dục đạo đức thường được tích hợp một cách hợp lý vào tất cả các khóa học, cũng như trong các hoạt động ngoại khóa và đặc thù của trường học… "Giáo dục đạo đức" là một thuật ngữ chung cho hai nhiệm vụ và cách tiếp cận khá khác
nhau: Thứ nhất, là nhiệm vụ nuôi dưỡng những đức tính và giá trị làm cho con cái trở nên công dân tốt Nhiệm vụ thứ hai của giáo dục đạo đức là cung cấp cho học
sinh các nguồn thông tin trí tuệ giúp họ đưa ra các phán đoán và có trách nhiệm về những vấn đề khó khăn có tầm quan trọng đạo đức Cả hai đều là những nhiệm vụ
Trang 26quan trọng của các trường học - và cả hai nhiệm vụ đều “cắt ngang” (across) chương trình giảng dạy [138]
Ở Pháp, môn Giáo dục công dân đóng vai trò quan trọng giúp hình thành
nền tảng đạo đức, tư duy phản biện cho các thế hệ tương lai của đất nước Người
Pháp tự hào là thủ đô “ánh sáng văn hóa” của Châu Âu và thế giới và họ biết giáo dục, truyền lại niềm tự hào tầm cỡ quốc gia đó cho các thế hệ trẻ Mặt khác, một số giá trị VHĐĐ khác cũng được đề cao trong nhà trường: “Ở bậc tiểu học, môn giáo dục công dân cũng chú trọng tình cảm gia đình, song không nhấn mạnh đến các khía cạnh như ngoan hiền, vâng lời như trong nội dung môn học này ở Việt Nam”
[N.K.Trung,126]
Phần Lan đang là quốc gia hàng đầu về chất lượng giáo dục Trong quyển
sách “Thế giới có thể học hỏi điều gì từ nền giáo dục Phần Lan”, tác giả Pasi
Sahlberg, nhà giáo dục nổi tiếng, Tổng Giám đốc Trung tâm Luân chuyển và Hợp tác quốc tế Phần Lan, đã chỉ ra rằng giáo dục Phần Lan dựa trên triết lý niềm tin - yếu tố tạo ra chính sách, với phương pháp dạy học rất đặc trưng Phần Lan: “Những tinh hoa thực sự của giáo dục Phần Lan nằm ở triết lý về giáo dục: Phải có niềm tin vào con người” Giáo dục cho trẻ em và học sinh niềm tin vào con người như là các giá trị nhân văn và là phẩm chất đạo đức then chốt của nhân cách, đã làm nên thành công của nền giáo dục Phần Lan [126]
Nhật Bản là quốc gia có nền giáo dục hàng đầu, không chỉ của khu vực
Châu Á, mà còn của toàn cầu Giáo dục đạo đức ở Nhật Bản được xây dựng trên nền tảng các giá trị gia đình và văn hóa truyền thống, được thực hiện ưu tiên so với tất cả môn học khác trong chương trình giáo dục phổ thông
Giáo dục đạo đức ở Nhật Bản tập trung vào ba giá trị cốt lõi: lòng tôn trọng
cuộc sống, quan hệ cá nhân và cộng đồng và ý thức về “trật tự dọc” (Kỷ cương, tôn ti xã hội) Ý thức tôn ti xã hội, vốn bắt nguồn từ tư tưởng đạo Khổng, song
hiện nay vẫn được đề cao, rất được tôn trọng và tuân thủ nghiêm ngặt trong xã hội Nhật Từ gia phong gia đình và giáo dục nhà trường, từ đạo đức cá nhân, ý thức tôn ti xã hội đã chuyển hóa vào các đơn vị cơ sở của xã hội, bao gồm cả ở trường học và doanh nghiệp “các thành viên gắn kết với nhau bởi tình cảm tự nhiên và sự tôn trọng thế hệ đi trước hơn là bởi nguồn lực và khả năng” [1]
Trung Quốc tiêu biểu cho một quốc gia đang phát triển, có tốc độ phát triển
kinh tế hàng đầu thế giới Nghiên cứu về GDĐĐTT không thể không xem xét
trường hợp Trung quốc, là đất nước tiêu biểu về các giá trị VHTT lâu đời gắn với các giá trị tôn giáo đạo Phật, đạo Nho (Khổng giáo)
Trang 27Nhiều bài viết của các nhà khoa học Trung Quốc được tập hợp trong thông tin
chuyên đề “Những vấn đề đạo đức trong điều kiện kinh tế thị trường” đã tập hợp
nhiều công trình nghiên cứu công phu, đề cập tới sự tác động của nền kinh tế thị trường với đạo đức, giá trị ĐĐTT dân tộc, mối quan hệ giữa đạo đức với kinh tế trong điều kiện kinh tế thị trường Trong đó nhấn mạnh: cuộc đổi mới toàn diện đất nước (Trung Quốc) làm nảy sinh nhiều vấn đề mới trong xã hội, vì thế vấn đề đạo đức cũng phải được nghiên cứu trong điều kiện kinh tế thị trường với những tác động đa chiều, đan xen của nó [92]
Nhà nước Trung Quốc xác định những giá trị cần giáo dục cho người dân
Đó là: (i) Yêu nước, không làm gì có hại cho đất nước; (ii) Phục vụ nhân dân, không bao giờ phản bội; (iii) Tin theo khoa học, loại bỏ mê tín; (iv) Siêng năng không biếng nhác; (v) Đoàn kết giúp đỡ nhau, không hại người để lợi mình; (vi) Trung thực và đáng tin cậy, không hy sinh đạo đức cho lợi nhuận; (vii) Có kỷ luật
và tuân thủ luật pháp; (viii) Không lãng phí xa hoa Tám điểm này được coi là nền
tảng đạo đức xã hội chủ nghĩa và là nội dung của giáo dục công dân ở Trung Quốc trong thập kỷ qua [69]
1.1.3 Đánh giá và nhận định
Qua khảo cứu và phân tích, bước đầu có thể xác định:
Trước hết, ở các quốc gia có nền giáo dục tiên tiến, như ở Hợp chủng quốc
Hoa Kì, Phần Lan, Pháp, hay Nhật bản đại diện Châu Á; việc giáo dục cho thanh thiếu niên, hình thành ở học sinh các giá trị đạo đức nhân cách được gắn với các
giá trị nhân văn tốt đẹp đã thành hệ giá trị văn hóa truyền thống của quốc gia, chứ
không hẳn là một hệ giá trị đạo đức dân tộc
Môn GDĐĐ (và Giáo dục công dân) trong trường học chủ yếu là nhằm hình
thành các giá trị văn hóa (văn hóa đạo đức) cho học sinh và giúp họ thích ứng với
cuộc sống xã hội đương đại Như vậy, có mối quan hệ mật thiết giữa các giá trị VHTT và các giá trị văn hóa hiện đại trong GDĐĐ học đường
Thứ hai, các giá trị đạo đức được hình thành chủ yếu bằng con đường trải
nghiệm cá nhân, được nhà trường tổ chức và cộng đồng tham gia rất thuận lợi, chứ không chỉ thông qua môn học Giáo dục công dân (hoặc môn Đạo đức) trong nhà trường Hầu như chỉ ở các lớp dưới (Tiểu học, THCS) mới có môn Đạo đức (Morals Education), còn môn Giáo dục công dân (Civics Education) thì dạy ở bậc trung học với mục tiêu hình thành những phẩm chất của người công dân tích cực, với những mục tiêu đơn giản và rõ ràng
Trang 28Thứ ba, có thể nói, trong khi các nước Âu - Mĩ chủ yếu quan tâm giáo dục
giá trị văn hóa cá nhân, giáo dục đạo đức công dân (tính trung thực, thái độ tự tin, tinh thần hợp tác, tôn trọng sự khác biệt, ) giúp các thế hệ đi sau thành công trong
cuộc sống hiện đại, thì GDĐĐTT chỉ có ở một số nước Châu Á, đặc biệt là ở các dân tộc có truyền thống văn hóa đạo Phật và đạo Khổng (Buddism, Congfucianism)
Thứ tư, GDĐĐ nói chung và GDĐĐTT nói riêng cần đưa ra một hệ giá trị,
trong đó mỗi quốc gia cũng có những lựa chọn (và thành công) những giá trị văn hóa tiêu biểu và riêng có của đất nước và người dân trong tổng thể các giá trị phổ
quát của nhân loại, bởi có mối quan hệ mật thiết giữa các giá trị truyền thống và các giá trị hiện đại trong GDĐĐ và phát triển nhân cách Nhưng tùy theo vị trí của
mỗi nhà trường trong từng cộng đồng có thể lựa chọn ưu tiên những giá trị bản sắc dân tộc/ cộng đồng trong hệ giá trị được khuyến cáo cho giáo dục học đường
Thứ năm, cần nghiên cứu, chắt lọc các giá trị tốt đẹp đã trở thành giá trị
truyền thống cho dân tộc, lấy đó làm cơ sở hình thành giá trị đạo đức, văn hóa đạo đức cần giáo dục cho thanh, thiếu niên Quản lý GDĐĐTT trong trường học không thể tách rời với quá trình bảo tồn, phát huy các giá trị VHTT trong cộng đồng dân
cư và toàn xã hội và càng không thể tách rời chức năng quản lý xã hội của hệ thống quản lý nhà nước các cấp,…
Đó là những kinh nghiệm quý báu cho nghiên cứu GDĐĐTT nói chung và
nghiên cứu các giải pháp GDĐĐTT nói riêng ở Việt Nam hiện nay
1.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam
1.2.1 Về đạo đức, giá trị đạo đức và văn hóa đạo đức
Trong truyền thống dân tộc Việt nam, các giá trị đạo đức luôn được coi là vấn đề cơ bản trong các quan hệ đạo đức của một cá nhân với cộng đồng, và rộng hơn nữa là trong các quan hệ văn hóa cộng đồng Từ đó, GDĐĐ luôn được đề cao
và được bắt đầu ngay từ lúc đứa trẻ mới tập nói (“biết vâng lời, hiếu đễ, cung kính với cha mẹ”, “công cha như núi Thái sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”, “cái nết đánh chết cái đẹp”, ) Văn hoá hương ước làng quê Việt nam sớm có nhiều quy định ràng buộc và yêu cầu cao về giáo dục con người sống có đạo đức,
đề cao đạo đức là cốt cách con người
Từ Cách mạng Tháng 8-1945 thành công, cùng với chế độ xã hội “Việt Nam dân chủ cộng hòa” mới được thiết lập, nền văn hoá mới và nền giáo dục mới cũng được xây dựng Gắn liền với bản sắc văn hóa truyền thống (VHTT) dân tộc, vấn đề GDĐĐ cho thế hệ trẻ luôn được Đảng và Nhà nước ta coi trọng và phát triển nhất
Trang 29quán Theo đó, một hệ thống pháp luật, các thể chế về xây dựng đạo đức xã hội XHCN và GDĐĐ con người mới cho học sinh, sinh viên (HSSV) đã từng bước được hoàn thiện và phát huy tích cực với thực tiễn đời sống xã hội, mà trước hết là được thể hiện rõ trong Chương trình giáo dục phổ thông, lồng ghép trong nội dung các môn học từ mầm non, phổ thông, đến các cấp học cao hơn
Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời luôn chỉ rõ rằng đạo đức cách mạng là
gốc, là nền tảng nhân cách của người cách mạng Trong các tác phẩm: Đường Kách mệnh (1927), Sửa đổi lối làm việc(1947), Cần, kiệm, liêm, chính (1949), Đạo đức cách mạng (1958), Nâng cao đạo đức cách mạng (1969), Di chúc (1965- 1969), đã thể hiện tư tưởng Hồ Chí Minh về GDĐĐ trên cả bình diện lí luận và
thực tiễn Đặc biệt, Người luôn coi thực hành đạo đức là một mặt không thể thiếu của cán bộ, đảng viên, của thanh thiếu niên và việc GDĐĐ cho thế hệ trẻ còn “phải bằng chính tấm gương đạo đức trong sáng của mình” Hồ Chí Minh đã từng nói:
muốn có đạo đức Cách mạng phải có năm điều sau: “Nhân, Trí, Tín, Dũng, Liêm Trong Di chúc (1969), Người căn dặn “Đảng cần phải chǎm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa "hồng" vừa "chuyên" [72]
Đã có nhiều nghiên cứu lý luận cơ bản về đạo đức học Có thể kể ra một số công trình tiêu biểu: “Đạo đức mới” [56); ''Giáo trình đạo đức học” [26]); ''Giáo trình đạo đức học Mác - Lênin'' [27], ở các góc độ khác nhau, song đều khẳng định cần phải GDĐĐ học đường, giáo dục lối sống cho thanh thiếu niên
Những năm gần đây, trước đòi hỏi cấp bách của chiến lược xây dựng con người Việt Nam thời kì CNH, HĐH đất nước, Nhà nước đã có Chương trình nghiên cứu quốc gia (KX-07, gồm 2 giai đoạn 1990-1995 và 1996-2000) về xây dựng nhân cách Con người Việt nam gắn với những định hướng giá trị về Đức- Tài trong phát triển nguồn nhân lực xã hội và nâng cao dân trí
Đề tài KX07-02 mang tên: Các giá trị truyền thống và con người Việt Nam hiện nay, (Phan Huy Lê, Vũ Minh Giang chủ trì, [64], đã nghiên cứu quá trình hình
thành, phát triển và biến đổi của các giá trị truyền thống Việt Nam, phân tích nội dung cấu thành của truyền thống Việt Nam, đánh giá những mặt mạnh, mặt yếu của di sản truyền thống đồng thời đưa ra những khuyến nghị về phương hướng và giải pháp giáo dục, phát huy các giá trị truyền thống để giải quyết một cách hài hoà mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại
Đề tài KX07-04 “Giá trị - định hướng giá trị nhân cách và giáo dục giá trị”
[44]) trong đó vấn đề GDĐĐ cho thế hệ trẻ luôn được coi là trung tâm, là hạt nhân
Trang 30nhân cách người lao động mới Một số kết quả nghiên cứu đã được công bố trong
các cuốn sách: ''Tìm hiểu định hướng giá trị của thanh niên Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường" [112]; “Giáo dục hệ thống giá trị đạo đức nhân văn'' [111]
Đề tài KHXH.04-03 "Xây dựng lối sống, đạo đức và chuẩn mực giá trị xã hội mới trong điều kiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa" [123], đã nghiên cứu có hệ thống về
những vấn đề lý luận về lối sống, đạo đức và chuẩn giá trị xã hội, phân tích sự tác động của các nhân tố chính trị, kinh tế, xã hội và xu hướng chuyển đổi lối sống, đạo đức, chuẩn giá trị xã hội; từ đó nêu phương hướng, quan điểm chỉ đạo và giải pháp xây dựng lối sống, đạo đức và chuẩn mực giá trị xã hội mới trong điều kiện CNH, HĐH
Huỳnh Văn Sơn với Đề tài khoa học công nghệ mã số B2007.19.27 [91]) "Sự lựa chọn các giá trị đạo đức nhân văn trong định hướng lối sống của sinh viên ở một số trường đại học thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay” đã khảo
sát 874 sinh viên trong các năm 2006- 2008 Từ phân tích thực trạng với các số liệu
khảo sát công phu, đề tài đã nhận định “sự lựa chọn các giá trị đạo đức nhân văn của sinh viên chưa rõ ràng, còn dao động, tồn tại nhiều thái độ tiêu cực ở một bộ phận không nhỏ sinh viên và còn chưa thống nhất giữa nhận thức với thái độ, hành vi” Đề tài này cũng đề xuất một số yêu cầu như: cần xây dựng mô hình nhân cách
chuẩn mực, một thang giá trị rõ ràng để định hướng cho sinh viên; chú trọng giáo dục đạo đức nhân văn, thực hiện công tác giáo dục đạo đức cho HSSV bằng nhiều hình thức khác nhau,…
Quyết định số 3704 /QĐ-BGDĐT ngày 10/9/2013 của Bộ trưởng Bộ
GD&ĐT [19] về ban hành Chương trình hành động của ngành Giáo dục thực hiện Chiến lược phát triển thanh niên Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020 của của Thủ
tướng Chính phủ Trong đó, xác định một trong ba mục tiêu cụ thể là “Giáo dục học sinh, sinh viên về lòng yêu nước, lý tưởng đạo đức, cách mạng, lối sống, tinh thần tự tôn dân tộc, ý thức chấp hành pháp luật, có trách nhiệm với bản thân và xã hội, tôn trọng quy ước cộng đồng” và một số trong các nhiệm vụ và giải pháp là
“1.1.Nâng cao hiệu quả công tác giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh, sinh viên”; 1.3.(c) Tăng cường công tác giáo dục đạo đức, lối sống, lịch sử và truyền thống dân tộc, niềm tự hào và ý thức tự tôn dân tộc, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc và tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại cho học sinh, sinh viên”
Gần đây, từ năm 2016, Trung ương Đoàn TNCS HCM phối hợp cùng Bộ GD&ĐT, Tập đoàn Thiên Long và Báo Tuổi Trẻ tổ chức Chương trình “Tri thức trẻ
Trang 31vì giáo dục”, nhằm cổ vũ, khuyến khích thanh niên, đặc biệt là các trí thức trẻ đóng góp cho sự nghiệp giáo dục thông qua các công trình, sáng kiến góp phần đổi mới phương pháp giáo dục Một trong các đề tài tham gia là của Nguyễn Thế Hệ (tỉnh
Thái Bình) mang mã số 040: “Biện pháp giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông ở nước ta hiện nay” [129] Tiếc là nội dung và kết quả nghiên cứu của đề
tài còn đơn giản, các giải pháp GDĐĐ đưa ra mang tính định hướng, tính tư biện
Năm 2016, trên cơ sở tiếp tục thực hiện Chỉ thị 03, Bộ Chính trị đã ra Chỉ thị
Số 05-CT/TW, ngày 15/5/2016 [8], về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo
đức, phong cách Hồ Chí Minh Trong đó đã nêu rõ: “Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức và hành động trong Đảng, hệ thống chính trị và nhân dân
Một số nghiên cứu khác, các sách và bài báo đã xuất bản gần đây có liên quan trực tiếp đến đề tài nghiên cứu, có thể kể đến:
Sách "Mấy vấn đề đạo đức trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay" Nguyễn Trọng Chuẩn và Nguyễn Văn Phúc (đồng chủ biên, 2003), Nxb
Chính trị Quốc gia
“Hội nhập quốc tế: cơ hội và thách thức đối với giá trị truyền thống trong điều kiện toàn cầu hóa” Nguyễn Trọng Chuẩn (2004), Tạp chí Triết học, số 8;
Sách “Đạo đức xã hội ở nước ta hiện nay - Vấn đề và giải pháp” Nguyễn
Duy Quý (2006), chủ biên, Nxb Chính trị Quốc gia
Sách “Một số giá trị đạo đức Việt Nam từ truyền thống đến Hồ Chí Minh”
(2007), Tài liệu học tập đạo đức Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị Quốc gia;
“Toàn cầu hóa và nguy cơ suy thoái đạo đức, lối sống cho con người Việt Nam hiện nay” Nguyễn Thị Thanh Huyền (2007), Tạp chí Triết học, số 2;
Hệ giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam trong đổi mới và hội nhập Hoàng Chí Bảo (2009).Tạp chí Cộng sản
Sách “Xây dựng đạo đức mới trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” Trịnh Duy Huy (2009), Nxb Chính trị Quốc gia
Sách “Thanh niên và lối sống của thanh niên Việt Nam trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế” (Phạm Hồng Tung chủ biên, Nxb
Chính trị Quốc gia, 2011) phản ánh các kết quả nghiên cứu của Đề tài cấp
Nhà nước "Thực trạng và xu hướng biến đổi lối sống của thanh niên Việt Nam trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế" thuộc Chương trình KX03/06-10 do
Viện Việt Nam học và Khoa học Phát triển - ĐHQG Hà Nội chủ trì,
Trang 32Một vài nét về lịch sử Tư tưởng triết học đạo đức của Việt Nam Nguyễn
Thế Kiệt (2012), Học viện Chính trị Quốc Gia HCM
“Giữ gìn và phát huy các giá trị đạo đức truyền thống trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường giao lưu văn hóa và hội nhập quốc tế” Đặng Hữu Toàn (2011), Tạp
chí Phát triển nhân lực, số 17
“Vai trò của giá trị đạo đức truyền thống trong sự hình thành và phát triển nhân cách” Cao Thu Hằng (2011) Tạp chí Triết học số 2
Đáng chú ý, tháng 8 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT ra Quyết định số
50/2007/QĐ-BGDĐT ban hành Quy định về công tác giáo dục phẩm chất chính trị, đạo đức truyền thống, lối sống cho học sinh, sinh viên trong các đại học, học viện, trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp [18] Quy định này đã
nêu rõ mục đích, yêu cầu, nguyên tắc, nội dung, hình thức, biện pháp giáo dục đạo đức truyền thống cho học sinh các trường THPT trong giai đoạn hiện nay
Đầu năm 2013, nhân dịp tổng kết 15 năm ra đời Nghị quyết TW 5 khóa VIII (1998) về “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, đã có nhiều hội thảo và bài viết mới có liên quan đến vấn đề văn hóa đạo đức, về vấn đề các giá trị ĐĐTT và về GDĐĐTT cho thế hệ trẻ:
“Xây dựng hệ giá trị văn hóa Việt Nam trong tình hình mới” của Ban biên
tập Tạp chí tuyên giáo (19/8/2013)
“Định hướng hệ giá trị văn hóa và hệ giá trị con người Việt Nam trong thời
kỳ mới” Nguyễn Duy Đức (2015), Tạp chí Cộng sản số 4
“Xây dựng hệ giá trị Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” Lương Định Hải (2015), Viện trưởng Nghiên cứu Con người
“Hướng tới hoàn thiện các chuẩn mực giá trị văn hóa và con người Việt Nam”, Vương Duy Biên (2015) Tạp chí Tuyên giáo số 7
“Giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống ở Việt Nam trước tác động của toàn cầu hóa” Nguyễn Đình Tường (2015) Tạp chí triết học
“Xây dựng một hệ “Giáo dục giá trị” tại Việt Nam” bài viết tổng hợp phản
ánh nội dung Hội thảo khoa học quốc tế “Giáo dục giá trị trong bối cảnh hội nhập” (Học viện Báo chí và Tuyên truyền tổ chức, ngày 4/7/2015)
Các nghiên cứu và công bố trên đây đã phân tích các cơ sở lý luận, phản ánh thực trạng chung và những phương hướng, giải pháp để xây dựng hệ giá trị đạo đức mới trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay; Tập trung làm sáng
tỏ những vấn đề cơ bản về GDĐĐ và lối sống của thanh niên, từ đó đã chỉ ra
Trang 33được những yếu tố tác động, các định hướng GDĐĐ và xây dựng lối sống của thanh thiếu niên Việt Nam phù hợp với tiến trình đổi mới đất nước
Trong số đó, có nhiều ý kiến đề xuất “có thể xây dựng một bộ tiêu chí của hệ giá trị vừa kế thừa được các tiêu chí trước đây, vừa phù hợp điều kiện đất nước hôm nay và phù hợp với xu thế của thế giới, thời đại” (Hoàng Chí Bảo, Vương Duy Biên, Nguyễn Duy Đức,…) Đặc biệt, trong Hội thảo Xây dựng một hệ “Giáo dục giá trị” tại Việt Nam, báo cáo đề dẫn do ông Trương Ngọc Nam, Giám đốc
Học viện Báo chí và Tuyên truyền đã nhận định “Giáo dục giá trị có ý nghĩa rất to lớn đối với sựu phát triển của các quốc gia, các dân tộc trên thế giới Vì vậy, nhiều quốc gia coi việc giáo dục thế hệ trẻ về các giá trị lao động, trí tuệ, tài năng, trách nhiệm, giáo dục giá trị truyền thống, giá trị nhân văn, giá trị cá nhân, giá trị cộng đồng…là những yêu cầu có tính chất nền tảng của nền giáo dục” [130]
Một số sách, bài viết đã tìm hiểu vấn đề đạo đức xã hội dưới tác động của kinh tế, chính trị của nước ta hiện nay và phân tích đạo đức của từng nhóm đối tượng: đạo đức của cán bộ, đảng viên và công chức, đạo đức của thanh niên, đạo đức trong lao động, giao tiếp, đạo đức trong gia đình [85]; Một số ít đề tài đã có sự khảo sát, đánh giá thực trạng định lượng [113] Một số nghiên cứu về mối quan hệ giữa giáo dục các giá trị truyền thống (đạo đức/ văn hóa) với việc xây dựng hệ giá trị đạo đức mới [116]
Đáng chú ý, trong sách “Về phát triển toàn diện con người Việt Nam thời kì CNH - HĐH” [41]), đã đưa ra mô hình đạo đức con người Việt nam với những phẩm chất tâm lý tiêu biểu, bao gồm: Chủ nghĩa yêu nước và tinh thần quốc tế trong sáng; Tinh thần tập thể, ý thức cộng đồng; Tinh thần lao động tự giác, sáng tạo; Tinh thần nhân đạo và một số giá trị khác như: bình đẳng, công lý, nhân quyền, yêu thiên nhiên, Tác giả cũng cho rằng xây dựng và phát triển đạo đức
mới phải dựa trên cơ sở kế thừa và phát huy các giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam
Tuy nhiên, nhìn chung các nghiên cứu chủ yếu tiếp cận ở góc độ định hướng
vĩ mô và chưa cho thấy có sự kết nối các lĩnh vực (lịch sử, văn hóa, tâm lý, giáo dục,…) và cũng chưa tập trung nghiên cứu về các giải pháp, biện pháp thực tiễn về GDĐĐTT cho từng nhóm đối tượng, hoặc cho từng địa bàn
Dưới góc độ nghiên cứu học thuật, có thể kể một số luận án tiến sĩ gần đây:
LATS Triết học “Giáo dục đạo đức đối với sự hình thành và phát triển nhân cách sinh viên Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” của NCS Trần Sỹ Phán đã đi
sâu phân tích sự biến đổi đạo đức diễn ra ở một tầng lớp xă hội đặc thù là sinh
Trang 34viên Trên cơ sở đó các tác giả tập trung phân tích vai trò của giáo dục, trong đó chú trọng GDĐĐ, đối với sự hình thành và phát triển nhân cách sinh viên Việt Nam trong giai đoạn hiện nay [78]
LATS Triết học “Vấn đề xây dựng đạo đức mới trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay” của NCS Trịnh Duy Huy (Viện Triết học, 2007) v à LATS Triết học “Xây dựng đạo đức của thanh niên Việt Nam trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN” của NCS Diệp Minh Giang (Trường ĐH Khoa học
XH-NV ĐHQG Tp.HCM, 2011) đã góp phần làm sáng tỏ thực trạng biến đổi các giá trị đạo đức trong xã hội Việt Nam trong điều kiện n ề n kinh tế thị trường
và đã phân tích và chỉ ra sự tác động tích cực, tiêu cực của nền kinh tế thị trường đến đời sống kinh tế - xã hội ở nước ta, một mặt làm xuất hiện các giá trị đạo đức mới, nếp sống văn hóa mới, lành mạnh, phù hợp với quá trình phát triển kinh tế thị trường,; Mặt khác, cũng làm cho các giá trị ĐĐTT, nếp sống văn hóa truyền thống tốt đẹp bị xâm hại và mai một Cả hai LATS này đã đề xuất một số giải pháp về GDĐĐ cho thanh thiếu niên, HSSV trong bối cảnh hội nhập quốc tế, trong đó giữ gìn và phát huy các giá trị ĐĐTT là nòng cốt
Nhìn chung, các công trình trên đã có đóng góp nhất định trong việc nêu
rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về yêu cầu của việc GDĐĐ và các tác động của bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế tới sự biến đổi của đạo đức xã hội ở nước ta trong quá trình đổi mới, đề ra một số phương hướng để đẩy mạnh quá trình GDĐĐ cho thanh thiếu niên và HSSV trong bối cảnh hội nhập Những nghiên cứu trên đây đã cung cấp một số cơ sở khoa học lý luận và thực tiễn quan trọng cho việc tiếp tục nghiên cứu vấn đề GDĐĐTT mà đề tài của Luận án này đặt ra
Cũng có nhiều công trình nghiên cứu, bài viết đăng trên các tạp chí của các nhà khoa học chuyên ngành quản lý giáo dục, tâm lí học, giáo dục học…song rất ít công trình nghiên cứu chuyên sâu về giáo dục đạo đức truyền thống cho học sinh THPT trong bối cảnh hiện nay
1.2.2 Về đạo đức truyền thống, giáo dục ĐĐTT, quản lý GDĐĐTT
Vấn đề kế thừa và phát huy những giá trị ĐĐTT, để xây dựng đạo đức mới
nói chung và để giáo dục truyền thống cho thanh thiếu niên nói riêng đã được Đảng ta và nhiều nhà khoa học rất quan tâm
Từ Đề cương văn hoá Việt Nam (1943) Đảng ta đã đề cập đến vấn đề kế
thừa giá trị văn hoá truyền thống dân tộc để xây dựng nền văn hoá Việt Nam với nội dung “dân tộc - khoa học - đại chúng”;
Trang 35Tiêu biểu nhất phải kể đến công trình của Trần Văn Giầu: “Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam” [37] Công trình này, tác giả đã đề cập đến cơ sở
hình thành, nội dung và những biểu hiện của các giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc, trong đó có bàn luận sâu về giá trị đạo đức
Những năm sau đó phải kể đến một số nghiên cứu điển hình về giá trị truyền thống và giáo dục ĐĐTT cho thế hệ trẻ, như:
Về giá trị tinh thần truyền thống (1993) Nxb thông tin lý luận, Hà Nội;
Giá trị truyền thống - nhân lõi và sức sống bên trong của sự phát triển đất nước, dân tộc (Nguyễn Văn Huyên 1998);
Các giá trị truyền thống trước sự thẩm định và thách thức của thời đại trong bối cảnh toàn cầu hoá (Nguyễn Trọng Chuẩn, 2001);
Những giá trị truyền thống ở Việt Nam trước thách thức của toàn cầu hoá
Bên cạnh đó, còn có nhiều bài báo tập trung vào viêc tìm hiểu vấn đề các
giáo dục ĐĐTT trong điều kiện hiện nay Chẳng hạn, Trần Sĩ Phán, Vai trò của giáo dục đạo đức đối với việc hình thành và phát triển nhân cách trong giai đoạn hiện nay (Tạp chí giáo dục lý luận, số 1, 1999); Lê Thị Tuyết Ba, Vai trò của đạo đức đối với sự phát triển kinh tế-xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường (Tạp chí Triết học, số 5, 2002); Trần Nguyên Việt, Giá trị đạo đức truyền thống Việt Nam
và cái phổ biến toàn nhân loại của đạo đức trong nền kinh tế thị trường, (Tạp chí
Triết học số 5, 2002),…;
Vấn đề quản lý các hoạt động GDĐĐTT trong nhà trường góp phần nâng
cao chất lượng GDĐĐ trong thời kỳ đổi mới hiện nay vẫn còn rất ít được quan tâm, trừ một số bài viết tạp chí, báo cáo tham luận hội thảo mà thực chất mới chỉ dừng ở các suy nghĩ ban đầu, các kiến nghị dựa chủ yếu kinh nghiệm cá nhân tác giả, của nhà nghiên cứu
Đáng kể hơn cả chính là từ góc độ các luận án tiến sỹ, các luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục Gần đây, tại Khoa Tâm lý- giáo dục, Khoa Quản lý giáo dục của ĐHSP Hà Nội, Trường ĐH Giáo dục (Khoa Sư phạm trước 1999) thuộc ĐHQG Hà Nội, Trường ĐHSP- ĐH Thái Nguyên và một số cơ sở đào tạo khác có đào tạo sau đại học chuyên ngành QLGD Tuy còn hiếm quý, song đã có một số
Trang 36luận văn Thạc sỹ chọn nghiên cứu các đề tài về GDĐĐ cho học sinh, trong đó có rất ít học viên chọn nghiên cứu GDĐĐTT học sinh THPT nói riêng Có thể kể đến một số luận văn từ 10 năm trở lại đây:
- Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức học sinh ở trường THPT Hùng Vương, quận 5, TP.Hồ Chí Minh Nguyễn Vân Yên, 2015 Trường ĐH Giáo dục-
2014 LATS Triết học, Học viện CTQG HCM;
Giáo dục giá trị đạo đức truyền thống với việc hình thành và phát triển nhân cách cho sinh viên khu vực Tây Nguyên trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay” Phạm Huy Thành, 2014 LATS Triết học, Học viện Chính trị quốc gia HCM,
2014
Quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh trường trung học cơ sở thành phố
Hà Nội trong bối cảnh đổi mới giáo dục Nguyễn Thị Thi, 2014 LATS Quản lý
giáo dục, Học viện QLGD Hà Nội
Giá trị đạo đức truyền thống với việc hình thành và phát triển nhân cách sinh viên Việt Nam hiện nay Phùng Thu Hiền, 2015 LATS Triết học, Học viện CTQG HCM
Như vậy có thể nhận định, gần đây do nhu cầu bức thiết của thực tế giáo dục,
đã có không ít đề tài luận văn chuyên ngành Quản lý giáo dục/ khoa học giáo dục quan tâm nghiên cứu về quản lý các hoạt động GDĐĐ trong nhà trường THPT Trong nội dung luận văn, vấn đề quản lý GDĐĐ và các giải pháp, biện pháp đã đề cập trực tiếp, hoặc gián tiếp đến quản lý GDĐĐTT Song đến nay có rất ít nghiên cứu sâu về quản lý GDĐĐTT cho học sinh THPT
Trang 37Mặt khác, các đề tài luận án, luận văn thạc sỹ, do tính chất và phạm vi nghiên cứu, thường gắn với thực tế công tác của từng cơ sở giáo dục cụ thể, hoặc từng địa bàn nhỏ (huyện, quận),… hầu như chưa có nghiên cứu về địa bàn cấp tỉnh, cũng chưa có tác giả nào đặt vấn đề quản lý GDĐĐTT cho học sinh THPT trong tổng thể các tác động của môi trường địa- văn hóa của cộng đồng và cũng chưa có công trình nào tiếp cận vấn đề quản lý GDĐĐTT từ góc độ giá trị,…
1.2.3 Nghiên cứu trường hợp: một số luận án liên quan đến đề tài
a) Trước hết, về ba LATS Triết học (của N.T.T.Ngà (LA1)[74], của P.T.Hiền
(LA2)[46] và của P.H.Thành (LA3) [97] cùng cơ sở đào tạo là Học viện Chính trị
Quốc gia HCM Trong đó, LA1 và LA2 cùng người hướng dẫn chính
(PGS.Nguyễn Thế Kiệt) Cả ba LATS cùng chọn nghiên cứu vấn đề giáo dục giá trị đạo đức truyền thống với việc hình thành và phát triển nhân cách sinh viên,
khá gần nhau về cấu trúc và logic nội dung, về cách xác định những vấn đề thực tiễn, các định hướng và giải pháp Trong khi LA1 đi sâu hơn về giáo dục lối sống,
thì LA3 chọn giáo dục giá trị ĐĐTT cho nhóm sinh viên khu vực Tây Nguyên, còn
LA2 chọn đối tượng rộng hơn, cho sinh viên Việt Nam (khu vực Hà Nội)
Nhìn chung, do đặc thù lĩnh vực nghiên cứu của các LATS Triết học, nên các LA1, LA2, LA3 đều chọn tiếp cận vấn đề ở bình diện “quan điểm”, “đường lối” và vận dụng vào xác định các định hướng và giải pháp ở cấp độ vĩ mô (định hướng chính sách, quản lý xã hội)
Một số nhận xét cụ thể hơn, về những điểm có thể nghiên cứu kế thừa:
Đề cao vai trò và sự cần thiết phải giáo dục các giá trị ĐĐTT cho thanh,
thiếu niên nói chung và cho HSSV nói riêng Cả 3 LA đều hướng đến đối tượng
SV
Từ phân tích thực trạng, đã xác định “những vấn đề đặt ra” trong phát huy các giá trị ĐĐTT trong quan hệ với hệ giá trị văn hóa dân tộc với hình thành, phát triển nhân cách SV
Trang 38+ Nâng cao vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội trong GDĐĐTT nhà trường (LA1, LA2); Nâng cao tính tự giác của SV trong học tập các giá trị ĐĐTT gắn với sự phối hợp gia đình, nhà trường và xã hội (LA1, LA2)
+ Đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục giá trị ĐĐTT; Nâng cao vai trò của pháp luật trong việc phát huy các giá trị ĐĐTT (LA1, LA2, LA3);
+ Kết hợp việc giáo dục những giá trị ĐĐTT của dân tộc với tinh hoa đạo đức nhân loại trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay (LA1, LA2,LA3);
+ Có mối quan hệ mật thiết giữa GDĐĐTT với môi trường văn hóa xã hội (LA3)
+ Khắc phục những tác động tiêu cực từ mặt trái của quá trình toàn cầu hóa gắn với việc tạo lập môi trường học đường lành mạnh (LA3, LA2)
+ Coi trọng giáo dục tinh thần hiếu học nhằm xây dựng nhân cách sinh viên
trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay (LA3)
Về những điểm còn hạn chế, cần nghiên cứu bổ xung:
Các LATS Triết học chưa quan tâm làm rõ hệ giá trị ĐĐTT, mà chỉ mặc
định các giá trị (và cũng chưa thật nhất quán khi mô tả): “1.Tình yêu quê hương đất nước, yêu CNXH, 2 Ý chí vươn lên đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu, 3 Thái độ say mê, trung thực trong học tập, lao động” (LA1); 4.Lòng yêu nước, lòng yêu thương con người, 5 Đức tính cần cù, tiết kiệm, 6.Tinh thần đoàn kết;7 Tinh thần hiếu học (LA1);
Rõ ràng hơn, trong LA2 đã xác định 5 nhóm giá trị và đã khảo sát thực trạng
theo 5 nhóm giá trị này: 1 Lòng yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, 2 Tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng dân tộc, 3 Cần cù, lạc quan và sáng tạo trong lao động, 4 Lòng nhân ái, khoan dung, hiếu học và yêu chuộng hòa bình, 5.Tinh thần dũng cảm, kiên cường, bất khuất Tuy nhiên, LA2 cũng chưa có sự phân tích sâu
(dựa trên cơ sở khoa học nào để xác định các giá trị ĐĐTT này?
Mặc dù ba LA trên đây đều đề cập đến việc cần xây dựng “môi trường học đường lành mạnh”, “sự phối hợp gia đình- nhà trường- xã hội”, nhưng chưa LA nào tiếp cận nghiên cứu vấn đề từ góc độ giá trị văn hóa, sự thống nhất giữa giá trị ĐĐTT với giá trị VHTT của địa phương, của dân tộc,…
Các giải pháp, như ở trên đã nói, còn chung chung, vĩ mô và chủ yếu là minh họa, cụ thể hóa thêm một bước các định hướng đã có trong các văn bản về chủ
trương, đường lối chính trị, nghị quyết… đã được các cơ quan trung ương Đảng CSVN ban hành và chỉ đạo thực hiện
Trang 39b) Hai LATS Quản lý giáo dục, Nguyễn Thị Hoàng Anh (LA4, 2011) “Xây dựng
mô hình quản lý công tác giáo dục đạo đức cho sinh viên các trường ĐHSP trong giai đoạn hiện nay”[2] và Nguyễn Thị Thi (LA5, 2014) “Quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh trường THCS thành phố Hà Nội trong bối cảnh đổi mới giáo dục” [105], đều có
cấu trúc chung: nghiên cứu lý luận, thực trạng và đề xuất các giải pháp quản lý công tác giáo dục đạo đức cho một nhóm đối tượng xác định (SV các trường ĐHSP-ĐH Huế, ĐHSP-ĐH Đà Nẵng, ĐHSP Đồng Tháp, hoặc cho học sinh THCS Tp.Hà Nội)
Đáng chú ý, LA4 đã đề xuất “mô hình mới” về quản lý công tác GDĐĐ cho sinh viên sư phạm và các giải pháp thực hiện mô hình Tuy nhiên, “mô hình” này được tác giả đưa ra mới chỉ là một sơ đồ đơn giản, dựa trên sơ đồ “ngôi sao 5
cánh” khái quát, mô phỏng “Mô hình trường học ưu việt” của Singapor (School Excellence Model, SEM) và chỉ thay một số thuật ngữ Việt hóa [2,tr.105]… mà
thiếu các lập luận thuyết phục
Tiếp theo, tác giả cũng đưa ra 06 biện pháp quản lý GDĐĐ cho SV các trường sư phạm Song các biện pháp đó cũng rất “quen thuộc” và không liên quan
gì đến vấn đề quản lý GDĐĐTT cho học sinh THPT
Với LA5 (Nguyễn Thị Thi, 2017, [105]), trong Tổng quan nghiên cứu vấn
đề quản lý GDĐĐ cho học sinh tác giả chỉ vỏn vẹn dẫn duy nhất một công trình
của Phạm Minh Hạc và cộng sự “Chiến lược phát triển toàn diện con người Việt Nam trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”(Chương trình KHCN - KHXH, Mã số 04-04, 2001), với nhận định: “Xuất phát từ đặc trưng tâm
lý học, tác giả ( P M Hạ c ) đã nêu ra các định hướng giá trị đạo đức con người Việt Nam trong thời kỳ CNH, HĐH”
Ngoài ra, trong LA5 tác giả Nguyễn Thị Thi cũng đã xác định “Hệ thống chuẩn mực đạo đức theo năm nhóm phản ánh mối quan hệ chính mà con người phải
giải quyết: a.Nhóm chuẩn mực đạo đức (CMĐĐ)thể hiện nhận thức tư tưởng chính trị (phù hợp với yêu cầu đạo đức xã hội); b.Nhóm CMĐĐ hướng vào sự tự hoàn thiện bản thân; c.Nhóm CMĐĐ thể hiện quan hệ với mọi người, với dân tộc khác; d.Nhóm những chuẩn mực đạo đức thể hiện quan hệ đối với công việc; e Nhóm chuẩn mực liên quan đến xây dựng môi trường sống [105,tr.31]
Tác giả cũng xác định “nội dung cơ bản của công tác GDĐĐ: Giáo dục tri thức đạo đức; Giáo dục tình cảm đạo đức; Giáo dục lí tưởng đạo đức; Giáo dục giá trị đạo đức (trong đó có các giá trị đạo đức của dân tộc [105,tr.32] Tuy
nhiên, trong LA5 không thấy xác định các giá trị ĐĐTTT của dân tộc gồm những giá trị nào Luận án đã đề xuất ra 7 giải pháp QLGDĐĐ cho học sinh THCS Hà
Trang 40Nội theo tiếp cận quản lý nhà trường với chủ thể là Hiệu trưởng Ngoài giải pháp 03
là Thiết lập bộ máy tổ chức và bồi dưỡng nâng cao chất lượng giáo viên để thực hiện kế hoạch giáo dục đạo đức cho học sinh” và giải pháp 07, “quản lý bối cảnh” (Quản lý sự phối hợp các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường tham gia hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh THCS) đáng chú ý, tên gọi và
nội dung các giải pháp còn lại cũng không có gì mới hơn thực tế quản lý giáo dục hiện nay
Như vậy, nhìn chung những nghiên cứu về GDĐĐ và quản lý các hoạt động
GDĐĐ ở nước ta khá phong phú và có quá trình lâu dài, phản ánh vai trò quan trọng của GDĐĐ cho mọi công dân, cán bộ, đặc biệt là cho thanh thiếu niên và HSSV Công tác GDĐĐTT trong nhà trường đã được đề cao, song cho đến nay những nghiên cứu về lĩnh vực này còn rất hiếm
Trong khi đó, các nghiên cứu về các giá trị văn hóa và phát huy giá trị VHTT phong phú hơn, đa dạng hơn và sâu sắc hơn nhiều Song tiếc rằng, trong các LATS trên đây mối quan hệ giữa GDĐĐTT trong nhà trường với các hoạt động bảo tồn, phát triển các giá trị VHTT trong cộng đồng còn chưa được các nghiên cứu quan tâm đúng mức
1.2.4 Những vấn đề đặt ra
Trước hết, cần xác định vấn đề GDĐĐTT trong trường học nói chung, cho
học sinh THPT nói riêng ở Việt Nam vốn dựa trên những quan niệm của người Á Đông và gắn với hệ thống giá trị đạo đức Nho giáo, Phật giáo, gắn với các giá trị riêng của mỗi dân tộc (nhìn về quá khứ)
Điều đó khác với quan niệm của nhiều nước có nền giáo dục tiên tiến ở Mỹ, Tây Âu và Nhật bản, GDTT cho HS cũng được coi trọng, nhưng không phải là các
giá trị ĐĐTT lâu đời của dân tộc, mà chủ yếu là các giá trị truyền thống quốc gia tốt đẹp và hướng tới tương lai, với “nhiệm vụ nuôi dưỡng những đức tính và giá trị làm cho con cái trở nên con người tốt”,[138] Ở các quốc gia đó, người ta chú
trọng giáo dục các phẩm chất đạo đức cá nhân (phân biệt Moral và Ethics) gắn với các giá trị nhân loại và giá trị thời đại Theo đó, quan niệm GDĐĐTT hiện nay cần được mở rộng và phải hướng đến xây dựng lối sống mới cho HSSV
Thứ hai, các nghiên cứu về GDĐĐ ở các nước có nền giáo dục thành công
(Nhật Bản, Phần Lan, Hoa Kì,…) và ngay trong nhiều công trình nghiên cứu ở Việt Nam đã khẳng định GDĐĐ, bao gồm cả GDĐĐTT, phải được tiếp cận theo giá trị học, gắn với các giá trị văn hóa Bản chất của GDĐĐ là giáo dục các giá trị đạo đức (văn hóa đạo đức) Hiện nay, phần nhiều các nghiên cứu quản lý GDĐĐ cho học