Sau khi tìm hiểu về các vấn đề về cách mạng công nghiệp 4.0 cùng với thực trạng nguồn nhân lực cũng như các chính sách của chính phủ về ngành công nghiệp văn hóa và đặc biệt theo tinh thần nghị quyết Đại hội XII của Đảng, nhóm tác giả tổng hợp các đề xuất như sau:
Đầu tiên, Nhà nước và các sở ban ngành cần kiện toàn các chính sách và hỗ trợ cũng như lập các kế hoạch trong từng giai đoạn cụ thể nhằm cải thiện các điều kiện kinh doanh các sản phẩm dịch vụ văn hóa, các chính sách về thuế, hỗ trợ, đất đai, các quy chế và luật bảo vệ quyền tác giả cho người sáng tạo các sản phẩm văn hóa.
Kế đến, cần tập trung đầu tư vào công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực cho ngành công nghiệp văn hóa. Cần cập nhật các chương trình đào tạo, cơ sở vật chất, xu hướng thế giới nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Việt Nam so với các nước trên thế giới. Bên cạnh đó, cần khuyến khích hợp tác với các trường đại học, các trung tâm nghiên cứu tham gia vào công tác giảng dạy, nghiên cứu và phát triển nhằm đưa các sản phẩm văn hóa phù hợp với xu thế của thị trường và đảm bảo những quy tắc ứng xử của xã hội.
34
Bên cạnh đó, với sự phát triển của Cách mạng công nghiệp 4.0, ngành công nghiệp văn hóa cũng cần đưa các ứng dụng công nghệ đặc biệt là 03 nền tảng gồm Dữ liệu lớn (Big Data), Trí tuệ nhân tạo (AI) và Vạn vật kết nối (Iot) nhằm hỗ trợ trong công tác lập kế hoạch, phân tích dữ liệu, hỗ trợ ra quyết định… trong việc đưa ra các sản phẩm và dịch vụ trong ngành công nghiệp văn hóa; điều này giúp các doanh nghiệp kinh doanh lĩnh vực văn hóa không phạm phải những lỗi cơ bản trong quá trình sản xuất các sản phẩm và dịch vụ. Ví dụ: với sự trợ giúp của AI, các tác phẩm ca nhạc có thể được kiểm tra “đạo nhạc” trước khi được đưa vào thị trường nhằm tránh những kiện tụng gây tổn thất chi phí.
Ngoài ra, từng bước hình thành nên những nhóm cộng đồng, nhóm tiêu dùng những sản phẩm và dịch vụ văn hóa thông qua các hoạt động marketing, phát triển và định vị thương hiệu… Hơn nữa, việc tạo ra các nhóm cộng đồng sẽ giúp các doanh nghiệp và người hoạt động trong ngành công nghiệp văn hóa sẽ phát triển bền vững và tạo động lực để phát triển hơn trong việc sản xuất ra các sản phẩm dịch vụ phù hợp với nhu cầu thị trường.
Cuối cùng, cần tích cực giới thiệu văn hóa cũng như các sản phẩm về văn hóa của Việt Nam sang các nước trên thế giới thông qua các festival du lịch, ngày hội du lịch, ngày hội quảng bá văn hóa… được tổ chức tại các quốc gia trên thế giới./.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Ban kinh tế Trung ương (2017). Việt Nam với cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư. NXB Đại học Kinh tế quốc dân.
2. Bộ Khoa học và Công nghệ (2017). Báo cáo “Khoa học và Công nghệ 2015”.
NXB Khoa học Kỹ thuật, H.
3. Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia (2017). Tổng luận “Cuộc cách mạng công nghiệp lần tư”.
4. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII. Văn phòng Trung ương Đảng.
5. Klaus Schwab (2019). The Global Competitiveness Report 2018, World Economic Forum, Colony/Geneva Switzerland.
6. Phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam – Thực trạng và giải pháp. http://tapchicongsan.org.vn, ngày 08/3/2018.
7. Nhiều hoạt động lễ hội dân gian bị “biến dạng”.
http://thoibaotaichinhvietnam.vn, ngày 14/02/2017.
35
8. Ruth Towse (2011), A handbook of cultural Economics, Edward Elgar Publishing Limited, England.
9. Trần Thị Vân Hoa (2017). Cách mạng công nghiệp 4.0 - vấn đề đặt ra cho phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế của Việt Nam. NXB Chính trị quốc gia sự thật, H.
10. Trường Đại học Công nghệ Sài Gòn (2017). Kỷ yếu hội thảo Giáo dục trong thời đại cách mạng công nghiệp 4.0. NXB Khoa học và kỹ thuật, Thành phố Hồ Chí Minh.
11. Trường Đại học Kinh tế quốc dân (2017). Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc gia, Đào tạo trực tuyến trong thời kỳ cách mạng công nghiệp 4.0. NXB Đại học Kinh tế quốc dân, H.
36
PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC LĨNH VỰC VĂN HÓA TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ
ThS. Trần Thị Hoan – Cựu sinh viên Tóm tắt: Việt Nam với 4000 năm văn hiến sở hữu những giá trị văn hóa vật chất và tinh thần do cha ông để lại. Tuy nhiên, việc quản lý, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa sẵn có và các giá trị văn hóa tiềm năng có hiệu quả hay không lại thuộc vào ý thức, năng lực và hệ thống pháp luật nói chung và việc phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực văn hóa nói riêng. Việc đào tạo, giáo dục khắc phục những khó khăn tồn đọng, giải quyết các mâu thuẫn về nguồn lực lĩnh vực văn hóa nhằm phát triển cả về số lượng và chất lượng đáp ứng nhu cầu cấp thiết trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay là điều kiện tiên quyết đặt nền móng cho ngành công nghiệp văn hóa phát triển trong tương lai.
Từ khóa: Nguồn nhân lực, Văn hóa, Hội nhập quốc tế.
Đặt vấn đề
Lịch sử phát triển văn minh của nhân loại đã chứng minh rằng: yếu tố con người tức nguồn nhân lực là yếu tố quan trọng nhất, quyết định sự tồn vong hay phát triển văn minh, thịnh vượng của một quốc gia, dân tộc.
Nguồn nhân lực vừa là chủ thể vừa là khách thể trong mọi hoạt động và trong mọi lĩnh vực của một quốc gia, dân tộc. Bên cạnh các nguồn lực khác như: tài nguyên thiên nhiên, khoa học kỹ thuật, tài chính… có vai trò là nền tảng là bệ phóng cho quá trình phát triển quốc gia dân tộc, trong khi đó nguồn nhân lực đóng vai trò quyết định, tiên quyết nhất.