Thực trạng phát triển nguồn nhân lực lĩnh vực văn hóa trong bối cảnh quốc

Một phần của tài liệu KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC Đào tạo phát triển nguồn nhân lực chuyên ngành công nghiệp văn hóa trong bối cảnh hội nhập (Trang 38 - 42)

2.1. Về cơ cấu và chất lượng

Nguồn nhân lực lĩnh vực văn hóa ở nước ta đang hoạt động trong ngành văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể được cơ cấu đồng bộ từ trung ương đến địa phương, từ Bộ cho đến cơ sở gọi là quản lý văn hóa theo chiều dọc. Theo đó, mỗi một tỉnh có một Sở văn hóa, mỗi huyện có phòng văn hóa và mỗi xã có một nhà văn hóa. Ở các thành phố lớn, mỗi quận đều có trung tâm văn hóa, hoặc cung văn hóa đa năng. Ngoài ra, trên cả nước có hàng trăm hội, câu lạc bộ văn hóa nghệ thuật thu hút đông đảo quần chúng tham gia… Như vậy, cho đến nay cả nước có khoảng hàng trăm nghìn cán bộ làm việc các bộ, sở, ban ngành, câu lạc bộ, các trung tâm, bảo tàng, giảng dạy trong ngành văn hóa nghệ thuật… Trong đó, theo báo cáo của Bộ văn hóa TT&DL tính đến tháng 03/2020 Bộ này có khoảng 880 người thuộc biên chế, trong đó có khoảng 371 cán bộ nữ chiếm khoảng 42%.

Như vậy, nhìn tổng thể từ trên xuống dưới cơ cấu tổ chức nguồn lực lĩnh vực văn hóa theo chiều dọc có ưu điểm quản lý công tác văn hóa chặt chẽ, đi sâu đi sát quản lý tư tưởng của người dân, phát hiện và báo cáo kịp thời các sai phạm của công dân khi vi phạm.

Tuy nhiên, chính vì cơ cấu bộ máy được thiết lập từ trung ương đến địa phương dẫn đến nguồn lực lĩnh vực văn hóa đang có tình trạng vừa dư thừa nhưng lại vừa thiếu. Đó là dư số lượng cán bộ văn hóa nghệ thuật nhưng lại thiếu cán bộ có chuyên môn cao – để đáp ứng nhu cầu phát triển ngành bộ văn hóa - nghệ thuật (VHNT) trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế.

Để phát triển hơn nữa đội ngũ cán bộ VHNT, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề

án “Xây dựng đội ngũ trí thức ngành VHTT&DL đến năm 2020, tầm nhìn 2030”; Đề án

39

“Đào tạo tài năng VHNT giai đoạn 2016 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030”; Đề án “Đào tạo, bồi dưỡng nhân lực VHNT ở nước ngoài đến năm 2030”…

Thông qua việc thực hiện các đề án, dự án, công tác đào tạo nhân lực VHNT đã có nhiều chuyển biến tích cực. Quy mô tuyển sinh hằng năm đạt khoảng hơn 7.000 học sinh, sinh viên. Phần lớn học sinh, sinh viên tốt nghiệp ra trường tìm được việc làm đúng ngành, nghề được đào tạo. Nhiều học sinh, sinh viên đạt giải quốc gia, khu vực và quốc tế trong các cuộc thi, liên hoan nghệ thuật chuyên nghiệp. Công tác đào tạo, bồi dưỡng được tăng cường. Mỗi năm có khoảng gần 1.000 công chức, viên chức được đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cao cấp và trung cấp; kiến thức quản lý Nhà nước, tin học và ngoại ngữ trong và ngoài nước. Thông qua các hội thảo, tập huấn, trại sáng tác, nhân lực VHNT được bồi dưỡng kỹ năng và nghiệp vụ, kiến thức chuyên ngành. Các cơ sở đào tạo VHNT đã liên kết với các nhà hát, đoàn nghệ thuật, cơ quan, tổ chức để đào tạo theo địa chỉ.

Chất lượng nguồn nhân lực lĩnh vực văn hóa phụ thuộc vào hệ thống và chất lượng các cơ sở đào tạo văn hóa nghệ thuật, dựa vào các chính sách của Đảng và Nhà nước, sự nỗ lực và ý thức của toàn dân trong quá trình phát triển và gìn giữ văn hóa dân tộc, quảng bá sản phẩm văn hóa ra thế giới. Nguồn nhân lực lĩnh vực văn hóa ngày càng nâng cao về trình độ chuyên môn, hiện có khoảng gần 20 nhà khoa học có học vị Tiến sĩ, PGS, GS, gần 2 ngàn cán bộ và giảng viên có học vị thạc sĩ, hàng trăm ngàn nhân lực lĩnh vực văn hóa có trình độ cử nhân, cao đẳng, trung cấp hoạt động trong lĩnh vực VHNT. Điểm nổi bật, nguồn nhân lực văn hóa vừa có trình độ chuyên môn, vừa có trình độ ngoại ngữ và tin học. Đội ngũ nhân lực trẻ hóa, năng động, ham học hỏi thích ứng nhu cầu đặt ra đối với chiến lược phát triển nguồn nhân lực lĩnh vực văn hóa trong bối cảnh hội nhập quốc tế.

2.2. Thực trạng phát triển nguồn nhân lực lĩnh vực văn hóa trong bối cảnh hội nhập quốc tế

2.2.1. Góc nhìn tích cực

Nguồn nhân lực lĩnh vực văn hóa trong những năm gần đây nhờ sự đầu tư đúng mức của chính phủ Việt Nam, về tài chính cũng như các chính sách kịp thời đúng đắn đối lĩnh vực Văn hóa như: ban hành luật di sản văn hóa, luật công nhân viên chức, đặc biệt mới đây thủ tướng chính phủ đã phê duyệt Đề án “Xây dựng đội ngũ trí thức ngành VHTT&DL đến năm 2020, tầm nhìn 2030”; Đề án “Đào tạo tài năng VHNT giai đoạn 2016-2025, tầm nhìn đến năm 2030”; Đề án “Đào tạo, bồi dưỡng nhân lực VHNT ở nước ngoài đến năm 2030.

Đây là một đề án mang tầm chiến lược quốc gia nhằm phát triển nguồn nhân lực lĩnh vực

40

văn hóa trong bối cảnh quốc tế, để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực văn hóa, hướng tới phát triển ngành công nghiệp văn hóa cho Việt Nam để phát huy tài năng, tâm huyết nguồn nhân lực trẻ năng động và các nguồn lực về văn hóa của quốc gia hướng tới mang bản sắc văn hóa dân tộc ra thế giới và có doanh thu trong tương lai khoảng 7% trong GDP của cả nước.

Điều đáng ghi nhận trong những năm gần đây công tác đào tạo nguồn nhân lực cho ngành VHNT tăng cả về số lượng và chất lượng, cơ sở và quy mô đào tạo; các cấp bậc đào tạo và hình thức tổ chức đào tạo được đa dạng hóa. Tính đến nay có khoảng gần 200 cơ sở tham gia đào tạo văn hóa nghệ thuật trong đó có 33 trường đại học, 47 trường cao đẳng, 28 trường trung cấp, 01 viện VH & NT. Hình thức đào tạo chính quy hay không chính quy, ngắn hạn hay dài hạn, các loại hình đào tạo công lập hay ngoài công lập, các trung tâm của chính phủ hay hợp tác nước ngoài.

- Đội ngũ giảng viên, giáo viên, chuyên gia trong nước và nước ngoài, đội ngũ nghệ nhân… ngày càng tăng về số lượng và chất lượng, hoàn chỉnh về chuyên môn, nghiệp vụ và cả thái độ về nghề nghiệp, về sứ mệnh của nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực cho lĩnh vực VHNT.

- Chương trình đào tạo, nội dung và phương pháp đào tạo… từng bước được đổi mới, đáp ứng nhu cầu thực tiễn phát triển nguồn nhân lực văn hóa cả về số lượng và chất lượng. Hệ thống đào tạo, trung tâm VHNT ngày càng chú trọng hơn về chất lượng hơn số lượng, đặc biệt đối với nguồn nhân lực nghệ thuật mang tính đặc thù như: điện ảnh, thanh nhạc, mỹ thuật… tiến tới phát triển ngành công nghiệp văn hóa trong tương lai.

- Thái độ, quan niệm về các ngành nghề mang tính chất nghệ thuật biểu diễn lĩnh vực văn hóa trong dân chúng và lãnh đạo chính quyền có sự thay đổi theo hướng tích cực hơn, cởi mở hơn… cũng là cơ sở để khích lệ tài năng nghệ thuật dấn thân và phát triển.

- So với những thập kỷ trước cơ sở vật chất, phương tiện về chính sách của nhà nước được đầu tư, hỗ trợ nhiều hơn, chính sách phát triển văn hóa cởi mở hơn trong việc hợp tác với các nước trước kia được xem là “thù nghịch” tạo ra một không gian văn hóa mở, phong phú, tinh tế và văn minh hơn trong nhận thức của dân chúng, tạo cơ sở vững chắc trong mục tiêu phát triển ngành công nghiệp văn hóa.

2.2.2. Những mặt hạn chế, yếu kém

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế thay đổi chính sách, hoạch định tương lai… để phát triển nguồn nhân lực lĩnh vực văn hóa là nhiệm vụ, là trách nhiệm của nhà

41

nước cũng như của nhân dân. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực đã đạt được vẫn còn tồn tại rất nhiều mặt hạn chế trong quá phát triển nguồn nhân lực lĩnh vực văn hóa.

- Về quy mô đào tạo tuy có tăng về số lượng các cơ sở đào tạo từ đại học đến sơ cấp, tạo điều kiện cho người dân có nhiều sự lựa chọn hơn, nhiều cơ hội hơn để học tập và trau dồi nghề nghiệp, nhưng mặt trái là cơ sở vật chất còn thiếu và yếu. Các ngành học mang tính chất đặc thù như biểu diễn nghệ thuật… thiếu đầu tư về cơ sở vật chất, học nhạc thiếu đàn, học diễn viên thiếu đạo cụ, học mỹ thuật thiếu phòng vẽ,… cơ sở vật chất vừa thiếu lại vừa lạc hậu, dụng cụ có nhưng không thể sử dụng…

- Nội dung, giáo trình, phương pháp giảng dạy… còn máy móc, bảo thủ, lạc hậu…

tuy có tiếp cận giáo trình từ các nước tân tiến nhưng việc ứng dụng linh hoạt các kiến thức chuyên sâu không phải là điều dễ dàng. Có những giáo trình về lĩnh vực văn hóa đã dạy mấy chục năm nhưng vẫn chưa có sự bổ sung, thay đổi cho phù hợp với yêu cầu thực tiễn của các ngành nghề trong lĩnh vực văn hóa. Tuy có nhiều dự án, nhiều cuộc hội thảo diễn ra hàng năm, nhiều đề tài được nghiên cứu của các học viên thạc sĩ và tiến sĩ… nhưng không được coi trọng và đưa ra thảo luận nghiêm túc để áp dụng vào công tác đào tạo cũng như thực tiễn trong công tác. Việc bỏ ngõ bộ phận nghệ nhân trong việc tham gia đào tạo VHNT cũng là một thiếu sót…

- Phát triển nguồn nhân lực lĩnh vực văn hóa trong bối cảnh hội nhập quốc tế nhưng lại ngại đổi mới, tiếp thu cái mới, cái tiến bộ… phát hiện nhân tài, bồi dưỡng nhân tài trong lĩnh vực văn hóa vẫn chưa được chú trọng, ở các nước tân tiến, nhân tài về VHNT được phát hiện từ rất sớm thông qua công tác đào tạo từ đó cả gia đình và nhà trường cùng phối hợp, có lộ trình trong việc đào tạo nhân tài cho quốc gia, nhân tài được đào tạo miễn phí từ ngân sách của chính phủ.

- Tình trạng nguồn nhân lực văn hóa đào tạo ra trường không kiếm được việc làm hoặc phải làm trái nghề chiếm khoảng 30%. Vì cơ chế nhiêu khê, ưu tiên con cháu cán bộ cho nên một bộ phận sinh viên ra trường khó có thể thi đậu ngạch công chức vào cơ quan nhà nước để làm việc. Phần lớn học viên, sinh viên ra trường chưa thể làm việc ngay, vì chất lượng đào tạo thấp, thiếu kiến thức thực tế… buộc doanh nghiệp, cơ quan nhà nước phải đào tạo, hướng dẫn lại mất rất nhiều thời gian và chi phí.

- Nguồn lực tài chính của nhà nước đầu tư vào hệ thống đào tạo còn hạn chế, gần như các cơ sở tự thu và tự chi, các chính sách hỗ trợ sinh viên, học viên… gần như không có. Trong khí đó, nguồn nhân lực lĩnh vực văn hóa là ngành đặc thù, là ngành có nhiều nghệ

42

nhân, nghệ sĩ… nhiều nhân tài thuộc về năng khiếu nghệ thuật cần được hỗ trợ từ nhà nước cả về vật chất lẫn tinh thần để phát hiện và đào tạo nhân tài cho đất nước tạo điều kiện thuận lợi thực hiện thành công ngành công nghiệp văn hóa.

- Đào tạo nguồn nhân lực ở bậc cao hơn gọi là chương trình sau đại học, tiến sĩ…

trong những năm gần đây tăng nhanh chóng về số lượng nhưng chưa đảm bảo về chất lượng.

Chủ yếu học để lấy bằng, để bổ sung bằng cấp, để thăng quan tiến chức… vì bệnh thành tích, vì quá coi trọng bằng cấp sinh ra nhiều gian lận trong công tác đào tạo cũng như trong thi cử, luận án thạc sĩ, tiến sĩ chưa đạt chất lượng và ít vận dụng được vào thực tiễn cho công cuộc phát triển lĩnh vực văn hóa nói riêng và phát triển kinh tế cả nước nói chung.

- Quản lý giám sát nguồn nhân lực văn hóa dựa trên các các văn bản pháp luật nhà nước đã cũ kỹ, máy móc, nhiêu khê… các chế độ lương, đãi ngộ cho nguồn nhân lực văn hóa so với các ngành khác quá chênh lệch… làm ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực trong ngành văn hóa.

- Trong bối cảnh hội nhập quốc tế nhưng các chính sách, đề án để phát triển nguồn nhân lực còn chậm trễ, gần như bỏ ngỏ, hoặc chỉ nằm mãi trên giấy… thực hiện không quyết liệt, chính xác. Các thủ tục nhiêu khê, rườm rà… dẫn đến ít thu hút được đầu tư trong nước và ngoài nước.

- Những nỗ lực của chính phủ Việt Nam trong những năm qua với kỳ vọng phát triển nguồn nhân lực lĩnh vực văn hóa đáp ứng nhu cầu thực tiễn và hội nhập quốc tế, đã đạt được nhiều kết quả đáng kể. Tuy nhiên, so với tiềm năng nguồn nhân lực và tiềm năng văn hóa cả vật thể và phi vật thể vẫn chưa phát huy được tiềm năng dồi dào này, thậm chí so với các nước trong khu vực như Hàn Quốc, Singapore, Nhật Bản… nguồn nhân lực văn hóa có phần tụt hậu về trình độ chuyên môn, về ngoại ngữ và kể cả thái độ, phong cách làm việc…

Một phần của tài liệu KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC Đào tạo phát triển nguồn nhân lực chuyên ngành công nghiệp văn hóa trong bối cảnh hội nhập (Trang 38 - 42)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(165 trang)