Tài nguyên văn hóa

Một phần của tài liệu KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC Đào tạo phát triển nguồn nhân lực chuyên ngành công nghiệp văn hóa trong bối cảnh hội nhập (Trang 63 - 67)

Tài nguyên là khái niệm chỉ tất cả mọi thứ như vật chất, thông tin, năng lượng mà nhân loại lợi dụng và phát triển. Tài nguyên tồn tại rộng rãi trong tự nhiên và xã hội loài người. Nói cách khác, tài nguyên là tất cả sự tồn tại khách quan của vật chất và tinh thần mà con người có thể có được khi nhìn từ phương diện nguồn lực kinh tế. Nội hàm của khái niệm "tài nguyên" thể hiện ở ba khía cạnh sau:

Trước tiên, tài nguyên là tổ hợp yếu tố các loại tài sản, của cải đã được sáng tạo, bất kể là kết quả của quá trình lao động của nhân loại hay là sản vật của tự nhiên, miễn là các yếu tố được sử dụng trong quá trình sản xuất để tạo ra của cải, vật chất thì đều là tài nguyên.

64

Thứ hai, các nguồn lực tài nguyên để trở thành của cải, sự giàu có là nhờ vào kết quả lao động của con người trong họat động thực tiễn. Nhìn ở góc độ tài sản và sự giàu có mà nói, tài sản và sự giàu có có được hình thành hay không phụ thuộc vào hai điều kiện: thứ nhất là nguồn lực tài nguyên và thứ hai hoạt động lao động. Một mặt, chỉ có cùng các yếu tố liên quan hình thành sự giàu có thì có thể trở thành nguồn tài nguyên.

Cuối cùng, các nguồn lực là sự tồn tại và là tổng hòa của các yếu tố được khai thác và sử dụng như là điều kiện cho sự phát triển.

1.2. Khái niệm tài nguyên văn hóa

Tài nguyên văn hóa là một dạng tài nguyên luôn ở trạng thái động, không có tính độc quyền, tồn tại dạng tài sản tinh thần và có khả năng tái tạo. Về bản chất, trong quá trình phát triển của các ngành công nghiệp văn hóa, nguồn tài nguyên văn hóa chuyển hóa không ngừng do các các nguồn tài nguyên văn hóa luôn được sử dụng vào quá trình thực hiện giá trị trong các sản phẩm văn hóa và các dịch vụ văn hóa. Tuy nhiên, những ưu thế của nguồn tài nguyên văn hóa không thể tự nhiên mà chuyển hóa, tạo ra sức mạnh cho sự sáng tạo, đổi mới, xu thế phát triển cho các ngành công nghiệp văn hóa mà nguồn tài nguyên văn hóa là yếu tố cơ sở để xác định số lượng tài nguyên và hiệu xuất khai thác tài nguyên văn hóa cho hoạt động phát triển tài nguyên văn hóa là chính. Do vậy, vấn đề đề xuất những ý tưởng mới trong quá trình xem xét, đánh giá để phát triển và sử dụng các nguồn tài nguyên văn hóa trong tình hình hiện nay của Việt Nam để phát triển các ngành công nghiệp văn hóa có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.

1.3. Phân loại tài nguyên văn hóa 1.3.1. Tài nguyên văn hóa vật thể

Tài nguyên văn hóa vật thể bao gồm: cảnh quan thiên nhiên đặc biệt, chẳng hạn như thảm thực vật, hồ, sông núi, vườn hoa, công viên và địa chất khác. Tài nguyên giàu ý nghĩa lịch sử và văn hóa của các di tích và hiện vật, chẳng hạn như di tích, đồ gốm, đồ dùng, văn tự, nhân vật lịch sử và nơi cư trú, đài tưởng niệm và các loại tương tự. Những tài nguyên là minh chứng cho các dân tộc, đặc biệt địa phương, chế độ sinh hoạt, ăn uống, đi lại, lao động sản xuất, tổ chức cộng đồng và các nguồn tài nguyên văn hóa có tính chất đại diện cho văn hóa tộc người. Các cơ sở văn hóa và nguồn lực thiết bị, chẳng hạn như các thư viện, bảo tàng, sân vận động, rạp chiếu phim và các loại hình giải trí công cộng và các cơ sở văn hóa khác… là cơ sở cho các ngành công nghiệp văn hóa.

1.3.2. Tài nguyên văn hóa phi vật thể

Tài nguyên văn hóa phi vật thể có ý nghĩa là nguồn lực tinh thần văn hóa. Nguồn tài nguyên tinh thần chẳng hạn như: truyền thống về lòng yêu nước, tinh thần đổi mới,

65

và một số lượng lớn những câu chuyện và các truyền thuyết lịch sử. Thông qua văn hóa và nghệ thuật, nguồn tài nguyên tinh thần phản ánh các nguồn lực thẩm mỹ như: chủ nghĩa hiện thực, tinh thần lãng mạn, lòng quảng đại, tinh thần bao dung… Nguồn tài nguyên phong tục dân gian phản ánh về các vấn đề trong đời sống tinh thần cuộc sống như các hoạt động sinh hoạt và sản xuất thực tiễn, phong tục nghi thức xã hội, niềm tin, lễ hội. Trong xã hội hiện đại ngày nay, với nền kinh tế thị trường, xã hội tiêu dùng đang là xu thế toàn cầu thì tài nguyên văn hóa tinh thần còn thể hiện thông qua tài nguyên tri thức, bản quyền trí tuệ con người, thương hiệu như tên thương hiệu, logo thương hiệu, nhãn hiệu hàng hóa…

1.4. Các nét đặc trưng của tài nguyên văn hóa

Làm thế nào để hiểu rõ tài nguyên văn hóa, trước tiên phải phân loại, sắp xếp, và đồng thời nhìn tài nguyên là yếu tố ảnh hưởng đến mức độ phát triển công nghiệp văn hóa mà phân loại một cách khoa học, nhìn tài nguyên văn hóa là các yếu tố có tính tiền đề và cơ bản đối với sự phát triển của các ngành công nghiệp văn hóa trong sự phát triển văn hóa và bảo vệ tài nguyên văn hóa. Nhận thức về tài nguyên văn hóa của con người phải được dựa trên sự hiểu biết về văn hóa. Và tương ứng với điều đó thì con người cũng phải nhận thức về sự của đa dạng văn hóa, đồng thời sự hiểu biết của con người về tài nguyên văn hóa cũng thiên biến vạn hóa. Do đó mà các yếu tố cấu thành tài nguyên văn hóa rất nhiều, bao gồm cả về khoa học kỹ thuật công nghệ, giáo dục và các yếu tố khác.

Và trong đó còn bao gồm cả các yếu tố giá trị nội tại như: lý tưởng, niềm tin, đạo đức, mà còn là toàn bộ các yếu tố trong thực tế cuộc sống như: mạng văn hóa xã hội, văn hóa truyền thống, văn hóa nước ngoài… Nói chung, tất cả những thành tựu của văn hóa, thành quả văn minh là kết quả sáng tạo của con người đến các sự vật, sự kiện, và thậm chí đến tên người, tên đất, tên làng… nào đó đều là một dạng tài nguyên văn hóa.

Về hình thức, chúng ta có thể chia tài nguyên văn hóa ra thành tài nguyên văn hóa hữu hình (vật thể) như: các di tích lịch sử, kiến trúc dân gian, lịch sử văn hóa tinh thành, trang phục đặc sắc, hàng thủ công mỹ nghệ dân gian… và các nguồn tài nguyên văn hóa vô hình (phi vật thể) như: ngôn ngữ, văn học nghệ thuật, hội họa, âm nhạc, khiêu vũ, thần thoại và truyền thuyết, phong tục tập quán, lễ hội…

Về nội dung, chúng ta có thể chia các nguồn tài nguyên thành tài nguyên văn hóa lịch sử, tài nguyên văn hóa dân tộc, tài nguyên văn hóa tôn giáo, tài nguyên văn hóa khu vực địa lý (văn hóa đô thị, văn hóa nông thôn)…

66

Từ những quan điểm phát triển của ngành công nghiệp văn hóa, chúng ta có thể chia tài nguyên văn hóa thành các nguồn lực tài nguyên có thể phát triển được và không thể phát triển được…

Tuy nhiên, việc phân chia tài nguyên văn hóa không phải là mục tiêu cuối cùng, điều quan trọng là phải hiểu được các tài nguyên văn hóa lưu trữ loại nội dung gì và biểu hiện như thế nào, và từ đó mà phát triển nguồn tài nguyên văn hóa tốt hơn, hiệu quả hơn.

Chúng ta có thể thấy tài nguyên văn hóa có bốn điểm đáng chú ý nhất là:

(1) Tài nguyên văn hóa có tính động thái

Bất kỳ một nền văn hóa nào trên thế giới, cho dù là những loại biểu tượng hoặc hình ảnh nào xuất hiện thì đều đang mang một nội dung, ý nghĩa nhất định, và những nội dung này vừa mang những đặc điểm ổn định tương đối, và cũng có những mặt mang sự thay đổi, phát triển. Nó nhất định có nghĩa thay đổi theo thời gian, thay đổi theo xã hội, tiến bộ của con người và không ngừng thể hiện tính phái sinh để tiếp tục phát triển.

Đặc biệt, ngày nay, trong xu thế toàn cầu hóa về kinh tế ngày càng bộc lộ rõ ràng hơn, một nền văn hóa tự “cầm tù”, thiếu giao lưu với thế giới bên ngoài, thì tất yếu sẽ đánh mất đi những cơ hội sống của nó và dần dần suy yếu và chết. Do đó, bất kỳ quan điểm và cách ứng xử cứng nhắc với tài nguyên văn hóa đều mang lại những hậu quả không thể thay đổi và sửa chữa của nền văn hóa trong tương lai.

(2) Tài nguyên văn hóa không có tính độc quyền

Với tốc độ gia tăng mạnh của xu thế toàn cầu hóa kinh tế, xa lộ thông tin từng bước được hoàn thiện, không gian địa lý đã được thu lại bằng hình thức mạng internet toàn cầu, vấn đề giao lưu, kết nối giữa những quốc gia, dân tộc, vùng miền đã trở nên dễ dàng và vô cùng đơn giản. Trong hoàn cảnh như vậy, tài nguyên văn hóa và các loại tài nguyên thiên nhiên khác, mặc dù có tính khu vực bản địa rất cao, nhưng trong một chừng mực nào đó, nhất định phải có ý thức về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ sản phẩm do khi những tài nguyên đó được khai thác để sáng tạo, nó sẽ trở thành tài sản tinh thần chia sẻ cho nhân loại, tiếp tục trở thành nguồn dữ liệu cho những người khác tiến hành sử dụng trong quá trình tái tạo văn hóa. Điều này chính là ý nghĩa của tài nguyên văn hóa trong vai trò tạo ra năng lực sáng tạo, năng lực chiếm hữu tài nguyên và là tài liệu tham khảo cho một ai đó. Vấn đề tận dụng các nguồn tài nguyên văn hóa bên ngoài để phát triển công nghiệp văn hóa đang là một xu hướng được các quốc gia có ngành công nghiệp văn hóa phát triển khai thác mạnh mẽ.

(3) Tài nguyên văn hóa có thể tái tạo

67

So với đa số nguồn tài nguyên tự nhiên, sự khác biệt lớn nhất của tài nguyên văn hóa chính là khả năng tái sinh của nó, và thường thường được sử dụng có giá trị cao hơn, sử dụng với tần suất nhiều hơn, càng quý giá hơn. Trong đó kể cả những di tích lịch sử văn hóa độc đáo có một không hai, con người có thể sử dụng công nghệ cao để phục chế, làm cho nó phổ biến rộng rãi hơn, mở rộng giá trị hơn. Bởi vì các nguồn tài nguyên văn hóa có khả năng tái tạo nên đã làm cho các ngành công nghiệp văn hóa ngày nay đã trở thành ngành công nghiệp mới nổi, năng động nhất trong thế kỷ mới.

(4) Tính chuyển đổi hiện đại của tài nguyên văn hóa.

Đối với loại tài nguyên văn hóa lịch sử muốn để tái sản xuất giá trị của nó, có vai trò thực sự của nó, phải được đặt nó trong bối cảnh văn hóa ngày nay xác định lại giá trị và đổi mới hiện đại. Chuyển đổi hiện đại của tài nguyên văn hóa là chìa khóa để đổi mới. Điều này thể hiện qua hệ thống hoạt động có tính qui trình: tái phát hiện giá trị, tái cấu trúc tài nguyên và cuối cùng là tái sử dụng một cách hiệu quả.

Một phần của tài liệu KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC Đào tạo phát triển nguồn nhân lực chuyên ngành công nghiệp văn hóa trong bối cảnh hội nhập (Trang 63 - 67)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(165 trang)