Giải pháp đáp ứng nhu cầu thụ hưởng văn hóa của người dân

Một phần của tài liệu KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC Đào tạo phát triển nguồn nhân lực chuyên ngành công nghiệp văn hóa trong bối cảnh hội nhập (Trang 80 - 86)

Để thực hiện được mục tiêu phát triển ngành công nghiệp văn hóa lấy sự thoả mãn các nhu cầu thụ hưởng văn hóa của người dân là chủ yếu, Đảng và Nhà nước đã đề

ra nhiều giải pháp trong đó phải kể đến một số giải pháp chủ yếu sau:

Thứ nhất, xây dựng đội ngũ cán bộ làm văn hóa

Theo Nghị quyết Hội nghị lần thứ chín Ban chấp hành Trung ương khóa XI về

xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền

81

vững đất nước giải pháp phát triển văn hóa cần “Xây dựng chiến lược phát triển đội ngũ cán bộ văn hóa. Coi trọng quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí cán bộ lãnh đạo, quản lý văn hóa, cán bộ làm công tác khoa học, chuyên gia đầu ngành, cán bộ ở cơ sở. Quan tâm xây dựng các trường văn hóa, nghệ thuật, tạo chuyển biến cơ bản về chất lượng và quy mô đào tạo. Hình thành một số cơ sở đào tạo đại học, trên đại học trọng điểm, đạt chuẩn khu vực và quốc tế. Đổi mới đào tạo, bồi dưỡng cán bộ văn hóa theo hướng hiện đại và hội nhập quốc tế. Tiếp tục gửi sinh viên, cán bộ đi đào tạo chuyên ngành văn hóa, nghệ thuật, thể thao ở các nước phát triển. Xây dựng đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ trong các dân tộc thiểu số, có chính sách khuyến khích họ trở về công tác tại địa phương.

Chú trọng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên giảng dạy các chuyên ngành văn hóa”.

Nằm trong xu thế phát triển ngành Công nghiệp Văn hóa, việc thành lập các khoa/chuyên ngành đào tạo ngành Công nghiệp văn hóa trong các trường Đại học, Cao đẳng là vô cùng quan trọng và cấp thiết nhằm đào tạo những thế hệ công dân có đủ trình độ và năng lực để phục vụ tốt nhu cầu thụ hưởng văn hóa của con người.

Thứ hai, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động văn hóa

Hoạt động văn hóa và nhu cầu thụ hưởng văn hóa có mối quan hệ qua lại mật thiết với nhau. Chất lượng và hiệu quả của hoạt động văn hóa có ý nghĩa vô cùng to lớn trong việc nâng cao nhu cầu thụ hưởng văn hóa của con người. Một khi hoạt động văn hóa phát triển sẽ là tiền đề làm nảy sinh những nhu cầu văn hóa mới theo hướng đa dạng hơn, chuyên sâu hơn. Nhu cầu văn hóa gắn chặt với hoạt động văn hóa, chúng ta có thể đo lường được chất lượng và hiệu quả của hoạt động văn hóa thông qua mức độ thỏa mãn nhu cầu văn hóa của đại bộ phận nhân dân. Hoạt động văn hóa sẽ kém hiệu quả nếu không theo kịp sự phát triển năng động của nhu cầu văn hóa hoặc vô tình hay cố ý thỏa mãn nhu cầu của một bộ phận này mà bỏ qua nhu cầu của các bộ phận khác. Điều này đã được Đảng và Nhà nước ta nhận thức rõ và quán triệt trong các Quyết định và Nghị quyết về Chiến lược phát triển luôn đặt ra mục tiêu thu hẹp khoảng cách hưởng thụ văn hóa giữa các dân tộc và giữa các vùng miền, cũng như chú trọng phát triển văn hóa các vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, hải đảo.

Thứ ba, cơ chế và chính sách phát triển công nghiệp văn hóa

Để thực hiện tốt các mục tiêu phát triển văn hóa đáp ứng nhu cầu thụ hưởng của người dân, bên cạnh những giải pháp về phát triển đội ngũ cán bộ chuyên môn và nâng cao chất lượng, hiệu quả của hoạt động văn hóa thì Đảng và Nhà nước ta cũng đề ra những chính sách hợp lý nhằm khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển văn hóa hướng tới hoàn thành các mục tiêu đã đề ra.

82

Trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ chín Ban chấp hành Trung ương khóa XI về

xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bề vững đất nước nêu rõ:

“Có cơ chế khuyến khích đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật và công nghệ tiên tiến để nâng cao chất lượng sản phẩm văn hóa. Tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp văn hóa, văn nghệ, thể thao, du lịch thu hút các nguồn lực xã hội để phát triển.

Đổi mới, hoàn thiện thể chế, tạo môi trường pháp lý thuận lợi để xây dựng, phát triển thị trường văn hóa và công nghiệp văn hóa”. Đây là chính sách tập trung vào nâng cao chất lượng và hiệu quả của hoạt động văn hóa, một khi các hoạt động văn hóa được cải thiện thì từ đó nhu cầu thụ hưởng văn hóa cũng sẽ ngày được nâng cao và cơ hội được tiếp cận và tham gia các hoạt động văn hóa của người dân cũng được nhân lên.

“Có chính sách phát hiện, bồi dưỡng, sử dụng, đãi ngộ, tôn vinh cán bộ trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật; trọng dụng người có tài, có đức. Điều chỉnh chế độ tiền lương, trợ cấp đối với những người hoạt động trong các bộ môn nghệ thuật đặc thù”.

Với chính sách đãi ngộ nhân tài và cải thiện chế độ tiền lương của những người phục vụ trong lĩnh vực văn hóa sẽ tạo điều kiện cho người làm văn hóa yên tâm sáng tạo, cống hiến để chất lượng các hoạt động văn hóa ngày được nâng cao, góp phần đáp ứng tốt nhu cầu thụ hưởng văn hóa của người dân ngày một tăng.

“Xây dựng cơ chế, chính sách ưu đãi về đất, tín dụng, thuế và phí đối với các cơ sở đào tạo và thiết chế văn hóa do khu vực tư nhân đầu tư, đặc biệt là ở vùng còn khó khăn. Khuyến khích hình thành các quỹ đào tạo, khuyến học, phát triển nhân tài, quảng bá văn học nghệ thuật, phát triển điện ảnh, hỗ trợ xuất bản”.

Không chỉ tạo điều kiện cho khu vực Nhà nước phát triển văn hóa mà Đảng và Nhà nước ta còn chú trọng thu hút, khuyến khích khu vực tư nhân đầu tư đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ trong lĩnh vực văn hóa. Nhằm mở rộng phạm vi phát triển văn hóa trên toàn đất nước, mang đến cơ hội tham gia vào các hoạt động văn hóa của mọi tầng lớp nhân dân, hướng tới đảm bảo quyền được thụ hưởng văn hóa ngang bằng nhau giữa các dân tộc và giữa các vùng miền.

Kết luận

Như vậy, việc đáp ứng nhu cầu thụ hưởng văn hóa của người dân đồng nghĩa với việc đảm bảo quyền thụ hưởng văn hóa của con người. Nó đòi hỏi phải đi đôi với việc nâng cao chất lượng và hiệu quả của các hoạt động văn hóa. Và để có được các hoạt động văn hóa chất lượng thì đội ngũ nhân lực hoạt động trong lĩnh vực văn hóa phải không ngừng được bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ chuyên ngành.

83

Nhờ vào các chính sách linh động đây cũng là cơ hội cho các cơ sở đào tạo ngoài công lập thành lập các ngành đào tạo đội ngũ cán bộ văn hóa chất lượng cao phục vụ cho chiến lược phát triển ngành Công nghiệp văn hóa Việt Nam trong thời kỳ hội nhập lấy đáp ứng nhu cầu thụ hưởng văn hóa của người dân là mục tiêu chủ yếu. Hướng đến

“Xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học. Văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. (Nghị quyết Hội nghị lần thứ chín Ban chấp hành Trung ương khóa XI, 2014).

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 09/6/2014, Nghị quyết Hội nghị lần thứ chín Ban chấp hành Trung ương khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bề vững đất nước, http://dangcongsan.vn/tu-lieu-tham- khao-cuoc-thi-trac-nghiem-tim-hieu-90-nam-lich-su-ve-vang-cua-dang-cong-san-viet- nam/tu-lieu-cuoc-thi/nghi-quyet-ve-xay-dung-va-phat-trien-van-hoa-con-nguoi-viet- nam-dap-ung-yeu-cau-phat-trien-ben-vung-dat-nuoc-544851.html

2. Quyết định số 581/QĐ-TTg, ngày 06/5/2009, Chiến lược phát triển văn hóa

đến năm 2020,

http://vanban.chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/hethongvanban?class_id=1&m ode=detail&document_id=86375;

3. Quyết định số 1755/QĐ-TTg, ngày 08 tháng 09 năm 2016, Quyết định phê duyệt chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, , https://thuvienphapluat.vn/van-ban/van-hoa-xa-hoi/Quyet- dinh-1755-QD-TTg-chien-luoc-phat-trien-nganh-cong-nghiep-van-hoa-Viet-Nam-den- 2020-2016-322023.aspx

4. Trần Thị Hằng (2015). Quyền thụ hưởng các giá trị văn hóa: Những vấn đề lý

luận cơ bản,

http://nguoibaovequyenloi.com/User/ThongTin_ChiTiet.aspx?MaTT=2072015795654 6581&MaMT=23

Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền (1948). (https://thuvienphapluat.vn/van- ban/quyen-dan-su/Tuyen-ngon-quoc-te-nhan-quyen-1948-65774.aspx)

84

Tử Hưng (2019). Công nghiệp văn hóa: Thiếu & Đủ!, https://congluan.vn/cong- nghiep-van-hoa-viet-nam-thieu-du-post67543.html

5. Nguyễn Thị Hồng Yến; Mạc Thị Hoài Thương (2020). Đảm bảo quyền văn hóa của người dân tộc thiểu số tại Việt Nam – thực trạng và các kiến nghị (http://quochoi.vn/UserControls/Publishing/News/BinhLuan/pFormPrint.aspx?UrlList Process=/content/tintuc/Lists/News&ItemID=44466)

85

HỌC TỪ THỰC TẾ TẠI CÁC BẢO TÀNG

QUA CÁC HỌC PHẦN NGÀNH CÔNG NGHIỆP VĂN HÓA

ThS. Lê Thị Ngọc Thúy- Bộ môn Khoa học cơ bản

Tóm tắt: Các giá trị hiện vật văn hóa tại các bảo tàng TP.HCM nói riêng và Việt Nam nói chung không chỉ đa dạng, phong phú từ thời quá khứ đến hiện tại đã và đang tạo ra cho thành phố những giá trị văn hóa vô cùng đặc sắc. Trong quá trình phát triển đất nước hiện nay, nếu được quản lý, bảo tồn và phát huy tốt, các giá trị văn hóa này sẽ trở thành tài sản vô giá nhằm giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ đặc biệt đối với thế hệ sinh viên học những chuyên ngành nghiên cứu về Công nghiệp văn hóa. Học tập tại bảo tàng có ý nghĩa quan trọng, bởi hiện nay ngoài kiến thức môn học được cung cấp trong hệ thống nhà trường sinh viên còn được tiếp cận với với hệ thống thông tin rất đa dạng, phong phú về các hiện vật văn hóa tại bảo tàng. Vì vậy, dạy học các môn thuộc chuyên ngành Công nghiệp văn hóa theo phương pháp truyền thống hàn lâm bộc lộ nhiều hạn chế. Ngoài học tập trên lớp, học tập tại bảo tàng là một hình thức để khắc phục hạn chế của phương pháp dạy học truyền thống. Vượt khỏi ranh giới giảng đường- lớp học, học thực tế mở cho sinh viên điều kiện thuận lợi để gắn kết lý luận với thực tiễn, khả năng tiếp xúc trực tiếp với đối tượng nghiên cứu cũng như cơ hội tốt để học tập rèn luyện kỹ năng cho mình.

Từ khóa: Văn hóa, truyền thống, bảo tàng, thực tế, di sản, chương trình, ngành Văn hóa học.

1. Đặt vấn đề

Bảo tàng Việt Nam - tinh hoa dân tộc, là nơi lưu giữ, sưu tầm bảo quản, trưng bày các hiện vật di sản văn hóa. Các giá trị hiện vật văn hóa tại các bảo tàng địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng và Việt Nam nói chung không chỉ đa dạng, phong phú của một vùng đất cửa sông, trung tâm của vùng đất Nam Bộ mà còn là nơi có chứa đựng giá trị văn hóa độc đáo, hiện đại nhưng cũng giàu bản sắc dân tộc. Những di sản văn hóa vật chất và tinh thần của cư dân Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh trong quá khứ và hiện tại đã và đang tạo ra cho Thành phố những giá trị văn hóa vô cùng đặc sắc. Trong quá trình phát triển đất nước hiện nay, nếu được quản lý, bảo tồn và phát huy tốt, các giá trị di sản văn hóa này sẽ trở thành tài sản vô giá nhằm giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ đặc biệt đối với sinh viên học chuyên ngành về Công nghiệp văn hóa, là nguồn kiến thức thực tế quan trọng áp dụng trong quá trình học và cuộc sống.

86

Từ ý nghĩa to lớn đó, khá nhiều học phần trong khung chương trình học ngành Văn hóa học trước đây (ngành Công nghiệp văn hóa hiện nay) tại Trường Đại học Văn Hiến thường tổ chức cho sinh viên đi tham quan học tập tại các bảo tàng nhằm tạo cơ hội cho sinh viên học tập thực tế bằng con đường trực quan. Sinh viên được tận mắt chiêm ngưỡng các hiện vật, thu thập thông tin từ tư liệu gốc, giao lưu tiếp xúc, cảm nhận các giá trị vật chất và tinh thần; cảm nhận những giá trị thẩm mỹ và thấy được các giá trị văn hóa phong phú của dân tộc Việt Nam.

Có nhiều phương pháp và cách thức tổ chức dạy học tích cực nhằm phát huy tính chủ động, độc lập và sáng tạo của người học, điều đó có ý nghĩa thiết thực trong việc đổi mới phương pháp dạy học ở các trường đại học cao đẳng. Trong khuôn khổ bài viết này chúng tôi cũng mới chỉ nêu ra phương pháp học từ thực tế mà qua quá trình vận dụng trong giảng dạy đã đạt hiệu quả khả quan, người học có thể nắm vững kiến thức và vận dụng kiến thức một cách linh hoạt và sáng tạo.

Một phần của tài liệu KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC Đào tạo phát triển nguồn nhân lực chuyên ngành công nghiệp văn hóa trong bối cảnh hội nhập (Trang 80 - 86)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(165 trang)