Kết quả nghiên cứu

Một phần của tài liệu KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC Đào tạo phát triển nguồn nhân lực chuyên ngành công nghiệp văn hóa trong bối cảnh hội nhập (Trang 135 - 141)

4.1. Hiểu biết về tầm quan trọng của văn hóa ứng xử

Bảng 1: Hiểu biết về tầm quan trọng của văn hóa ứng xử

STT Nhận thức tầm quan trọng

Trung bình

Độ lệch chuẩn 1 Văn hóa ứng xử sẽ giúp sinh viên thành công trong

học tập và công việc sau này 4.51 0.95

2

Văn hóa ứng xử giúp bản thân dễ dàng tạo dựng được mối quan hệ với bạn bè, thầy cô và những người xung quanh

4.40 0.82

136

3 Văn hóa ứng xử giúp chúng ta biết cách giao tiếp

phù hợp, tôn trọng mọi người 4.19 0.90

4 Văn hóa ứng xử có ảnh hưởng đến kết quả học tập

và các hoạt động tập thể trong nhà trường 4.17 0.71 5 Không chỉ chuyên môn tốt mà còn phải có cả văn

hóa ứng xử 3.86 0.77

6 Văn hóa ứng xử chỉ sử dụng vào mục đích trò

chuyện, trao đổi thông tin 3.40 1.01

7 Văn hóa ứng xử sẽ hình thành qua quá trình học

tập 2.70 1.07

Trung bình chung 3.89 0.89

Qua bảng 1 có thể nhận định có 2 tầm quan trọng được xếp ở mức rất đồng ý, có 3 tầm quan trọng xếp ở mức đồng ý, có 2 tầm quan trọng xếp ở mức phân vân. Kết quả rơi vào mức đồng ý với trung bình chung là 3.9. Điều này cho thấy sinh viên ngành Tâm lý học đã nhận thức được tầm quan trọng của văn hóa ứng xử đối với bản thân.

“Văn hóa ứng xử sẽ giúp thành công trong học tập và công việc sau này” có giá trị trung bình là 4.51, xếp thứ hạng cao nhất. Sinh viên đã ý thức được văn hóa ứng xử không chỉ cần thiết đối với bản thân đang ngồi trên ghế giảng đường mà còn giúp cho họ tự tin hơn khi bước vào công việc sau này “giúp tôi thuận lợi, giao tiếp sẽ hiệu quả và thành công hơn; rất cần thiết khi tìm hiểu nhu cầu của người khác cũng như tương tác con người trong công việc” (ý kiến của một sinh viên năm ba học chuyên ngành Tham vấn tâm lý và Quản trị nhân sự).

Các tầm quan trọng tiếp theo của văn hóa ứng xử như “giúp bản thân dễ dàng tạo dựng được mối quan hệ với bạn bè, thầy cô và những người xung quanh” (4.40); “giúp chúng ta biết cách giao tiếp phù hợp, tôn trọng mọi người” (4.19); “giúp chúng ta thu thập được nhiều thông tin cần thiết trong học tập và cả công việc sau này”; “có ảnh hưởng đến kết quả học tập và các hoạt động tập thể trong nhà trường” (4.17) cũng đều được sinh viên đánh giá ở mức rất đồng ý và đồng ý. Qua đó cho thấy, sinh viên đã nhận thức được văn hóa giao tiếp cần thiết, có vai trò quan trọng cho hoạt động học tập, công việc sau này và cả trong cuộc sống của chính sinh viên.

Bên cạnh đó, sinh viên cũng đã thấy rằng không chỉ “chuyên môn giỏi mà còn phải có cả văn hóa ứng xử” (3.86). Vì xã hội ngày càng phát triển và cạnh tranh gay gắt, có chuyên môn giỏi, kiến thức chuyên sâu nhưng nếu không biết cách thể hiện những

137

suy nghĩ, những kinh nghiệm, những đóng góp của mình một cách phù hợp và không có sự giúp đỡ hay tin cậy của các đồng nghiệp thì sinh viên cũng khó mà gặt hái được thành công. Vì vậy, văn hóa ứng xử trong công việc, trong cuộc sống hằng ngày rất quan trọng, không thể thiếu trong môi trường làm việc hiện đại đầy cạnh tranh dù chuyên môn có vững vàng đến đâu.

Các nhận định ít được sinh viên coi trọng hơn là “văn hóa ứng xử chỉ sử dụng vào mục đích trò chuyện, trao đổi thông tin” (3.40), “văn hóa ứng xử sẽ hình thành qua quá trình học tập” (2.70). Như vậy, sinh viên vẫn phân vân với những nhận định này.

Thực tế cũng cho thấy rằng, văn hóa ứng xử không chỉ sử dụng vào mục đích trò chuyện mà giúp sinh viên ứng xử và thể hiện bản thân một cách hiệu quả trước người khác, trong các môi trường học tập, công việc. Đồng thời, bản thân sinh viên không rèn luyện, học hỏi trong giao tiếp hằng ngày với bạn bè, thầy cô, mọi người xung quanh thì văn hóa ứng xử cũng không thể hoàn thiện được.

Kiểm định T-test và Anova về trung bình giữa các nhóm có sự khác biệt trong bảng 2.

Bảng 2: Hiểu biết về tầm quan trọng của văn hóa ứng xử giữa các nhóm sinh viên

Tầm quan trọng Tiêu chí so sánh Trung bình

Mức ý nghĩa Văn hóa ứng xử giúp bản thân dễ dàng

tạo dựng được mối quan hệ với bạn bè, thầy cô và những người xung quanh

Năm học

2 4.15

0.00

3 4.58

4 4.52

Có sự khác biệt về nhận định “Văn hóa ứng xử giúp bản thân dễ dàng tạo dựng được mối quan hệ với bạn bè, thầy cô và những người xung quanh”. Sinh viên năm 3 đánh giá cao hơn (4.58) so với sinh viên năm 1 (4.15) và sinh viên năm 4 (4.52). Đây cũng là điều chúng ta cần phải quan tâm vì sinh viên năm thứ 4 chuẩn bị cho việc vào đời, làm việc, tại sao lại đánh giá thấp hơn so với sinh viên năm 3.

4.2. Biểu hiện hành vi ứng xử của sinh viên trong môi trường học đường Bảng 3: Hành vi ứng xử của sinh viên trong môi trường học đường

STT Biểu hiện hành vi ứng xử Trung bình Độ lệch chuẩn Hành vi tích cực

1 Chào hỏi khi gặp thầy cô giảng viên 3.65 0.88

138 2 Lễ phép, tôn trọng khi giao tiếp với thầy cô

giảng dạy 3.62 0.87

3 Có hành vi, cử chỉ đúng mực khi giao tiếp

với mọi người trong trường 3.55 0.85

4 Thân thiện, hòa đồng khi giao tiếp với bạn

bè 3.42 0.75

5 Thực hiện các nội quy, quy định của nhà

trường 3.42 0.65

6 Lễ phép với các thầy cô làm việc ở các

phòng ban 3.31 0.61

Hành vi tiêu cực

7 Bỏ rác không đúng nơi quy định 2.96 0.59

8 Nói chuyện riêng trong giờ học

2.93 0.84

9 Nói tục, chửi thề 2.76 0.86

10 Sai giờ, trễ hẹn 2.62 0.74

11 Ăn mặc chưa phù hợp trong môi trường

học đường 2.36 0.72

12 Chưa chấp hành tốt quy định trong thi cử 1.91 0.94

Qua bảng 3 có thể nhận định biểu hiện hành vi ứng xử của sinh viên (cả tích cực và tiêu cực) trong môi trường học đường chưa có sự thống nhất với hiểu biết về tầm quan trọng.

Cụ thể, đối với các hành vi tích cực:

Sinh viên thường xuyên thực hiện việc “Chào hỏi khi gặp thầy, cô giảng viên”,

“Lễ phép, tôn trọng khi giao tiếp với thầy cô giảng dạy”, “Có hành vi, cử chỉ đúng mực khi giao tiếp với mọi người trong trường” cho thấy sinh viên có biểu hiện ứng xử đúng đắn trong giao tiếp với thầy, cô giáo. Tuy nhiên, khi phỏng vấn sâu thì một vài sinh viên vẫn thú nhận rằng “chỉ chào hỏi những thầy, cô nào trực tiếp dạy mình mà thôi”. Vì vậy, chúng ta cần khuyến khích để sinh viên phát huy hành vi này thành thói quen trong ứng xử với tất cả thầy, cô và mọi người xung quanh.

Hai hành vi tiếp theo “Thân thiện, hòa đồng khi giao tiếp với bạn bè” (3.42),

“Thực hiện các nội quy, quy định của nhà trường” cũng được sinh viên thực hiện ở mức thường xuyên, đây là điều đáng mừng. Vì quan hệ bạn bè cũng đóng một vai trò không nhỏ trong quá trình hình thành nhân cách của mỗi sinh viên và qua việc thực hiện nội

139

quy, quy định của nhà trường cũng rèn luyện nét văn hóa của sinh viên, tạo nên nét văn hóa của trường học. Nhưng kết quả phỏng vấn sâu cũng cho thấy sinh viên chỉ thân thiện, hòa đồng với bạn bè trong giao tiếp còn giúp đỡ bạn bè gặp khó khăn trong khả năng của bản thân thì sinh viên vẫn còn phân vân. Đồng thời, việc thực hiện nội quy, quy định ở một số sinh viên vẫn chưa trở thanh thói quen trong ứng xử của bản thân mà vẫn cần đến sự nhắc nhở.

Hành vi “Lễ phép với các thầy cô làm việc ở các phòng ban” xếp cuối phần hành vi tích cực cho thấy sinh viên ngành Tâm lý học chỉ thực hiện ở mức thỉnh thoảng. Đây là biểu hiện của mối quan hệ tích cực, thể hiện hành vi ứng xử có văn hóa của sinh viên với thầy cô làm việc tại các phòng ban. Tuy nhiên, vẫn còn sinh viên khi phỏng vấn sâu cho rằng “Chỉ lễ phép khi cần giải quyết công việc từ các phòng ban mà thôi”.

Bên cạnh đó, với các hành vi tiêu cực ở bảng 3 cho thấy:

Việc “Bỏ rác không đúng nơi quy định”, “Nói chuyện riêng trong giờ học”, “Nói tục, chửi thề”, “Sai giờ, trễ hẹn” sinh viên vẫn làm ở mức thỉnh thoảng. Kết quả phỏng vấn sâu, một vài sinh viên cho rằng “Việc dọn dẹp rác thải là của nhân viên vệ sinh chứ không thuộc trách nhiệm của mình, dù đó là rác do bản thân bỏ lại sau khi ăn uống” hay

“Nói tục, chửi thề cũng bình thường trong giao tiếp”. Đây là điều cần phải lưu ý, những hành vi này thể hiện tác phong không nghiêm túc trong giờ học, trong việc lĩnh hội kiến thức, trong việc giữ gìn vệ sinh môi trường học đường và trong giao tiếp, ứng xử với người khác. Những hành vi trong lớp học cũng như trong mối quan hệ bạn bè, cuộc sống như trên thể hiện việc thiếu tôn trọng đối tượng giao tiếp, tạo nên sự thiếu thiện cảm với người khác.

Xếp vào mức thấp, dù có biểu hiện hiếm khi “Ăn mặc chưa phù hợp trong môi trường học đường”, “Chưa chấp hành tốt quy định thi cử” nhưng cũng cho thấy sinh viên vẫn còn những hành vi “hỏi bài bạn trong thi cử” hay “không trung thực trong thi cử khi giám thị coi thi dễ”, “ăn mặc không đúng quy định học đường”. Đây cũng là những nét chấm phá trong bức tranh văn hóa ứng xử của sinh viên nhìn từ thực tế để thấy sinh viên chưa thực sự nhận thức rõ ràng về văn hóa ứng xử thể hiện trong lối sống, giao tiếp hằng ngày.

5. Kết luận

Nhận thức về văn hóa ứng xử của sinh viên ngành Tâm lý học chưa rõ ràng, chưa thống nhất giữa hiểu biết với hành vi trong thực tế. Sinh viên nhận thức được tầm quan trọng của văn hóa ứng xử đối với bản thân trong hoạt động học tập, các mối quan hệ giao tiếp và công việc sau này nhưng biểu hiện trong môi trường học đường vẫn cho

140

thấy hành vi tích cực “lễ phép với các thầy cô làm việc tại các phòng ban” vẫn chưa được sinh viên thường xuyên thực hiện, hay các hành vi tiêu cực trong trường học, trong lớp học, trong lời nói,... sinh viên vẫn thỉnh thoảng thực hiện.

Để nhận thức về văn hóa ứng xử của sinh viên ngành Tâm lý học được rõ ràng, thống nhất và trở thành thói quen trong nếp sống, sinh hoạt hằng ngày thì nhà trường cũng như khoa cần quan tâm nhiều hơn đến việc triển khai công tác giáo dục văn hóa ứng xử thông qua các buổi sinh hoạt chuyên đề, các hoạt động tập thể trong trường, các hoạt động trên lớp và ngoại khóa,... một cách phù hợp để định hướng cho sinh viên một lối sống, ứng xử có văn hóa.

Bản thân giảng viên cũng là tấm gương về văn hóa ứng xử trong giao tiếp, trong giảng dạy và sinh hoạt để sinh viên học hỏi. Đồng thời, trong quá trình giảng dạy, giảng viên cũng khéo léo nhắc nhở những hành vi chưa đẹp, chưa đúng để sinh viên có cách ứng xử văn hóa trong lối sống, sinh hoạt của bản thân.

Cần tạo ra hiệu ứng lan tỏa để chính sinh viên sẽ tác động lẫn nhau để văn hóa ứng xử trở thành mối quan tâm và tiêu chuẩn hướng đến trong lối sống của mỗi sinh viên. Nên thúc đẩy quá trình điều chỉnh và tự đều chỉnh để sinh viên thực sự chú trọng đến văn hóa ứng xử trong lối sống, sinh hoạt của bản thân sinh viên.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Lê Thị Bừng (2001). Tâm lý học ứng xử. NXB Giáo dục Hà Nội.

2. Vũ Gia Hiền, Nguyễn Hữu Khương (2006). Văn hóa giao tiếp trong học đường đại học. NXB Lao động.

3. Đỗ Long (2008). Tâm lý học với văn hóa ứng xử. NXB Văn hóa thông tin và viện văn hóa.

4. Nguyễn Thị Kim Ngân (2011). Văn hóa giao tiếp trong nhà trường. NXB Đại học Sư phạm TPHCM.

5. Huỳnh Văn Sơn (2015). Giáo trình tâm lý học giao tiếp. NXB Đại học Sư Phạm.

6. Nguyễn Thanh Tuấn (2008). Văn hóa ứng xử Việt Nam hiện nay. NXB Từ điển bách khoa và Viện Văn hóa, Hà Nội.

141

YẾU TỐ TÂM LINH TRONG TIỂU THUYẾT “MẪU THƯỢNG NGÀN”

CỦA NGUYỄN XUÂN KHÁNH

ThS. Phạm Thị Hương – Bộ môn Văn học Tóm tắt: “Mẫu thượng ngàn” của Nguyễn Xuân Khánh được coi là cuốn tiểu thuyết về văn hóa, phong tục Việt Nam. Trong tác phẩm, bức tranh đa sắc về văn hóa, phong tục của người dân Việt những năm đầu thế kỉ XX với những yếu tố tâm linh như: tín ngưỡng thờ Mẫu, tục thờ cúng bách thần, lễ hội dân gian,… được khắc họa rõ nét. Điều này đã góp phần gợi mở cho người đọc nhiều cách hiểu về văn hóa, tôn giáo của người Việt.

Từ khóa: Tín ngưỡng, tín ngưỡng dân gian, văn hóa phong tục.

Một phần của tài liệu KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC Đào tạo phát triển nguồn nhân lực chuyên ngành công nghiệp văn hóa trong bối cảnh hội nhập (Trang 135 - 141)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(165 trang)