Giải pháp nâng cao chất lượng văn hóa ứng xử cho người học

Một phần của tài liệu KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC Đào tạo phát triển nguồn nhân lực chuyên ngành công nghiệp văn hóa trong bối cảnh hội nhập (Trang 122 - 134)

2.1. Trước hết, người lãnh đạo, quản lý nhà trường phải nhận thức được vai trò quan trọng của văn hóa ứng xử trong việc xây dựng văn hóa học đường

Muốn có được một nhà trường có văn hóa học đường tốt, cần rất nhiều yếu tố, trong đó có văn hóa ứng xử. Đây là một yếu tố có thể xây dựng, mà không cần đầu tư nhiều về cơ sở vật chất, tài chính. Không ít trường đã treo khẩu hiệu “Tiên học lễ, hậu học văn”. Điều này đã thể hiện một nhận thức đúng của lãnh đạo trường về vai trò quan trọng của giáo dục đạo đức, lễ nghĩa, giáo dục tư cách làm người ở trong nhà trường.

Những người lãnh đạo, quản lý có nhận thức được vai trò quan trọng của văn hóa ứng xử mới có cách tổ chức giáo dục văn hóa ứng xử phù hợp, có hiệu quả trong nhà trường.

123

Nhận ra vấn đề không khó, nhưng biến nhận thức đó thành hành động trong thực tiễn của cả nhà trường thì không dễ chút nào.

2.2. Xây dựng chương trình bồi dưỡng về văn hóa ứng xử cho người học

Phải căn cứ vào đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi của học sinh, sinh viên để có chương trình bồi dưỡng phù hợp. Các chương trình của lớp sau phải có sự kế thừa, phát triển từ chương trình của lớp trước, thì việc giáo dục về văn hóa ứng xử mới có tính hệ thống và bền vững. Đặc điểm của hệ chương trình này là nội dung chương trình sau không tách rời nội dung chương trình trước. Khi học chương trình sau cũng là lúc người học phải thực hành trực tiếp một số nội dung cốt lõi, hợp lý của chương trình trước. Hay nói cách khác, khi dạy nội dung văn hóa ứng xử ở cấp học sau, người dạy cũng phải yêu cầu người học thực thi hợp lý những nội dung đã học ở các cập học trước.

Đây là một chương trình có tính chất đồng tâm. Cốt lõi của chương trình đào tạo, bồi dưỡng về văn hóa ứng xử là hệ thống “quy tắc ứng xử” (Luật giáo dục, 2019), là chuẩn mực các hành vi ứng xử của con người đối với con người.

2.3. Phải có cách dạy, cách bồi dưỡng phù hợp với từng loại đối tượng người học ở trong nhà trường

Phương pháp đào tạo, bồi dưỡng bị chi phối bởi nội dung chương trình và đối tượng giảng dạy. Ở giáo dục mầm non và tiểu học cần bày vẽ trực tiếp. Ở giáo dục trung học cơ sở, trung học phổ thông, cần kết hợp giảng dạy lý luận và tổ chức thực hành. Ở giáo dục đại học có thể lồng ghép trong một số bộ môn khác, một số hoạt động khác. Ví dụ, hoạt động Đoàn, Hội sinh viên, câu lạc bộ đều có thể lồng ghép bồi dưỡng một số nội dung về văn hóa ứng xử.

2.4. Chú trọng thực hành rèn luyện

Không rèn luyện trong thực hành, không thể có được hành vi tự nguyện, tự nhiên trong ứng xử có văn hóa. Từng loại đối tượng, ở từng cấp học khác nhau, sẽ có cách rèn luyện thực hành khác nhau. Ở giáo dục mầm non và tiểu học giáo viên phải thí phạm cụ thể, hướng dẫn các em làn theo; phải kiểm tra hành động thực hành của học sinh; phải có sự đánh giá, khen chê cụ thể. Ở giáo dục đại học, chủ yếu sinh viên tự rèn luyện, tự đánh giá.

2.5. Giáo dục văn hóa ứng xử cho người học qua sự gương mẫu của cán bộ, giáo viên, công nhân viên của nhà trường

Đây cũng là một phương pháp giáo dục đạo đức, giáo dục văn hóa ứng xử quan trọng. Thầy không thể giáo dục học sinh ứng xử có văn hóa nếu thầy có những hành vi

124

thiếu văn hóa. Hiệu quả giáo dục văn hóa ứng xử sẽ rất hạn chế nếu cán bộ, công nhân viên của trường không gương mẫu, không chuẩn mực trong ứng xử.

Như đã nói ở trên, văn hóa học đường là một vấn đề rất quan trọng của một nhà trường, có ảnh hưởng lớn đến chất lượng đào tạo. Để xây dựng được một nhà trường có văn hóa học đường tốt cần nhiều yếu tố từ vật chất đến tinh thần, từ môi trường cảnh quan đến nền nếp giảng dạy, học tập, từ văn hóa ứng xử của giáo viên, cán bộ, công nhân viên đến văn hóa ứng xử của người học,… Và, ứng xử có văn hóa là nội dung mà sự nỗ lực chủ quan của cán bộ quản lý, giáo viên, công nhân viên có thể làm được dù cơ sở vật chất, môi trường,… có thể còn hạn chế. “Đói cho sạch, rách cho thơm”, trong đói nghèo người ta vẫn có thể giữ vững tư cách, đạo đức làm người.

2.6. Phải xây dựng đội ngũ làm công tác đào tạo, bồi dưỡng văn hóa ứng xử trong nhà trường

Khó có được một đội ngũ giáo viên chuyên trách về vấn đề này. Nhưng có thể và cần xây dựng một đội ngũ có khả năng kiêm nhiệm việc đào tạo, bồi dưỡng văn hóa ứng xử cho học sinh, sinh viên. Bất cứ ai trong cán bộ, giáo viên, công nhân viên của một nhà trường, cũng có thể bằng hành vi của mình để làm mẫu cho người học noi theo, nhưng không phải ai cũng có thể giảng dạy, bồi dưỡng lý luận về văn hóa ứng xử cho người học. Muốn làm được điều này, họ cần được đào tạo, bồi dưỡng. Nghĩa là các nhà quản lý giáo dục phải thấy rõ điều này và phải tổ chức đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ phụ trách vấn đề văn hóa ứng xử trong nhà trường.

Đây cũng là một lĩnh vực mà các trường đại học đang tham gia đào tạo nhân lực về chuyên ngành văn hóa có thể phát huy tốt thêm vai trò của mình. Các trường này có thể tham gia đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, giáo viên làm công tác đào tạo, bồi dưỡng văn hóa ứng xử, có thể tham gia biên soạn chương trình, tài liệu giảng dạy về văn hóa ứng xử cho các nhà trường.

2.7. Phối kết hợp giữa nhà trường với gia đình và các tổ chức, các lực lượng xã hội để giáo dục văn hóa ứng xử

Chỉ khi huy động được sức mạnh tổng hợp này thì việc giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh, sinh viên mới có hiệu quả cao, mới có thể xây dựng “môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh” (Luật giáo dục, 2019) một cách vững chắc. Tất nhiên việc làm này không dễ. Cơ quan chủ động phối hợp vẫn là nhà trường.

Trên đây là một số ý kiến của chúng tôi về vấn đề giáo dục văn hóa ứng xử cho người học ở trong nhà trường. Người ta từng nói, nói thì dễ làm thì khó. Nhưng trong hoàn cảnh hiện nay, văn hóa ứng xử trong nhà trường đang có những vấn đề nổi cộm,

125

nên không thể không làm. Một người có văn hóa, trước hết được biểu hiện ở sự ứng xử có văn hóa đối với con người.

TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Luật Giáo dục (2019).

2. Trần Ngọc Thêm (1999). Cơ sở văn hóa Việt Nam. NXB Giáo dục.

3. Đoàn Trọng Thiều (2011), “Giáo dục văn hóa giao tiếp trong nhà trường:

Giáo dục cái tâm, cái đẹp” trong sách Văn hóa giao tiếp trong nhà trường, nhiều tác giả. NXB ĐHSP TP. Hồ Chí Minh.

4. Đoàn Trọng Thiều (2017). “Vai trò của giáo dục gia đình và nhà trường trong việc giải quyết bạo lực học đường” trong sách Nghiên cứu góp phần đổi mới giáo dục và đào tạo, tập 2, nhiều tác giả. NXB ĐHSP TP. Hồ Chí Minh.

5. Viện ngôn ngữ học, Hoàng Phê (chủ biên) (1997). Từ điển tiếng Việt. NXB Đà Nẵng.

126

SỬ DỤNG CA DAO, TỤC NGỮ VÀO GIẢNG DẠY HỌC PHẦN VĂN HIẾN VIỆT NAM

ThS. Trần Thị Lợi – Bộ môn Văn học

Tóm tắt: Học phần Văn hiến Việt Nam là học phần bắt buộc học đối với sinh viên tất cả các ngành thuộc Trường Đai học Văn Hiến. Tuy nhiên, hiện nay học phần này chưa thu hút sự quan tâm đúng mức từ phía người học. Một mặt do đây là môn đại cương nên sinh viên thường có tâm lý xem nhẹ, mặt khác do cách dạy và học hiện nay chưa thực sự phát huy tính chủ động, tích cực của người học… Vì vậy, cần đổi mới phương pháp, đa dạng hình thức dạy học để người học hào hứng, tích cực hơn với môn học. Nhằm giúp sinh viên chủ động, tích cực tham gia vào giờ học, trong quá trình giảng dạy chúng tôi thường lồng ghép một số câu ca dao, tục ngữ có nội dung phù hợp để đưa vào bài giảng của các môn học, điển hình như học phần Văn hiến Việt Nam. Việc sử dụng, ca dao tục ngữ trong dạy học phần Văn hiến Việt Nam đã thu hút được kết quả rất khả quan, các em tích cực đóng góp ý kiến, chủ động trong việc tìm kiếm thông tin và lĩnh hội kiến thức, đặc biệt các em hào hứng hơn với môn học.Vì lẽ đó, trong bài viết này, chúng tôi xin chia sẻ một số biện pháp sử dụng ca dao, tục ngữ và giảng dạy học phần Văn hiến Việt Nam sao cho đạt kết quả cao.

Từ khóa: ca dao, tục ngữ, văn hóa, văn hiến 1. Đặt vấn đề

Trong những năm gần đây, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm đến việc đổi mới giáo dục, xem đổi mới nội dung và phương pháp dạy học là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực. Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học” (Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, 2013). Để thực hiện tốt mục tiêu về đổi mới căn bản, toàn diện mà ngành giáo dục đề ra, thời gian gần đây, chúng ta đang từng bước làm quen với những phương pháp, biện pháp giảng dạy tích cực, vận dụng quan điểm tích hợp, liên môn vào

127

giảng dạy nhằm pháp huy tính chủ động, tích cực của người học, giúp người học hứng thú với môn học. Xuất phát từ mục tiêu đổi mới giáo dục, mỗi giảng viên sẽ vận dụng linh hoạt các kỹ thuật, phương pháp vào trong quá trình giảng dạy sao cho thật hiệu quả.

Để đáp ứng được mục tiêu giáo dục đề ra, trong quá trình giảng dạy, chúng tôi cũng luôn sử dụng đa dạng các phương pháp, kỹ thuật dạy học tích cực vào giảng dạy các học phần nói chung và học phần Văn hiến Việt Nam nói riêng nhằm phát huy tính chủ động, tích cực, sáng tạo của người học.

Văn hiến Việt Nam là một trong những học phần đại cương, bắt buộc học đối với sinh viên Trường Đại học Văn Hiến. Ở học phần này sinh viên sẽ được “cung cấp một hệ thống kiến thức về những giá trị truyền thống của dân tộc như: đạo đức, lối sống, tư tưởng, tôn giáo, nghệ thuật…. của người Việt Nam thông qua: Các khái niệm, nền tảng VHVN; Những vấn đề về bản sắc văn hóa, giá trị truyền thống; Tín ngưỡng; Những danh nhân VN… Từ những giá trị truyền thống tốt đẹp đó, sinh viên cần có thái độ hành vi như thế nào để góp phần giữ gìn, phát huy và tạo nên bản sắc đặc trưng trước ngưỡng cửa của thời đại mới ngày nay” (Đề cương học phần Văn hiến Việt Nam; 2016). Học phần Văn hiến Việt Nam đề cập đến những giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam về

văn hoá trang phục, văn hoá ẩm thực…; về đạo đức, lối sống…; về tín ngưỡng, phong tục; về những giá trị cốt lõi của nền Văn hiến Việt Nam qua các thời kỳ của lịch sử dân tộc… Đây là những nội dung quan trọng mà bất kỳ sinh viên ngành nào cũng cần phải học, cần nắm vững. Thế nhưng, học phần Văn hiến Việt Nam đến nay chưa dành được sự quan tâm đúng mức từ phía người học. Xuất phát từ nhiều lý do, một mặt sinh viên thường có tâm lý thờ ơ với những học phần đại cương, học mang tính đối phó với thi cử, mặt khác cách dạy và học môn học này chưa thật hiệu quả, việc dạy và học còn

“mang tính áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc”, chưa có sự vận dụng linh hoạt vào thực tế, chưa phát huy được “nội lực” của sinh viên khiến giờ học trở nên khô khan, nhàm chán, không tạo sự hứng thú cho người học….

Văn hiến Việt Nam có nội dung phong phú, gắn liền với các giá trị văn hoá của người Việt. Đặc biệt, những nội dung này được ông cha ta đúc kết thành những câu ca dao, tục ngữ gần gũi, quen thuộc với mỗi người dân Việt Nam. Chính vì thế, trong quá trình giảng dạy học phần này, giáo viên có thể lồng ghép những câu ca dao, tục ngữ vào bài học hay yêu cầu các em tìm hiểu trong ca dao, tục ngữ có những câu nào đề cập đến truyền thống văn hoá người Việt, từ đó sẽ giúp các em hứng thú tìm tòi, học hỏi và cũng là cách giúp các em khắc ghi bài học một cách nhanh và hiệu quả hơn. Vì lẽ đó, trong

128

bài viết này, chúng tôi chia sẻ một số kinh nghiệm trong việc “Vận dụng ca dao tục ngữ vào giảng dạy học phần Văn hiến Việt Nam” sao cho hiệu quả.

2. Nội dung

2.1. Vai trò của ca dao, tục ngữ trong giảng dạy học phần Văn hiến Việt Nam Theo Từ điển tiếng Việt (2010) của Hoàng Phê, tục ngữ là “câu ngắn gọn, thường có vần điệu, đúc kết tri thức, kinh nghiệm sống và đạo đức thực tiễn của nhân dân”

(Hoàng Phê; 1995). Còn ca dao là “thơ ca dân gian truyền miệng dưới hình thức những câu hát không theo một điệu nhất định, thường phổ biến theo thể thơ lục bát cho dễ nhớ, dễ thuộc” (Hoàng Phê, 1995).

Ca dao, tục ngữ là những tác phẩm nghệ thuật truyền miệng, là sản phẩm của

“quá trình sáng tác tập thể thể hiện nhận thức, tư tưởng, tình cảm của nhân dân lao động”

về tự nhiên, xã hội, con người…và là “thành trì bảo tồn nền văn hóa dân tộc”.

Từ lâu, ca dao, tục ngữ gắn bó, gần gũi với con người Việt Nam. Ngay từ khi lọt lòng, chúng ta đã nghe những câu ca dao, tục ngữ qua lời ru của bà của mẹ. Lớn lên, ca dao, tục ngữ sẽ là những lời răn dạy chúng ta nên người. Qua ca dao, tục ngữ chúng ta sẽ biết hiểu nhiều hơn về tự nhiên, xã hội, con người Việt Nam. Đặc biệt qua ca dao, tục ngữ chúng ta sẽ thấy được phần nào về phong tục, tập quán của người Việt. Chẳng thế mà trước đây, người ta còn gọi “ca dao là phong dao bởi vì có nhiều bài ca dao đã phản ánh những phong tục, tập quán của từng địa phương, của từng thời đại lịch sử” (Trần Thị Minh Thu, 2015) hay ca dao, tục ngữ được xem “là tấm gương bức xạ hiện thực khách quan của mỗi dân tộc với lối sống, điều kiện sống và những phong tục tập quán riêng”. Như vậy, qua cao dao, chúng ta sẽ thấy được phần nào bức tranh truyền thống văn hoá dân tộc Việt Nam. Điều này thể hiện rõ qua văn hoá trang phục, văn hoá ẩm thực, văn hoá nhà ở hay thể hiện ở vấn đề về tín ngưỡng, phong tục... ở Việt Nam truyền thống. Nắm được nội dung, ý nghĩa của những câu ca dao, tục ngữ là điều kiện thuận lợi để chúng ta vận dụng vào trong thực tế và học tập. Cụ thể hơn chúng ta có thể vận dụng vào học học phần Văn hiến Việt Nam một cách hiệu quả.

Trong quá trình dạy học, việc lồng ghép những câu ca dao, tục ngữ vào bài giảng sẽ giúp người học thấy nội dung môn học gần gũi, quen thuộc với các em hơn. Người học nhận thấy những nét đặc trưng của văn hoá Việt Nam không xa lạ, mà qua câu ca dao, tục ngữ người học có thể nắm được phần nào bản sắc truyền thống văn hoá Việt Nam. Từ đó, người học thêm yêu môn học, tự hào hơn về những truyền thống văn hoá tốt đẹp của Việt Nam và cũng là điều kiện để các em quảng bá văn hoá Việt Nam với bạn bè trong nước và quốc tế. Khi hiểu được giá trị đích thực của văn hoá Việt Nam sẽ

Một phần của tài liệu KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC Đào tạo phát triển nguồn nhân lực chuyên ngành công nghiệp văn hóa trong bối cảnh hội nhập (Trang 122 - 134)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(165 trang)