Giải pháp phát triển nguồn nhân lực lĩnh vực văn hóa trong bối cảnh hội

Một phần của tài liệu KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC Đào tạo phát triển nguồn nhân lực chuyên ngành công nghiệp văn hóa trong bối cảnh hội nhập (Trang 42 - 45)

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, cuốn hút các quốc gia, dân tộc tham gia trong thế vừa hợp tác vừa cạnh tranh, vừa tạo ra cơ hội, vừa đưa lại nhiều thách thức. Nền kinh tế tri thức phát triển mạnh theo chiều sâu, tác động đến cơ cấu và sự phát triển của kinh tế thế giới, mở ra triển vọng mới cho mỗi quốc gia trong phân công lao động toàn cầu, tùy thuộc vào mức độ hội nhập, trình độ thích ứng của từng nền kinh tế.

43

Giao lưu, hội nhập quốc tế về văn hóa, xã hội đang diễn ra thuận lợi, nhanh chóng, nhưng cũng là cuộc đấu tranh gay gắt để duy trì tính đa dạng, bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc. Hội nhập có khả năng tạo ra những biến đổi lớn về diện mạo, đặc điểm, loại hình văn hóa nghệ thuật. Vì vậy, các quốc gia đều nhận thức được vai trò, vị trí hàng đầu của giáo dục, đào tạo, khoa học, công nghệ, đây chính là những nhân tố quan trọng, đáp ứng nhu cầu phát triển đất nước.

Ở nước ta, sự nghiệp CNH, HĐH có thể rút ngắn thời gian so với các nước đi trước, vừa có những bước tuần tự, vừa có những bước nhảy vọt. Bối cảnh đó đặt ra nhiệm vụ phải đẩy mạnh đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, vừa có bản lĩnh chính trị, thấm nhuần bản sắc văn hóa, vừa có năng lực chuyên môn, đáp ứng nhu cầu của xã hội hiện đại, đóng vai trò chủ yếu trong việc nâng cao ý thức dân tộc, tinh thần trách nhiệm, năng lực của các thế hệ. Do đó, để phát triển nguồn nhân lực lĩnh vực văn hóa trong bối cảnh hội nhập quốc tế Việt nam cần đưa ra những giải pháp hữu hiệu nhất, chuẩn xác nhất trong thời gian tới như sau:

(1) Đổi mới cơ chế, chính sách, luật pháp

Xây dựng, hoàn thiện hệ thống khung pháp lý phù hợp chuẩn mực, đạt chuẩn quốc tế, về phát triển nhân lực giữa các cấp đào tạo, hình thức đào tạo và với các nước để tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho phát triển nhân lực nhóm ngành Văn hóa.

Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện khung chính sách và cơ chế tài chính để tăng cường huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực cho phát triển nhân lực nhóm ngành Văn hóa, sử dụng nguồn vốn nhà nước đúng mục đích, trong việc đầu tư cho nguồn nhân lực văn hóa, cần minh bạch hóa các nguồn lực tài chính để sử dụng hiệu quả hơn, tránh đầu tư dàn trải kém hiệu quả. Giảm thu thuế cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực văn hóa đặc thù nhằm tạo cơ hội cho đào tạo nhân tài trong lĩnh vực VHNT hướng tới phát triển ngành công nghiệp văn hóa.

Đổi mới và hoàn thiện chính sách sử dụng nhân lực nhóm ngành Văn hóa, Thể thao trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường để thúc đẩy phát triển nhân lực, bồi dưỡng và tôn vinh nhân tài, gắn đào tạo với sử dụng nhân lực, gắn thụ hưởng với cống hiến tài năng và kết quả, hiệu suất làm việc.

(2) Về công tác đào tạo phát triển nguồn nhân lực lĩnh vực văn hóa trong bối cảnh hội nhập quốc tế

44

Đối với người tham gia đào tạo trực tiếp như: giảng viên, nghiên cứu viên, huấn luyện viên… cần được tăng cả số lượng và chất lượng, để đáp ứng nhu cầu thực tiễn trong nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực lĩnh vực văn hóa. Phấn đấu những năm tiếp theo người tham gia đào tạo có tới 70% đạt chuẩn quốc gia thành thạo chuyên môn nghiệp vụ, giỏi ngoại ngữ, luôn học tập tiếp thu cái mới, văn minh hiện đại ở các nước tân tiến để phục vụ công việc đào tạo.

Cần thiết thay đổi, bổ sung tài liệu giảng dạy, phương pháp giảng dạy hiện đại, hướng dẫn người học tự học và tìm tòi sáng tạo không ngừng để mở mang kiến thức, trau dồi đạo đức nghề nghiệp…

Quan điểm giáo dục duy vật biện chứng cho chúng ta thấy, muốn nâng cao chất lượng giáo dục một cách toàn diện thì giáo viên buộc phải thay đổi phương pháp giảng dạy truyền thống, hình thành phương pháp giảng dạy theo tiêu chí: Giáo viên là chủ thể hữu hạn, để học sinh biết rằng, kiến thức của thầy cô cũng chỉ có hạn. Thầy cô không phải là hóa thân của chân lý. Mục đích là để học sinh có nhận thức về tinh thần phê bình và tự phê bình, từ đó hình thành thói quen học tập trong môi trường sáng tạo. Giáo viên trở thành người hướng dẫn học tập thay vì truyền đạt kiến thức.

Nghiên cứu tiếp thu những kinh nghiệm thành tựu quý báu của các nước xây dựng chương trình đào tạo nội dung môn học. Liên kết với các nước trong đào tạo tại Việt Nam và cử cán bộ giảng viên, sinh viên đi học tập, nghiên cứu và thực tập ở nước ngoài. Tăng cường, trao đổi giảng viên, sinh viên Việt Nam với giảng viên, sinh viên các nước tiên tiến.

Đề xuất những chế độ chính sách khắc phục sự cào bằng trong kinh phí đào tạo các ngành văn hóa, những ngành VHNT đặc thù phải có cơ chế chính sách phù hợp với nhu cầu thực tiễn, kết hợp với xây dựng cơ chế lựa chọn nhân tài trong tuyển sinh sử dụng nhân tài phù hợp với các lĩnh vực văn hóa trong bối cảnh hội nhập quốc tế.

Tiếp tục mở rộng các cơ sở đào tạo để phát triển nguồn nhân lực lĩnh vực văn hóa, đặc biệt các trung tâm huấn luyện đa năng hiện đại, cơ sở vật chất tốt nhất tại các thành phố lớn và các tỉnh.

Đào tạo nguồn nhân lực lĩnh vực văn hóa cần có khung đào tạo thực tế kết hợp giữa lý thuyết và thực hành, để người học sau khi đào tạo có thể làm việc được ngay mà không cần các công ty, doanh nghiệp, cơ quan… đào tạo lại.

45

Khuyến khích, đầu tư cho các hình thức nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ nhằm phát triển nguồn nhân lực lĩnh vực văn hóa, hiện tại ở nước ta trung tâm nghiên cứu ứng dụng văn hóa chỉ có ở hai thành phố lớn là Hà Nội và TPHCM.

Chiêu mộ các nhà khảo cứu văn hóa dân gian, nghệ nhân lành nghề, nghệ nhân dân gian tuy không có học hàm học vị nhưng họ có đầy đủ kiến thức thực tế và kỹ năng để truyền đạt kiến thức thực tế cho sinh viên, học sinh… như nghệ nhân dân gian với các dòng nhạc dân gian, nghệ nhân với các nghề mỹ thuật thủ công, nghệ nhân biểu diễn.

(3) Thực hiện xã hội hóa phát triển nguồn nhân lực lĩnh vực văn hóa trong bối cảnh hội nhập quốc tế

Mục đích xã hội hóa là tạo cơ hội cho các cá nhân, doanh nghiệp trong và ngoài nước đầu tư vốn, chất xám, ý tưởng, tài năng, kỹ năng vào các dự án, hoặc một chương trình, một lễ hội, hoặc di sản… để góp phần phát triển nguồn nhân lực văn hóa và tạo ra lợi nhuận góp phần phát triển kinh tế. Sự hợp tác này với mục đích hai bên cùng có lợi tạo ra sản phẩm văn hóa phục vụ đối tượng thụ hưởng văn hóa và mang lại giá trị tinh thần và vật chất cho xã hội.

Cải thiện môi trường pháp lý, các thủ tục luật pháp rườm rà, cứng nhắc để thu hút đầu tư nước ngoài vào các ngành văn hóa cần nhiều vốn, kỹ thuật, kỹ năng, kỹ xảo như:

điện ảnh, ca nhạc, múa, di sản…vừa giúp các cá nhân, công ty, doanh nghiệp có vốn vừa tạo điều kiện giao lưu học hỏi kỹ năng, kỹ xảo, kỹ năng làm việc, tiếp cận các phương tiện công nghệ hiện đại phát triển nghề nghiệp, và đó cũng là phương án giúp nguồn nhân lực văn hóa phát triển kỹ năng nghề nghiệp tốt nhất, tiết kiệm chi phí đào tạo.

Một phần của tài liệu KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC Đào tạo phát triển nguồn nhân lực chuyên ngành công nghiệp văn hóa trong bối cảnh hội nhập (Trang 42 - 45)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(165 trang)