Nỗi “khắc khoải không gian”

Một phần của tài liệu Cái tôi trữ tình trong thơ huy cận (Trang 68 - 71)

CHƯƠNG 2. NÉT ĐẶC SẮC CỦA CÁI TÔI TRỮ TÌNH THƠ HUY CẬN

2.4. CẢM THỨC KHÔNG-THỜI GIAN TRONG THƠ HUY CẬN

2.4.1. Nỗi “khắc khoải không gian”

Nhà phê bình văn học Đỗ Lai Thúy, trong tập phê bình văn học “Mắt Thơ” đã có một nhận xét rất tinh tế rằng ở thơ Huy Cận là một cảm giác “nhớ không gian”. Nếu Xuân Diệu bị ám ảnh về thời gian, nên luôn “Vội vàng” thì Huy Cận có một nỗi ám ảnh với không gian cũng không kém phần “khắc khoải”. Ai đã từng thưởng thức những thơ Huy Cận, nhất là những tác phẩm thơ trong “Lửa thiêng” đều nhận ra ở đó là một không gian mênh mông, quạnh vắng và lạnh giá. Đó cũng là điều mà cái tôi trữ tình trong thơ ông luôn thổn thức và “khắc khoải” ám ảm bởi không gian nhiều đến vậy. Không gian trong thơ Huy Cận không phải là một không gian có thể đo đếm được mà là sự vô tận, vĩnh hằng của vũ trụ. Tâm trạng, cảm giác của người thi sĩ lúc nào cũng hòa gắn với không gian, nghĩa là khi vui, buồn, cô đơn đều có không gian theo cùng. Qua không gian, thi sĩ chiêm nghiệm, triết lí về cuộc đời, về tình người. Không gian đó vĩnh hằng, bất tận, có thể là quá khứ xa xưa, là thiên đường mộng ảo, là trời mây bất tận với những không gian đa chiều cao – thấp, trên – dưới, ngang – dọc, đẹp – xấu,… Cái tôi trữ tình lúc nào cũng tràn ngập một nỗi “nhớ” không gian và hòa nhập cả tâm hồn lên tận “chơi vơi” không tận để được ngắm nhìn không gian: “Chở hồn lên tận chơi vơi/

Trăm chèo của Nhạc, muôn lời của Thơ”(Trông lên). Con người thường cảm thấy không gian trở nên quạnh buồn hơn qua những cơn mưa. Viết về mưa, cái tôi trữ tình trong thơ càng trở nên “khắc khoải” “nhớ nhung” da diết về không gian: “Mưa giong buồn sợi xuống lơi lơi/ Lạnh của không gian thấm xuống người/ Rơi rớt về đây muôn hướng gió/ Lòng sầu vạn dặm gió mưa phơi”(Mưa).Đó là cảnh trời mưa khiến lòng người thêm cảm giác lạnh lẻo, cô đơn, còn cũng là cảnh mưa nhưng lại khiến thi nhân “nhớ” đến day dứt tâm

hồn và lạnh lẻo, cô đơn đến vô cùng:“Đêm mưa làm nhớ không gian/ Lòng run thêm lạnh nỗi hàn bao la”(Buồn đêm mưa).

Nỗi “nhớ không gian” qua lời thơ được hiểu là một sự cảm nhận tinh tế về không gian vật lí, không gian có thật, nhưng trong không gian ấy con người lại gợi lên cái cảm giác như đánh mất một điều gì, hình ảnh của không gian như không nắm được, không giữ được càng trở nên vô định khiến lòng người chơi vơi hơn. Không gian như một thực thể cầm, nắm được qua ảo giác của người thi sĩ: “Tôi luồn tay nhỏ hứng không gian/ Với gió xa xôi lạnh lẽo ngàn/ Tôi để cho hòn theo với lá/ Xiêu xiêu cúi nhẹ trút buồn tràn”(Mưa). Đó cũng là cảm giác của bao người khi bắt gặp tâm hồn mình trong không gian, đó có thể là hình ảnh một ánh trăng đẹp trên bầu trời bao la, mà ta đi trăng cũng theo cùng. Cảm giác đó là có thực nhưng để vớ tới trăng, vớ tới “hứng”

lấy ánh trăng thì không thể. Cái tôi trữ tình trong thơ Huy Cận lúc này cũng đang thể hiện cái cảm giác ấy “tôi luồn tay nhỏ hứng không gian”. Liệu có

“hứng” được chăng? Và một điều tất yếu là không bao giờ được, bởi vậy, thi nhân lại cảm thấy buồn, thấy lạnh lẽo và xui theo dòng chảy của không gian để truốt “nỗi buồn”, một nỗi buồn ngập tràn vào đó.

Nói về nỗi buồn khắc khoải không gian trong thơ Huy Cận, không ai có thể hiểu một cách sâu sắc và thấu đáo như nhà thơ Xuân Diệu, ông từng nhận định: “Thơ Huy Cận không được vui. Âu cũng là một sự tự nhiên của đất trời:

hàng phi lao đứng bên sông xanh kia, gió xa thổi vào, cứ tự nhiên phát ra những lời rầu rĩ. Tại phi lao buồn hay tại gió buồn. Tại gió buồn hay chỉ tại gió bay qua biển cả, thấy nhiều không gian quá mà sinh ra bâng khuâng?

Làm nên điệu buồn thương duyên cớ vốn là biển cả đó thôi; mênh mông bao giờ cũng buồn; biển ra chân trời rồi biển tiếp với đại dương, biển càng sầu to vì biển quá rộng lớn” [45]. Đứng trước cái rộng lớn con người bao giờ cũng buồn, bởi sự nhỏ bé của mình càng trở nên nhỏ bé và lẻ loi hơn, cái tôi Huy

Cận vì thế càng chìm sâu vào cảm thức mênh mông của không gian để được cố nắm lấy, cố chiếm giữ và trò chuyện, tình tự, tâm sự với không gian.

Nỗi “khắc khoải” không gian trong thơ Huy Cận trước Cách mạng thường nghiêng về “nỗi buồn, “nỗi nhớ” với không gian của vũ trụ bí ẩn, rợn ngợp. Sau Cách mạng, sự “khắc khoải” về không gian trong thơ ông nghiêng về không gian trần thế, không gian tự nhiên gắn bó với hình ảnh của làng quê, nông thôn có hình ảnh của khu vườn, nhà cửa, con sông, bến nước,….Và nỗi buồn cô đơn rợn ngợp của thi sĩ trong không gian giờ cũng được thay bằng những hình ảnh mới, tươi tắn hơn. Nhưng cũng ở không gian trần thế này, trước cách mạng qua tập Lửa thiêng của Huy Cận, người đọc nhận thấy ở đó còn là sự “khắc khoải’ rất lớn về không gian trong lòng người thi sĩ. Huy Cận đã rất độc đáo khi viết nên câu thơ chứa không gian của tự nhiên nhưng thấm một nỗi buồn lan tỏa mọi cỏ cây, cảnh vật “Nắng chia nửa bãi, chiều rồi/

Vườn hoang trinh nữ xếp đôi lá rầu”(Ngậm ngùi). Cả một khu vườn với loài hoa trinh nữ sắp khép mình trong nỗi buồn khi chiều về để con người được mộng mơ trong tình yêu đầy âu yếm, ảo mộng: “Em ơi! Hãy ngủ... anh hầu quạt đây/ Lòng anh mở với quạt này/ Trăm con chim mộng về bay đầu giường” (Ngậm ngùi). Hay như không gian của con đường, dòng sông trong thơ ông lúc bấy giờ cũng tràn ngập cõi mộng, với con đường thơm, với một khúc sông có khi chỉ được ngắm nhìn từ một bãi bờ nào đó. Không gian vì thế cũng trở nên ảo mộng hơn, lung linh và huyền bí hơn: “Người cùng tôi đi dạo giữa đường thơm/ Lòng giắt sẵn ít hương hoa tưởng tượng”(Đi giữa đường thơm). Có thể nói nỗi “nhớ không gian, giao tiếp không gian và khát vọng cao nhất của chủ thể trữ tình trong thơ Huy Cận là chiếm lĩnh không gian như một đối tượng thẩm mĩ” [46, tr.155].

Con người như muốn hòa quyện với không gian làm một, đó cũng là cái tôi “khắc khoải” về không gian ta thường gặp ở thơ trung đại. Và đến với

Huy Cận, nỗi “khắc khoải’ ấy lại càng mãnh liệt, bao trùm và xuyên suốt trong cuộc đời sáng tác thơ của ông.

Một phần của tài liệu Cái tôi trữ tình trong thơ huy cận (Trang 68 - 71)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(124 trang)