Ngôn từ đậm dấu ấn cổ điển

Một phần của tài liệu Cái tôi trữ tình trong thơ huy cận (Trang 86 - 91)

CHƯƠNG 3. NHỮNG PHƯƠNG THỨC HÌNH THÀNH NÊN CÁI TÔI TRỮ TÌNH THƠ HUY CẬN

3.2. NGÔN TỪ TRONG THƠ HUY CẬN

3.2.1. Ngôn từ đậm dấu ấn cổ điển

Ngôn ngữ thơ thể hiện tư duy nghệ thuật của tác giả. Để làm nên những tác phẩm thơ có giá trị, đòi hỏi người nghệ sĩ phải có sự lựa chọn, sáng tạo ngôn ngữ cho phù hợp. Huy Cận trong quá trình sáng tác thơ cũng đã lựa chọn, trăn trở trên từng câu chữ để tìm ra ngôn ngữ phù hợp nhằm hoàn thiện một tác phẩm thơ. Dù là một tác giả Thơ mới với những cách tân lớn ở nội dung và hình thức thơ, nhưng phảng phất trong thơ ông vẫn chịu ảnh hưởng rất lớn ở thơ cổ điển, thơ Đường. Ở phương diện hình thức, nhà thơ đã tiếp thu một cách tài tình ngôn ngữ thơ Đường để sáng tạo nên những tác phẩm man mác hương vị của Đường thi. Thơ ông luôn chứa đựng hai vẻ đẹp, vừa

cổ kính vừa hiện đại. Và chất liệu tạo nên hai vẻ đẹp đó chính là ở ngôn ngữ nghệ thuật trong thơ.

Vẻ đẹp cổ kính trong thơ Huy Cận được biểu hiện đậm nét qua ngôn ngữ đậm chất Đường thi. Ngôn ngữ thơ Đường trong thơ của ông được biểu hiện dễ nhận thấy nhất qua hình tượng không gian vũ trụ và thời gian vũ trụ.

Nhà thơ thường hướng tới không gian qua những hình ảnh ẩn dụ tượng trưng quen thuộc trong thơ Đường như: dòng sông, trăng, mây, gió, liễu, đào, cúc, bến, hoa, …Chính những hình ảnh này đã tạo nên cho bài thơ, câu thơ ý nghĩa biểu trưng sâu sắc, mà lại hàm súc, cô đọng, lời ít mà ý nhiều. Với hình ảnh của ánh trăng, ta bắt gặp rất nhiều trong thơ Huy Cận khi thể hiện nỗi buồn về cuộc đời, về kiếp người, và hình tượng không gian có khi gắn với thời gian làm tăng thêm nỗi buồn trong lòng thi nhân: “Đêm mơ lay ánh trăng tàn/ Hồn xưa, gửi tiếng thời gian, trống dồn” (Chiều xưa). Hai câu thơ gợi ta nhớ hình tượng ánh trăng hiện lên trong một khung cảnhtoàn chết chóc, tang thương của chiến trường qua câu thơ Đường: “Đêm khuya qua bãi chiến trường/ Ánh trăng lạnh soi trên xương trắng”. Với Huy Cận là trăng “tàn”, tức là trăng không còn soi sáng, không còn đẹp lung linh nữa, còn trong lời thơ Đường ta lại thấy ánh trăng cũng mang cảm giác “lạnh” khi soi chiếu cảnh chết chóc.

Cả hai hình tượng ánh trăng ở đêy đều buồn. Xưa nay, đứng trước ánh trăng, lòng người thi sĩ vốn đã đa sầu, đa cảm nay lại thêm dễ rung động hơn, đó là sự rung động của Lý Bạch khi nghĩ về sự trôi chảy của thời gian trước sự vô hạn của không gian: “Người nay chẳng thấy trăng thời trước/ Người trước, trăng nay dọi có lần/ Người trước người nay dòng nước chảy/ Cùng trông trăng sáng đều như vậy”. Huy Cận cũng gặp chính hồn mình trong thơ Lý Bạch khi thổn thức, khắc khoải về không gian vô hạn và thời gian vô định:

“Trăng phơi đầu bãi, nước dồn mênh mang”. Trương Nhược Hư thể hiện sự hài hòa giữa trăng và người hay đúng hơn là giữa con người và thiên nhiên

cũng có câu: “Trong suốt trời sông suốt một màu/ Trên sông vằng vặc một trăng cao/ Ai người đầu đã trông trăng ấy?/ Trăng ấy soi người tự thuở nao?”.

Hình ảnh ánh trăng tượng trưng cho thiên nhiên tạo vật giữa trời đất mênh mông và nó đã đi vào thơ Huy Cận cũng đẹp và dịu dàng trong sáng không kém gì thơ Đường: “Có trăng mà lại có mưa/ Như trên lụa bạch thêu thùa kim sa/ Hoàng lan trước ngõ sa đà/ Cành đưa nét đậm, lá nhòa mực phai/ Những e phí đẹp của trời/ Ta nằm không ngủ trông vời mưa trăng” (Đêm trăng mưa).Đọc những câu thơ này ta lại nghĩ đến Trương Nhược Hư cũng nói về vẻ đẹp bất diệt của trăng: “Người cứ đời đời sinh nở mãi/ Trăng đã năm năm sông nước giãi/ Soi ai nào biết được lòng trăng/ Chỉ thấy sông dài đưa nước chảy”.Để nói về không gian và thời gian vũ trụ buồn, quạnh vắng, Huy Cận còn mượn hình ảnh của bến đò, dòng sông như ta vốn thường gặp trong thơ cổ: “Buồn gieo theo gió ven hồ/ Đèo cao quán chật, bến đò lau thưa”, đến đây ta cũng bắt gặp trong thơ Nguyễn Trãi hình ảnh của con đò: “Con đò gối bãi suốt ngày ngơi”. Đó là khi nói đến không gian, còn khi nói đến thời gian, thơ Đường thường thể hiện nhiều nhất là buổi chiều, chiều tàn, xế chiều, hay cảnh khuya, đêm khuya,… Trong thơ Huy Cận, ảnh hưởng của thơ Đường ở thời gian tựa như trong thơ Đường luật của Bà Huyện Thanh Quang: “Trời chiều bảng lảng bóng hoàng hôn/ Tiếng ốc xa đưa lẫn trống đồn”(Buổi Chiều Lữ Thứ), còn với Huy Cận: “Vàng đẹp quá, giăng tơ và xối chỉ/ Trời mênh mông nên rất đỗi nhớ nhung/ Chiều buồn buồn giữa hương sắc tưng bừng”(Họa điệu). Có thể thấy rằng, nhờ sự lựa chọn và tổ chức hình ảnh mang tính ẩn dụ cao mà từng trang thơ ông đều chứa vẻ đẹp của một tư duy sâu sắc. Ngôn ngữ thơ vì thế cũng cô đọng, hàm xúc hơn. Người đọc khó quên được những câu thơ tượng trưng như: “Mây phiêu lưu cũng không ngừng bóng/ Cát nổi đòi cơn trận tủi phiền”(Đảo). Gợi cho ta nhớ đến câu thơ của Nguyễn Du: “Cát vàng cồn nọ, bụi hồng dặm kia”.

Trong thơ Huy Cận, người đọc thường gặp những phạm trù đối lập giữa quá khứ- hiện tại, sống – chết, cõi tĩnh – cõi mộng, động – tĩnh,… để thể hiện những triết lí về cuộc đời, về con người. Đó cũng là nét đặc trưng lớn mà ta thường gặp trong thơ Đường. Trần Tử Ngang từng thể hiện sự đối lập giữa cái mênh mông vô hạn của không gian với cái hữu hạn của đời người qua lời thơ:

“Trông lại trước không thấy người xưa, trông lại sau không thấy ai đến, nghĩ trời đất lâu dài vô cùng, một mình lệ rơi đau xót”. Còn Huy Cận thì sự đối lập của vũ trụ bao la và mãi mãi “hồn nhiên”, “vô tâm” bất duyệt với đời người ngắn ngủi cũng đã tạo nên trong ông nhiều nỗi niềm trăn trở, suy tư: “Bãi biển cuối hè dần vắng lặng/ Vô tâm biển vẫn đẹp tưng bừng/ Mai đây ta vắng, đời không vắng/ Vũ trụ điềm nhiên đẹp dửng dưng”(Bãi biển cuối hè).Bài thơ mới đọc lên người đọc sẽ thấy rất hiện đại, thế nhưng với những ngôn ngữ gợi một không gian như vắng vẻ, có chút gì buồn vui lẫn lộn như trong thơ xưa. Ở đây, tác giả đã sử dụng các từ láy “vắng lặng”, “dửng dưng” với câu thơ đối lập giữa hai hình ảnh “ta vắng >< đời không vắng”. Đó là sự đối lập giữa có và không, giữa tồn tại và mất mà ta cũng thường gặp ở người xưa tạo nên một nét đẹp cổ kính, trầm buồn.

Trong thơ Huy Cận ta còn gặp sự đối lập giữa quá khứ - hiện tại ngay trong lời tự vấn: Về đâu thiếu nữ còng vai mạnh/ Quá khứ, tương lai gánh trước sau?”(Xuân hành).Hay sự đối lập trong câu: “Thuyền về nước lại sầu trăm ngã/ củi một cành khô lạc mấy dòng”, hình ảnh “thuyền về” – “nước lại”

đối lập nhau khiến cho nỗi buồn của con người càng trở nên buồn hơn, cô đơn hơn. Khi nói đến sự ảnh hưởng của thơ Đường trong thơ Huy Cận, không ai có thể quên được bài thơ Tràng giang. Bài thơ là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa thơ cổ điển và thơ hiện đại. Trong sự kết hợp đó, yếu tố ngôn ngữ góp phần quan trọng làm cho bài thơ hay hơn, hấp dẫn hơn. Vẻ đẹp cổ điển của bài thơ hiện ra qua các thi liệu quen thuộc trong Đường thi như: sông, trời,

nắng, và cuộc sống con người thì buồn tẻ, chán chường, mọi thứ như tan rã, chia lìa, đau thương. Chỉ với một khổ thơ trong bài thơ, ta đã thấy được ở đây

“ngồn ngộn” những ngôn ngữ của Đường thi:“Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu/

Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều/ Nắng xuống, trời lên sâu chót vót/ Sông dài, trời rộng, bến cô liêu”. Bút pháp chấm phá với hình ảnh của cánh chim, của mây và cách dùng từ “đùn” trong câu thơ: “Lớp lớp mây cao đùn núi bạc/

Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa”cũng gợi người đọc nhớ đến câu thơ của Đỗ Phủ: “Mặt đất mây đùn cửa ải xa”. Huy Cận đã vận dụng rất tài tình động từ “đùn”, khiến mây như chuyển động, có nội lực từ bên trong, từng lớp, từng lớp mây cứ đùn ra mãi. Đây cũng là một nét thơ đầy chất hiện đại, bởi nó đã vận dụng sáng tạo từ thơ cổ điển quen thuộc. Toàn bài thơ tác giả đã sử dụng hệ thống từ láy gợi âm hưởng cổ kính “tràng giang”, “điệp điệp”,

“song song”, “lơ thơ”, “đìu hiu”, “chót vót”, “mênh mông”, “lặng lẽ”, “lớp lớp”, “dợn dợn”. Cái tôi trữ tình thấm đẫm chất cổ điển ấy thể hiện nỗi nhớ quê hương da diết khi mà “Lòng quê dờn dợn vời con nước/ Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”. Đến đây, người đọc bắt gặp một Thôi Hiệu với hình ảnh “khói sóng” làm cho nhà thơ trào dâng niềm nhơ quê hương da diết:Quê hương khuất bóng hoàng hôn/ Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai”. Ở Huy Cận, nét đẹp cổ điển còn hòa lẫn trong vẻ đẹp của hiện đại, câu thơ đọc lên nghe có vẻ buồn buồn, da diết như thơ xưa nhưng nỗi nhớ, tình yêu quê hương trong nhà thơ mạnh mẽ hơn, cháy bỏng hơn khi “không khói”, không một điều gì gợi lên cũng khiến nhà thơ nhớ về quê hương.

Dù là một nhà thơ hiện đại, với những cách tân lớn để làm nên những vẻ đẹp mới mẻ cho thi ca, nhưng ở thơ Huy Cận vẫn mang đậm dấu ấn của ngôn ngữ Đường thi. Dấu ấn ấy đã tạo nên cho thơ ông một giá trị lớn với ngôn ngữ súc túc, cô đọng, hình ảnh thơ mang ý nghĩa tượng trưng, ước lệ sâu xa. Mỗi lời thơ, câu thơ đều gợi cho ta nhớ đến vẻ đẹp của ngôn ngữ thơ xưa

vốn rất nghiêm ngặt, và lựa chọn rất kỹ lưỡng trong từng từ ngữ để làm nên một tác phẩm thơ chứ không đơn giản như kiểu làm thơ mà ta thường gặp ở thời nay ở những nhà thơ chuyên lạm dụng ngôn ngữ một cách sáo rỗng trong khi cái tâm, cái tình thì “rỗng tuếch”.

Một phần của tài liệu Cái tôi trữ tình trong thơ huy cận (Trang 86 - 91)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(124 trang)