Cảm thức “thời gian bất định”

Một phần của tài liệu Cái tôi trữ tình trong thơ huy cận (Trang 71 - 77)

CHƯƠNG 2. NÉT ĐẶC SẮC CỦA CÁI TÔI TRỮ TÌNH THƠ HUY CẬN

2.4. CẢM THỨC KHÔNG-THỜI GIAN TRONG THƠ HUY CẬN

2.4.3. Cảm thức “thời gian bất định”

Thời gian là một phạm trù triết học, có mối quan hệ biện chứng với không gian, là nơi chứa đựng sự vật, đồng thời cũng là một đơn vị đo lường xác định sự tồn tại, vận động và phát triển của sự vật. Theo Từ điển thuật ngữ văn học: “Thời gian nghệ thuật thể hiện sự tự cảm thấy của con người trong thế giới” [25, tr.322]. Thời gian nghệ thuật được cảm nhận qua cái nhìn chủ quan của con người. Xưa nay, trong thơ văn ta thấy người nghệ sỹ bao giờ cũng thổn thức, khắc khoải khôn nguôi về sự trôi chảy của thời gian. Với Huy Cận, thời gian trong thơ ông “vừa vận động vừa ổn định qua các thời kỳ.

Trước cách mạng, thời gian trong thơ ông in đậm dấu ấn vũ trụ, sau cách mạng, nhà thơ nghiêng về thời gian lịch sử xã hội và thời gian sinh mệnh cá nhân”. Có thể nhận thấy ở thơ Huy Cận là sự ám ảnh không nguôi về thời gian, thời gian bất định, luôn vận động không ngừng như một quy luật tất yếu của tự nhiên trong sự mâu thuẫn của thời gian “đứng yên”. Quy luật ấy cũng mang theo tâm trạng của con người với bao buồn vui về cuộc đời: “Đời mất về đâu, hỡi tháng, năm?/ Xuân không mọc nữa với trăng rằm!/ Chẳng bao lâu ngủ sầu trong đất/ Vĩnh viễn mùa đông lạnh chỗ nằm”. Nhà thơ như thốt lên lời than thở trước sự ra đi của thời gian, của tháng năm khiến cho cuộc đời cũng trôi mãi. Một nỗi buồn thấm sâu vào thời gian khi thi nhân nhận ra rằng mùa xuân – mùa của tình yêu, tuổi trẻ không còn nữa “xuân không mọc nữa”.

Thay vào đó là sự tồn tại “vĩnh viễn của mùa đông lạnh giá”. Đó cũng là nỗi buồn khôn nguôi của người nghệ sỹ về cuộc đời, về sự hữu hạn của đời người trước sự vĩnh hằng của vũ trụ. Thời gian như một quy luật không thể thay đổi, hết ngày lại đêm, cứ thế vô hạn, thế nhưng cuộc đời con người là hữu hạn, mấy ai có thể thoát khỏi quy luật “sinh, lão, bệnh, tử” ở đời. Đó cũng là niềm

trăn trở lớn trong Huy Cận, ông yêu và khát khao có được một tình yêu, một cuộc đời vĩnh cữu để có thể cống hiến hơn nữa cho cuộc đời và tận hưởng tất cả những hương vị đắng, cay, ngọt bùi nhất của cuộc sống, của tình yêu. Tình yêu của ông cũng không kém phần mãnh liệt như Xuân Diệu:“Mùa xuân vĩnh viễn em ơi!/ Trăm hoa chúm chím gọi mời đôi ta/ Mới gần mà đã cách xa/ Giá anh nuốt được thân ngà em yêu/ Trong anh mỗi sáng mỗi chiều/ Có em, anh được thương nhiều em thương” (Yêu nhau nhớ mấy cho vừa). Đến đây, ta không thể quên câu thơ của Xuân Diệu khi khát khao “không biết bao cho vừa” với tình yêu cháy bỏng, mãnh liệt trong thi nhân: “Hôn em ngàn thuở chưa xuê/ Ấp iu da thịt, gắn kề tâm linh”(Hôn). Còn với Huy Cận, chiếc hôn nồng nàn cũng không kém phần mãnh liệt và đằm thắm, dịu ngọt như khu vườn khô cằn những ngày nắng hạn gặp cơn mưa đầu mùa: “Em hôn trên má, anh nằm yên/ Chưa dám hôn em: mạch mới liền/ Như trận mưa rào vườn thấm nhận/ Mưa hôn da thịt thấm thần tiên”(Chiếc hôn). Nỗi khắc khoải về thời gian luôn thường trực trong Huy Cận, một nhà thơ đa cảm, đa sầu, yêu cuộc sống đến cháy bỏng, da diết. Có lúc nhà thơ thầm trách thời gian sao trôi nhanh quá, sao không đứng lại, không cho con người được trẻ lâu hơn, sống lâu hơn, được ở bên cuộc đời nhiều hơn:“Luật của tế bào chẳng để ta/ Trẻ hoài với nước với mây qua/ Với làn gió sớm mơn cành lá/ Với ánh trời xanh ngọc bốn mùa”(Sống một đời). Nhưng không vì quá yêu cuộc đời mà nhà thơ trở nên “tham lam” và quên đi những người xung quanh. Thi nhân với trái tim thương yêu hết thảy vạn vật, con người luôn biết quan tâm, lo lắng cho từng thế hệ mai sau và biết chấp nhận quy luật của tạo hóa:“Sống một đời, ta ham vạn đời/ Bởi vì thế giới đẹp, em ơi!/ Nhưng vì đẹp quá ta giao lại/ Chớ để người sau phải thiệt thòi”(Sống một đời). Đến đây, ta chợt nhớ đến rất nhiều thi sĩ cũng mến yêu “chưa đã”, “chưa bao giờ biết đủ” bởi họ ý thức được sự ngắn ngủi của thời gian. Nếu Huy Cận “sống một đời, ta ham vạn đời” thì

Ngô Minh, nhà thơ hiện đại cũng từng viết “Chớp mắt đà sáu tư/ Mà mến yêu chưa đã” (Mừng tuổi bạn thơ già). Hay Lâm Thị Mỹ Dạ - một nữ thi sĩ trong thơ hiện đại cũng ước mong được giữ lấy mùa xuân mãi mãi như giữ lấy tuổi trẻ, cuộc đời này với biết bao tươi đẹp, bởi thời gian không đứng chờ đợi ai:

“Có một bông đào sau xuân mới nở/ Có một bông đào muốn níu lại mùa xuân”. Còn với Huy Cận, thời gian cũng được níu giữ qua hình ảnh của cảnh vật khi nhà thơ tự hỏi về cuộc đời: “Về đâu những bước thời gian đã/ In dấu mong manh trên cánh đào?/ Về đâu hạt bụi vàng thao thức/ Theo bánh xe quay vòng khát khao?”.Nếu ở thơ hiện đai, ta gặp sự trăn trở của thi nhân có khi chỉ là thoáng qua thì quay trở về thời Thơ mới, ta lại bắt gặp một nỗi buồn, khắc khoải đến da diết lòng người và thường trực của các nhà thơ khi nhắc đến sự trôi đi một cách vô tình của thời gian. Đó là lời tâm sự như khuyên nhũ, động viên người yêu đừng tiếc gì thời gian đã qua và muốn trong thơ mình chỉ có những cung bậc của niềm vui, hạnh phúc nhưng càng khuyên lại càng buồn hơn trước thực tại xã hội: “Em muốn thơ em hoàn toàn vui/

Đừng sầu lá rụng, tiếc hoa rơi/ Đừng than thở, tiếc ngày qua chóng/ Ước nguyện đành không đạt nguyện rồi!” (Mảnh hồn thơ). Còn đối với Huy Cận nỗi buồn đó chỉ có thể bắt gặp trong thơ ông trước cách mạng như một nỗi buồn về thời gian làm mờ nhạt đi bao điều tốt đẹp nhất của đời người bởi hiện thực xã hội với bao cảnh đau lòng diễn ra trước mắt thi nhân. Thời gian vì thế cũng như chính tâm trạng của con người, hay nỗi buồn của con người đã thấm tận vào thời gian, in hằng lên dấu thời gian để rồi suốt đời con người mãi đi tìm nhau: “Đứng lại giùm, tôi đã mỏi theo sau/ Ôi! nỡ nào suốt đời đuổi bắt nhau”(Cầu khẩn). Khi yêu nhau con người đợi chờ nhau, dù cho mòn mỏi dù cho mãi mãi vẫn đợi chờ. Cái tôi trữ tình nhà thơ luôn thổn thức yêu đương, luôn khát khao có được tình yêu. Bởi vậy, cái tôi ấy luôn khắc khoải về thời gian, và ta biết rằng khi yêu một người ta có thể chờ đợi và cảm thấy hạnh

phúc vì điều đó, nhưng cũng buồn và lo lắng vì sợ rằng tình yêu ấy sẽ không như mong đợi. Đó cũng là cảm giác, là tâm trạng của người đang yêu, hơn ai hết thi sĩ hiểu rất rõ điều này: “Thuở chờ đợi, ôi, thời gian rét lắm/ Đời tàn rơi cùng sao rụng canh thâu/ Và trăng lu xế nửa mái tình sầu/ Gió than thở biết mấy lời van vỉ?”(Tình tự). Và thi nhân chợt buồn khi biết rằng tình yêu là vĩnh cứu, vô tận, yêu đến chảy bỏng, rạo rực nhưng thời gian, cuộc sống thì cũng không có hạn, cũng rộng lớn, bao trùm tất cả“Tình rộng quá, đời không biên giới nữa”(Tình tự). Ta chợt nhớ đến một Nguyễn Bính với cảm giác buồn, giật mình thảng thốt trước bước đi rất vội của thời gian khi con người vô tình, không “đợi chờ” điều đó: Chẳng đợi mà xuân vẫn cứ sang/ Phồn hoa thôi hết mộng huy hoàng/ Sáng nay chợt tỉnh sầu đô thị/ Tôi lại về đây rất vội vàng”.

Thổn thức về dòng thời gian trong tâm hồn thi nhân như chưa bao giờ phôi pha, ngưng đọng. Thời gian càng trở nên bất định hơn khi con người đứng trước ngưỡng cửa của sự sống và cái chết, thi nhân chợt nhận ra điều ấy khi trải qua những ngày ốm đau:“Anh ốm thơ qua cũng thấy rằng/ Con người là một lưới tơ giăng/ Chắc bền cũng có, mong manh có/ Yêu mến làm cho sợi xoắn săn”(Hạt lại gieo hạt). Ai rồi cũng sẽ chết, đó là quy luật, nhà thơ cũng nắm quy luật ấy và khát khao đến ngay cả khi “Rồi một ngày kia giã cõi này/

Xin cho gieo hết hạt trong tay/ Chứ tay còn nắm chưa vơi hạt/ Mà phải ra về cực lắm thay” (Hạt lại gieo hạt). Qua cảm thức về thời gian trong từng dòng thơ Huy Cận, ta như thêm yêu cuộc đời, yêu nhà thơ hơn. Thật đúng vậy, cuộc đời này còn có biết bao điều quý mến sao ta không yêu bằng hết để khi từ giã cõi đời rồi khỏi phải luyến tiếc:“Còn tiếc đời, ôi!tiếc lắm, em!/ Tiếc mà muốn dậy nửa chừng đêm/ Kêu to một tiếng rồi ôm hết/ Sự sống trên đời vô trái tim”(Hạt lại gieo).Nhà thơ sợ thời gian trôi qua, con người sẽ già và chết đi, sẽ không còn trên thế gian nữa để tận hưởng những vẻ đẹp của tình yêu,

của cuộc sống: “Em ơi!dẫu sống trăm năm/ Đến khi chết xuống, anh nằm không yên/ Bởi đời đẹp quá đi, em!/ Yêu rồi, yêu mãi, yêu thêm, chẳng thừa/

Yêu đời biết mấy cho bưa/ Cả khi cay đắng đời chưa hết tình…/ Tiếng gà lại giục bình minh/ Đã yêu cuộc sống, nằm thinh được nào!”.Huy Cận cảm nhận thời gian trôi qua “rất nhẹ” nhưng khiến tâm hồn thi nhân xao động bao xúc cảm “Thời gian rất nhẹ đan bằng sợi trong”(Đêm trăng mưa). Và thời gian không bao giờ là tuyệt đối trong cuộc đời, vạn vật này “Hôm nay, ta nấp thơ giăng lưới/ Bẫy tháng năm về, bắt tuổi thơ” . Tuổi thơ - quá khứ ngày xưa đã qua rồi thì làm sao có thể quay trở lại được, nhưng với niềm ao ước mãnh liệt và một chút vui nhộn thi nhân “bẫy tuổi thơ” bằng những “lưới thơ”. Biết vậy, nhưng thi nhân vẫn luôn tin rằng “Lá biếc đưa thoi xuyên vĩnh viễn/ Gió là sợi thắm của thời gian”.Thời gian có khi dài bất tận, có khi ngắn ngủi vô ngần bởi trong cảm giác, tâm lí của con người tạo nên những mâu thuẫn vô lí nhưng lại rất có lí như Chế Lan Viên từng thổn thức về Thời gian không đợi:

“Lòng rất là vô lí/ Mừng hoa sữa mùa thu/ Lại tiếc hè quá vội/ Chưa kịp hái sen hồ”.

Qua cái tôi trữ tình khắc khoải về thời gian bất định trong từng trang thơ Huy Cận, người đọc nhận ra được ở đó là bao giá trị triết lí về cuộc sống, về tình yêu, tuổi trẻ, đời người. Ở đó, là những lời thơ buồn man mác trước sự hữu hạn của đời người, trước hiện thực cuộc sống không như con người hằng mơ ước. Thi nhân sợ thời gian trôi qua bao nhiêu cũng là biết quý thời gian bấy nhiêu, bởi vậy dù buồn nhưng thơ ông vẫn chưa chan niềm tin yêu, hi vọng vào tình yêu, vào tương lai cuộc sống. Huy Cận đã dạy chúng ta biết yêu hơn và trân trọng hơn những gì ta đang có, hãy sống và khát khao hết mình để không bao giờ hối tiếc vì những gì đã qua bởi tuổi trẻ mất đi không bao giờ trở lại còn trời đất nhưng chẳng còn tôi mãi”(Xuân Diệu). Ta có thể thấy cảm thức khắc khoải về thời gian luôn luôn thường trực trong tâm hồn thi

nhân mãi mãi cho đến lúc cuối đời bởi ta biết rằng nhà thơ quá yêu, quá quý cuộc sống này như nâng niu một viên pha lê đẹp nhưng sẽ dễ bị vỡ và vì thế sẽ rất buồn ai đó cũng đã từng nhận định về điều này rằng “Sở dĩ Huy Cận buồn thương như vậy là vì chàng lo sợ một ngày rất gần hạnh phúc sẽ không cười duyên với chàng nữa, mà chàng thì ham sống và tin vào cuộc đời quá”

[45].

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2

Nét đặc sắc đầu tiên dễ nhận thấy trong thơ Huy Cận là cái tôi trữ tình buồn và đậm chất Đường thi. Nỗi buồn của tác giả thể hiện vẻ đẹp nhân sinh cao cả, bởi đó là nỗi buồn của một người con luôn biết lo cho nhân dân, luôn nghĩ về quê hương đất nước. Đó cũng là đặc điểm lớn của cái tôi trữ tình trong thơ Huy Cận ở giai đoạn trước Cách mạng. Sau Cách mạng, cái tôi trong thơ ông chuyển sang màu sắc tươi vui hơn. Nỗi buồn thấm sâu tận cùng không gian, thấm vào tâm hồn người của thơ giai đoạn trước đã được thay bằng niềm vui của một dân tộc độc lập, tự do, thoát khỏi cảnh nô lệ áp bức.

Nét đặc sắc thứ hai của cái tôi trữ tình thơ Huy Cận giai đoạn sau cách mạng là cái tôi dấn thân, nhập cuộc và cái tôi ngợi ca, tự hào. Làm nên phong cách riêng trong ngòi bút Huy Cận là cái tôi của niềm suy tưởng vươn ra vũ trụ, cái tôi luôn “khắc khoải không gian” và cảm thức về thời gian.Huy Cận sống và gắn bó sâu nặng với nhân dân, quê hương, đất nước, vì thế cái tôi trữ tình trong thơ ông luôn bắt rễ với mạch trong cội nguồn truyền thống dân tộc.Có thể nói, tồn tại trong thơ Huy Cận là cái tôi trữ tình với nhiều dạng thức phong phú, chứa đựng giá trị nhân văn sâu sắc.

Một phần của tài liệu Cái tôi trữ tình trong thơ huy cận (Trang 71 - 77)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(124 trang)