CHƯƠNG 3. NHỮNG PHƯƠNG THỨC HÌNH THÀNH NÊN CÁI TÔI TRỮ TÌNH THƠ HUY CẬN
3.1. CẤU TỨ THƠ HUY CẬN
3.1.1. Cách lập ý thơ Huy Cận
Xuân Diệu đã đúc kết từ kinh nghiệm sáng tạo văn chương khi nói về ý thơ: “Ý là khái niệm và suy nghĩ do từ cuộc sống mà ra…” [30, tr.28]. Như vậy, xuất phát từ chính cuộc sống đã tạo cho thi nhân sáng tác nên những tác phẩm nghệ thuật để đời. Thơ chính là cuộc sống cũng từ đây mà ra. Nhưng nói như vậy, không có nghĩa là nhà thơ bê nguyên cuộc sống vào trang giấy, mà đòi hỏi người nghệ sĩ phải có cảm xúc, phải có tư duy. Người nghệ sĩ lại cần có phải có phương pháp riêng để biến cảm xúc thành ý thơ. Các nhà thơ lớn thường chọn lựa cho mình những phương thức phù hợp để thể hiện cảm xúc của mình, Huy Cận cũng không ngoại lệ.
Những ý thơ đẹp của Huy Cận đều xuất phát từ một cái tôi trữ tình luôn gắn bó với cuộc sống, gắn bó với quê hương, đất nước và nhân dân. Cái tôi trữ tình ấythấu hiểu, cảm thông, chia sẻ những nỗi đau mất mát của nhân dân ta. Đó là những trăn trở, suy nghĩ về kiếp người: “Đời tôi đã gặp nhiều chết nhiều đau/ Đã thấy những thân người như hoa héo nhựa xàu/ Sự sống khô đi như dòng nước cạn/ Nhưng nói sao hết lòng tôi đau đớn” (Gặp chị điên). Tình cảm yêu thương con người ở nhà thơ rất lớn. Trái tim ông luôn đau đớn, day dứt trước bao nỗi đau của kiếp người. Vì thế mà thơ ông luôn có những ý thơ đẹp, làm lay động tâm hồn người đọc. Có thể nói tình cảm là “cái cơ bản” của văn chương, và lời văn là cái “phụ thuộc” vào tư tưởng. Cái tư tưởng, tình cảm có xác định thì lời lẽ mới có thể thông suốt được. Nắm bắt được nguyên lí cơ bản này, Huy Cận luôn tạo cho thơ mình sự giàu đẹp về ý. Trong thơ, tứ
quyết định phần lớn giá trị bài thơ. Song từ tứđến bài thơ là cả một chặng đường dài, đòi hỏi người viết phải kết hợp một cách hài hòa những ý, cảm xúc và hình ảnh cụ thể.Ý và tứ trong thơ có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.Và để tạo nên một tác phẩm thơ, trước hết nhà thơ phải biết tạo nên ý thơ sau đó rồi mới đến tứ thơ và cũng có khi ngược lại. Hai yếu tố ý và tứ luôn song hành, quan hệ qua lại chặt chẽ với nhau. Viên Mai đã từng nhận định về mối quan hệ giữa ý và tứ thơ: “Nghĩ ra ý thơ tuy khó nhọc mà đưa ra phải nhẹ nhàng, tứ thơ tuy ra ngoài ý tưởng mà vẫn phải ở trong ý nghĩ của mọi người”[30, tr.11].Ý và tứ thơ cũng biến hóa linh hoạt tùy theo cảm xúc và hiện thực, có khi tác giả tạo nên một ý trong tứ thơ, có khi lại rất nhiều ý, nhiều tầng, khi hiện lên trên văn bản, khi lại được hiểu qua hàm ý. Khi viết về tình yêu, ý thơ của Huy Cận mang những sắc màu riêng với lối thơ giản dị, trong sáng, hiện lên trên văn bản: “Em đứng thơ ngây cạnh mẹ hiền/ Bên em, bên chị mắt hồn nhiên/ Tóc dài chảy mượt vai tròn tuổi/ Miệng mím làm cho ra mặt nghiêm/
Em lớn lên kìa đã để dành/ Tâm hồn thắm đượm gặp hồn anh” (Xem hình ảnh tuổi nhỏ của em). Có khi ý thơ thể hiện niềm vui trước sự sống lao động tưng bừng qua những ngôn ngữ hàm ý như “thu trong veo” hay hình ảnh con đường “ráo hoảnh”: “Trên đèo thu tới đêm qua/ Sáng lên tầng, đã khô ba dốc trèo/ Trời thu cái nắng trong veo/ Con đường ráo hoảnh chạy đều chuyến xe”.
Có thể nói, ý thơ xuất phát từ thực tiễn và cảm xúc trong chính thi nhân. Từ đó mà toát nên những ý thơ và tạo cho bài thơ có những ý thơ đẹp, thơ hay.
Huy Cận là nhà thơ tài năng ở chất suy tưởng, triết lí. Trong thơ ông có những trường liên tưởng xâu chuỗi lại thành nỗi sầu lớn như kiểu: “Người một thuở mà chàng sầu vạn thuở/ Sống một đời chàng tưởng vọng muôn năm/
Gió trăng ơi, chắc nơi chỗ chàng nằm/ Chăn chiếu mục đã nở màu vĩnh viễn/
Hồn đơn chiếc như đảo rời dặm biển/ Suốt một đời như núi đứng riêng tây”(Mai sau).Qua những hình ảnh của gió, trăng, đảo, biển ta càng hiểu hơn
tình ý của thi nhân. Muốn hiểu được thơ Huy Cận, đòi hỏi người đọc phải nghiền ngẫm, phải hiểu một cách sâu sắc tận miền sâu xa nguyên nhân tạo nên nỗi buồn, niềm day dứt trong thơ của ông. Nhà thơ ít khi nói trực tiếp những nỗi đau mà ông phải chứng kiến, rồi thêu dệt vào thơ. Mà nỗ đau ấy đã trở thành tột cùng rồi, thông qua những hình ảnh không gian, thời gian, biểu tượng của thiên nhiên nhà thơ bày tỏ tâm tư, tình cảm của mình vào đó. Thơ ông vì thế mang đậm tính triết lí, suy tưởng sâu sắc.
3.1.2. Cách tạo tứ thơ Huy Cận
Để sáng tác nên một bài thơ hay, có ý nghĩa được người đọc yêu thích, đòi hỏi người nghệ sỹ phải biết cách tạo nên tứ thơ. Tứ thơ theo Hồ Thế Hà
“là trung tâm của quá trình sáng tạo thơ” và ông cũng nhận định vai trò vô cùng quan trọng của tứ thơ như chính “linh hồn của bài thơ”. Ý thơ bao giờ cũng có quan hệ chặt chẽ với tứ thơ, vì vậy, Xuân Diệu cũng đã đúc kết: “Từ cuộc sống mà toát ra ý, ý ấy muốn trở về tác động trở lại vào cuộc sống mà tác động bằng phương thức thơ thì ý nên đầu thai thành cảm xúc, ý ấy nên trở thành tứ…Ý là của chung của mọi người, tứ mới là của riêng của mỗi thi sĩ”
[30, tr.28]. Về cơ bản, cách tạo tứ thơ là để thể hiện ý thơ, tuy nhiên ý đó đã được “biến hóa” để làm nên nét riêng của tác giả. Nhà thơ tài năng bao giờ cũng tạo nên trong thơ mình những tứ thơ độc đáo. Đến với thơ Huy Cận, người đọc tìm thấy ở đó những tứ thơ làm nên một phong cách của một nhà thơ lớn. Để có được tứ thơ hay, đòi hỏi người nghệ sỹ bên cạnh sự “tổ chức lại một cách chặt chẽ” cảm xúc. Và tứ thơ có được bắt nguồn từ thực tiễn.
Nhà thơ Xuân Diệu qua cuộc đời sáng tác thơ của mình cũng đã tổng kết:“Lao động thơ, trước hết là kiếm tứ. Ngôn từ, lời, chữ, vần rất là quan trọng. Tuy nhiên đó là cái quan trọng thứ hai, mà cái quan trọng thứ nhất, làm rường cột cho tất cả, là cái tứ thơ, nó chủ đạo cả bài. Làm thơ, khó nhất là tìm tứ”. Hay theo Chế Lan Viên thì: “gọi nó là tứ để phân biệt với ý. Chữ
Tứ chẳng qua là ý lớn toàn bài vậy”. Còn Nguyễn Xuân Nam thì cho rằng:
“tứ trong toàn bài là hình tượng xuyên suốt cả bài thơ”.
Như vậy, tìm được tứ thơ và sáng tạo nên tứ thơ để làm nên một tác phẩm thơ có giá trị là một điều không dễ. Nhà thơ Huy Cận đã làm được điều đó, và thể hiện một cách độc đáo hơn người bởi thơ ông là đỉnh cao của nghệ thuật tạo tứ cho thơ. Tứ là cái rất riêng của mỗi nhà thơ, mỗi bài thơ. Ở thơ Huy Cận, ta thấy mỗi khám phá tư tưởng tạo nên trong thơ ông một tứ thơ hay. Nhà thơ khát khao vươn đến tận cùng của vụ trụ qua tứ thơ riêng “Thâu qua cái ngáp dài vô tận/ Hình ảnh lung linh vũ trụ tàn”. Huy Cận đã tạo cho riêng mình những tứ thơ riêng bởi cảm xúc buồn miên man và vũ trụ, cuộc đời luôn hòa nhịp trong ông. Nếu tứ thơ là sựsuy nghĩ của trái tim trước cuộc đời, thì thơ Huy Cận là một nỗi niềm suy nghĩ lớn và rất riêng. Có thể nói quá trình tìm tứ thơ cần phải có sự vận động cùng lúc ba khả năng, đó là “suy nghĩ, tưởng tượng và cảm xúc”. Và khi hội tụ ba yếu tố này trong một thời điểm thì mới tạo nên tứ thơ. Ta có thể thấy ở thơ Huy Cận rất nhiều tứ thơ hay bởi thơ ông là cả khu vườn đầy sáng tạo. Thể hiện nỗi buồn đau xót xa về thực tại xã hội trong bài thơTràng giang của Huy Cận có thể đã có từ rất lâu nhưng phải đến lúc gặp cảnh mênh mông của sông dài, trời rộng, của cánh bèo trôi dạt, của cành củi khôcùng với nỗi hiu quạnh của bến vắng,… cái tôi trữ tình đầy sầu muộn, lẻ loi càng mãnh liệt hơn mới được bộc lộ ra một cách sâu sắc nhất. Và cũng ở bài thơ Tràng Giang, ngay từ lúc mới đặt bút tác giả đã nghĩ đến lối viết theo thể lục bát và đặt tên là Chiều trên sông, nhưng khi ý thơ đã nâng lên tầm cao hơn của hình tượng, nhịp thơ chịu sự tác động lớn của Đường luật, cùng với nhịp “láy của sóng nước, của thuyền nan đã đầu thai thành nhịp láy của ngôn ngữ” như chính lời tự bạch của nhà thơ. Như vậy, cảm xúc thơ đã được nâng lên tầm cao bài thơ tưởng như tả cảnh nhưng thực ra là mượn cảnh để tả tình. Vì thế đã tạo nên cho bài thơ một tứ thơ tuyệt đẹp
cho đến mãi hôm nay. Huy Cận luôn quan tâm đến phần “xác” và “hồn” để tạo nên một bài thơ. Có ý thơ rồi mới phát triển lên thành tứ thơ cũng như xác và hồn luôn đi liền với nhau. Có “hồn” rồi nhưng cũng cần có phần “xác” cho phù hợp thì tứ thơ mới riêng, mới độc đáo được. Trong bài thơ Đẹp Xưa, ban đầu nhà thơ cũng viết theo thể Đường luật: “Ngập ngừng mép núi đường quanh co/ Quán đứng chơ vơ ngọn lá đưa/ Gió hút về ngàn vi vút mãi/ Dạt sườn thung lũng hàng lau thưa...”.Thế nhưng qua một quá trình nhồi nặn, cân đong đo đếm từng câu từng chữ, nhà thơ lại chuyển sang viết theo thể lục bát.
Sự lựa chọn đó đã đem đến cho bài thơ sức cuốn hút, hấp dẫn lớn bởi nó phù hợp, dễ đi vào lòng người hơn, phù hợp với cảnh sắc tâm hồn và tạo vật. Chỉ những vần thơ như thế cũng đã làm ngây ngất người đọc: “Ngập ngừng mép núi quanh co/ Lưng đèo quán dựng mưa lò mái ngang/ Vi vu gió hút nẻo vàng/ Một trời thu rộng mấy hàng mây nao”.
Để tạo được tứ thơ, người nghệ sĩ phải rất tài năng, thông minh, có tư duy. Ví như cùng một câu tỏ tình của chàng trai với cô gái nhưng ý là như vậy, còn tứ thì lại hoàn toàn khác nhau: “Mình ơi ta hỏi thực mình/ Còn không hay đã chung tình với ai?” (Ca dao). Tuy cũng vần vè nhẹ nhàng trong lối tỏ tình nhưng ý nó đã lồ lộ cả ra không còn kín đáo và đẹp như lời tỏ tình thành tứ thơ của chàng trai khi nói: “Bây giờ mận mới hỏi đào/ Vườn hồng đã có ai vào hay chưa?”(Ca dao). Nội dung hai câu trên giống như nhau nhưng cách tỏ tình “vừa rõ, vừa mờ”, đầy ẩn ý kín đáo qua tứ thơ “Vườn hồng đã có ai vào hay chưa?”. Cũng như hình ảnh ẩn dụ của mận và đào làm nên sức lôi cuốn muốn nghe và hiểu hơn trong lời tỏ tình ấy. Nói điều này để ta thấy rằng, không phải cứ có ý thơ là đã tạo nên một tứ thơ hay. Huy Cận đã rất thông minh, tài tình khi chọn lựa cho mình những cách tạo tứ thơ qua mỗi bài thơ. Trong thơ Huy Cận, những bài thơ được ông viết ra bao giờ cũng được chọn lựa thật kỹ từ ý thơ cho đến tứ thơ. Khi nói về vẻ đẹp của thiên nhiên,
nhà thơ đã rất khéo léo khi viết: “Khi ta đến các người đều đến cả/ Có thiên nhiên suối chị với rừng anh/ Cỏ vạn dại đã quen chiều óng ả/ Liễu thiên thu từng thuộc lối buông mành”. Thoạt đầu, ta cứ ngỡ nhà thơ nói về con người, nhưng không phải vậy, trong thiên nhiên ấy có cả “chị suối” và “anh rừng”
với “cỏ” cũng “quen chiều óng ả” và liễu thì “thuộc lối buông mành”. Để tạo nên tứ thơ ấy, Huy Cận đã vận dụng biện pháp ẩn dụ, nhân hóa để làm tăng giá trị nghệ thuật cho bài thơ. Mặc dù ý và tứ thơ có quan hệ chặt chẽ với nhau, nhưng ý thơ là cái có trước rồi mới làm nên tứ thơ. Đó là cách nói ẩn dụ trong bài thơ nhằm ẩn đi điều muốn nói nhưng lại rất khéo léo biểu lộ tình cảm qua ẩn ý đó. Tứ thơ ông bao giờ cũng rất tinh tế với lối nói so sánh: “Bố con nằm giữa nôi trời đất/ Một dải Ngân hà đưa võng chung”.Huy Cận được mệnh danh là nhà thơ của “vũ trụ ca”, vì vậy trong thơ ông dù có thể hiện đề tài gì cũng chứa đựng vũ trụ, thiên nhiên. Ở đây, nhà thơ khát khao hòa cùng vũ trụ qua tứ thơ so sánh “trời đất như chiếc nôi”, “dòng Ngân hà như chiếc võng”, khi nôi với võng cũng chính là vật dụng để con người nằm nghỉ. Vậy thì trời đất, ngân hà chính là nơi con người thả mình vào đó để được nghỉ ngơi.Tứ thơ thường làm cho câu thơ, bài thơ thêm vẻ bí ẩn nhưng sâu sắc.
Như Chế Lan Viên nhận định “Tứ chẳng qua là ý lớn toàn bài”, vậy nên một bài thơ được tác giả hội tụ nhiều ý nhỏ để làm thành một ý lớn có ý nghĩa nhân văn sâu sắc đòi hỏi người nghệ sỹ phải rất tài năng. Những câu thơ với lối nhân hóa so sánh độc đáo giữa thiên nhiên với cảm xúc của con người đã làm cho các tác giả thơ tạo nên những tứ thơ hay tuyệt. Đều lấy ánh trăng để miêu tả cái đẹp nhưng mỗi nhà thơ đều có những liên tưởng độc đáo, riêng biệt để tạo ra tứ thơ. Không riêng gì Huy Cận khi nhìn ánh trăng thường thổn thức, ngỡ ngàng trước vẻ đẹp của nó, Hàn Mặc Tử cũng từng có tứ thơ làm rung động lòng người khi so sánh trăng đẹp như một mỹ nhân: “Trăng nằm sóng soãi trên cành liễu/ Đợi gió đông về để lả lơi”(Bẽn lẽn).Hay Xuân Diệu
với một liên tưởng ánh trăng tràn ngập âm thanh qua câu thơ lãng mạn: “Tôi sợ đường trăng tiếng dậy vang/ Ngơ ngác hoa duyên còn núp lá/ Và làm sai lỡ nhịp trăng đang”(Trăng).Và một Chế Lan Viên, trong bài Trăngcũng đã liên tưởng ánh trăng với “đôi mắt em” làm say đắm người đọc:“Giữa hai cây lại đôi mắt em nhìn/ Anh đến suối mặt em cười dưới suối/Lòng anh chạy cho lòng em theo đuổi/ Đêm ái tình đâu cũng mặt trăng em”(Đôi mắt em). Còn nhà thơ hiện đại Trần Đăng Khoa cũng làm nên tứ thơ hay qua lối liên tưởng trăng với đôi mắt của cá: “Trăng tròn như mắt cá/ Chẳng bao giờ chớp mi”
(Trăng ơi từ đâu đến).Trở lại với thi sĩ Huy Cận, ta gặp rất nhiều những liên tưởng độc đáo về trăng không kém gì các nhà thơ cùng thời cũng như trước và sau này. Trăng trong đôi mắt thi nhân bao giờ cũng mang cảm giác như con người: “Trăng êm cho gió thanh tân/ Hương rừng tỉnh dậy ái ân xuống đồng”(Xuân ý). Hay “Lao xao vũ trụ chồi đang nhú/ Trăng bạch quang mây lọc ánh ngời”(Tiếng biển về khuya). Những cách liên tưởng để tạo ra tứ thơ hay được Huy Cận phát huy cao độ như để nói về tình yêu thủy chung, bền lâu, nhà thơ đã đi từ liên tưởng với hình ảnh của một cô gái thôn quê ngày xưa hay gắn gương vào chóp nón để soi, và mượn hình ảnh “trăng” như chiếc gương và “trời” như chiếc nón để thể hiện tình yêu ấy:“Anh thương em anh giắt/ Gương trăng vào nón trời/ Bốn mùa nghiêng nét mặt/ Khi thương nhớ em soi”.
Tứ thơ có thể chia làm hai cấp độ, nếu như ở những liên tưởng giữa trăng với những hình ảnh của thiên nhiên, hay cảm giác của con người như ở trên là ở cấp độ câu thơ thì ở cấp độ bài thơ, Huy Cận cũng đã sáng tạo nên những tứ thơ hay không kém. Phải tích tụ từ rất lâu, từ nhiều cảm xúc, từ ý thơ nhà thơ mới làm nên được tứ thơ. Trong bài thơ Các vị La Hán chùa Tây phương, được nhà thơ ôm ấp mãi niềm trăn trở trong tâm hồn để rồi sau một thời gian dài hồn thơ ông mới được chắp cánh: “Các vị La Hán chùa Tây
phương/ Tôi đến thăm về lòng vấn vương/ Há chẳng phải đây là xứ Phật/ Mà sao ai nấy mặt đau thương”. Bài thơ là cả một tình yêu lớn của nhà thơ với đất nước, nhân dân ta. Đứng trước những cảnh đời đau khổ in hằng trên mỗi khuôn mặt của các vị La Hán, nhà thơ băn khoăn về kiếp người: “Hoàn hôn thế kỷ phủ bao la/ Sờ soạng cha ông tìm lối ra/ Có phải thế mà trên mặt tượng/ Nửa như khói ám, nửa sương tà”. Và có khi trong tứ toàn bài cũng có tứ câu, tứ đoạn thơ nhằm tạo nên những bất ngờ, đặc sắc cho thơ.
Như vậy, có thể nói tứ thơ quy định sự sáng tạo của hình tượng thơ, làm cho tư duy nhà thơ “loé sáng”. Tứ thơ là một sự phát hiện “tuyệt vời”
của cái tôi trữ tình trong thơ về cuộc sống, về thế giới và đóng một vai trò vô cùng quan trọng hình thành nên một tác phẩm nghệ thuật. Tứ thơ đóng vai trò quy định âm hưởng, màu sắc, độ dài của bài thơ và có lúc cả thể thơ được tác giả lựa chọn. Mỗi tứ thơ đòi hỏi phải có một thể thơ tương ứng. Có khi phải đổi thể thơ thì tứ thơ mới bật ra. Chẳng hạn, bài Tràng giang Huy Cận phải chuyển từ lục bát sang thất ngôn hay bài Đẹp xưa chuyển từ Đường luật sang lục bát như đã phân tích ở trên. Và trong tứ thơ những biện pháp được tác giả kết hợp để làm nên những tứ thơ độc đáo phải kể đến, đó là lối so sánh, liên tưởng, ẩn dụ, nhân hóa,… là những biện pháp không thể thiếu.