Giọng buồn “ảo não”

Một phần của tài liệu Cái tôi trữ tình trong thơ huy cận (Trang 95 - 99)

CHƯƠNG 3. NHỮNG PHƯƠNG THỨC HÌNH THÀNH NÊN CÁI TÔI TRỮ TÌNH THƠ HUY CẬN

3.3. GIỌNG ĐIỆU THƠ HUY CẬN

3.3.1. Giọng buồn “ảo não”

Những năm trước cách mạng là giai đoạn đau khổ của đất nước ta, nhân dân ta. Năm tháng ấy đã ghi dấu lên trong mỗi trang thơ của các thi nhân ta bao nỗi buồn da diết về tình đời, tình người, về cảnh đời cơ cực lầm than của muôn dân. Cuộc sống nhân dân rơi vào khốn đốn và bi thảm dưới ách đô hộ của phong kiến và thực dân, một bên là cổ hũ, ấu trĩ, lạc hậu, một bên là tân tiến, hiện đại hóa đến mức “lố bịch”, nhố nhăng. Con người bị giam trong bức tường của hai chế độ này đến ngột ngạt, không lối thoát. Đứng trước hoàn cảnh đó, những con người biết yêu nước, thương dân sẽ không thể yên lòng mà vui cười, hân hoan với sự sống, với cuộc đời khi ngày ngày phải chứng kiến những cảnh bóc lột, tra tấn. Đó cũng chính là nguyên nhân sâu xa làm nên một chất giọng buồn, “ảo não” trong thơ Huy Cận nói chung và Thơ Mới nói riêng. Có thể chất giọng đó còn được xuất phát từ chính tâm hồn nhạy

cảm của một con người đa sầu, đa cảm nhưng nỗi buồn trong thi nhân bao giờ cũng lớn lao và cao cả, đặt trên nỗi buồn chung của dân tộc. Chất giọng này được tác giả thể hiện nhiều nhất và xuyên suốt qua tập thơ Lửa thiêng. Là một tác giả thơ thành công trên thi đàn khi còn rất trẻ, Huy Cận buồn và cảm thấy bơ vơ, lạc loài giữa cuộc đời để rồi chàng trai ấy còn trẻ nhưng như đã “từng trải” với giọng thơ nghe não nề về một xã hội thật đáng buồn: “Tuổi hai mươi ta sầu/ Xã hội buồn ứa máu/ Đời đau nên hồn đa/ Trang thơ nằm ảo não”.Giọng thơ buồn “ảo ão” được nhà thơ dùng để thể hiện tâm trạng chơi vơi, vô định trước không gian bao la và thời gian trong tâm tưởng với nỗi nhớ không định hình:“Đời hiu quạnh thời gian nghiêng bóng nhớ/ Phố không cây sầu thôi biết bao chừng!/ Chỉ mơ hồ trùng điệp với mông lung/ Buồn vạn lớp trên mái nhà dợn sóng”.Một ngày bắt đầu bằng bình minh tươi sáng và khép lại với bóng chiều tà hiu quạnh, thời gian buổi chiều vì thế cũng là khoảng thời gian khiến cho thi nhân buồn nhất. Với Huy Cận cũng vậy, giọng thơ “ảo não” vừa thể hiện qua ngôn từ “ảo não” vừa qua dòng thời gian “chiều buồn”

da diết cả lòng người: “Trời! Ảo não những chiều buồn Hà Nội/ Hồn bơ vơ không biết tựa vào đâu/ Mây không bay thương nhớ cũng không màu/ Nắng không xế và lòng sầu mất hướng” (Trò chuyện). Sự sống vốn dĩ rất sinh động, luôn vận động vậy mà ở đây mọi thứ như đứng yên, lặng lẽ một nỗi buồn ngập tràn cả thời gian và không gian “mây không bay”. Nỗi sầu như cũng mất

“hướng” khi thời gian của một ngày khép lại để cho nỗi thương nhớ “không màu” ấy càng nhớ thương vô cùng.

Giọng “ảo não” trong thơ Huy Cận rất dễ nhận ra, bởi nhà thơ đã sử dụng rất nhiều từ ngữ để chỉ tâm trạng buồn. Hàng loạt những từ cảm thán chỉ tâm trạng buồn như ôi, ơi, hỡi, não nề, ảo não, buồn, sầu, rầu, van, trời ơi, chán, tận thế, nức nở, chết,...được nhà thơ sử dụng để làm tăng thêm mức độ của nỗi buồn. Riêng từ “ảo não” đã được nhà thơ sử dụng trong rất nhiều bài

thơ:Hình dáng cuộc đời từ đây xa tắp/ Xe tang đi, xin đường chớ gập ghềnh!/ Không gian ôi, xin hẹp bớt mông mênh/ Ảo não quá trời buổi chiều vĩnh biệt!(Nhạc sầu).Cuộc đời như khúc nhạc sầu được cất lên qua giọng ca nghe não nề của thi nhân. Từ ảo não cũng đã làm cho bài thơ thêm buồn hơn.

Không gian buồn, thời gian lại càng buồn khi về chiều và từ “ảo não” cũng đã tăng thêm mức độ của nỗi buồn trong lòng người khi nỗi đau từ xa xưa còn vọng về: “Hỡi mây trắng, hỡi nước buồn, gió cũ/ Sao chiều nay ảo não vị sơ xưa/ Lòng ta nữa, cũng trở về một chỗ / Trong nỗi đau thương vương tự bao giờ ” (Bi ca).Thường thì những lúc con người buồn hay thốt lên những lời than thở nghe não nề. Huy Cận cũng đã tạo nên trong trang thơ ông một giọng thơ chứa chan nỗi buồn qua những lời thở than. Và chỉ biết kêu than với trời, đất để nhẹ lòng hơn nhưng càng than thi nhân lại càng buồn vì biết rằng vô vọng, không thể làm gì khác được “Sầu chi lắm trời ơi! Chiều tận thế!” (Nhạc sầu). Giọng thơ ảo não trong thơ Huy Cận cũng làm ta chợt nhớ đến Chế Lan Viên với nỗi cô đơn giá lạnh qua lời van khẩn: “Hãy cho tôi một tinh cầu giá lạnh/ Một vì sao trơ trọi cuối trời xa/ Để nơi ấy tháng ngày tôi lẫn tránh/

Những ưu phiền đau khổ với buồn lo”.Còn giọng sầu não trong thơ Huy Cận được cất lên qua những câu hỏi đầy cảm thán và câu điệp liên tục tạo nên một nỗi buồn không dứt trong lòng thi nhân: “Ôi nắng vàng sao mà nhớ nhung/ Có ai đàn lẻ để tơ chùng/ Có ai tiễn biệt nơi xa ấy”(Nhớ hờ).

Đặc biệt, giọng ảo não, buồn được Huy Cận thể hiện khá nhiều qua những bài thơ tình. Tình yêu là đề tài muôn thuở đã được không ít thi nhân xưa nay thể hiện rất nhiều. Viết về tình yêu bao giờ cũng dễ thu hút và hấp dẫn người đọc, bởi đó là tình cảm đẹp mà ai trong đời cũng ít nhất một lần rung động trước nữ thần tình yêu. Cũng như thi sĩ Nguyễn Bính từng viết về tình yêu “Nắng mưa là bệnh của trời/ Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng”(Tương tư), Huy Cận cũng vậy, nhà thơ cũng yêu và cũng thổn thức bởi

tình yêu “tương tưcủa tôi với nàng :“Người ở bên trời ta ở đây/ Chờ mong phương nọ, ngóng phương này/ Tương tư đôi chốn, tình ngàn dặm/ Vạn lý sầu lên núi tiếp mây” (Tương tư).Khi đã yêu hình bóng một ai đó, người ta thường bồn chồn, nhớ nhung, mong đợi để được gặp người đó. Huy Cận cũng vậy, ông cũng yêu và tha thiết đợi chờ tình yêu nhưng tình yêu ấy lại buồn vì yêu mà không được đáp lại hay không được thoải lòng của người thi nhân.

Một điều đáng nói hơn nữa trong tình yêu của Huy Cận là tình yêu – tình bạn

“trái đôivới nhà thơ Xuân Diệu đã tạo cho ông viết nên những bài thơ tình làm say đắm bao người. Đó là tình cảm chân thành, nhưng không kém phần rạo rực và mãnh liệt như bao tình yêu khác. Xa Xuân Diệu, người bạn tri âm, tri kỷ gắn bó sâu sắc với mình trong suốt thời trai trẻ cho đến lúc về già, Huy Cận vẫn rất thương, rất mến và trân trọng tình bạn đó. Nỗi buồn, nỗi sầu da diết nghe như não nề hơn khi phải một mình “chiếc bóng năm canh khi xa nhau : “Chiếu chăn không ấm người nằm một/ Thương bạn chiều hôm sầu gối tay” (Vạn lý tình). Tình yêu được viết nên thơ thường ta rất ít thấy tình yêu trọn vẹn, tình yêu đẹp lung linh, nếu có chăng đó cũng chỉ là mơ ước của người đang yêu. Huy Cận cũng vậy, nếu có lần gặp lại nhau, tình yêu của ông sẽ mãnh liệt hơn biết mấy : “Yêu biết mấy nếu có lần gặp lại/ Tôi vụng về, tôi ngơ ngác, nên chi/ Người bên tôi mà tôi để người đi/ Tôi làm nũng quyết giữlòng kiêu hãnh”(Tình mất). Và khi mất đi tình yêu ấy rồi lòng lại thấy buồn đến nao lòng : “Người đi rồi, thôi mong mỏi gì đâu !”.Đặc biệt, cái tôi trữ tình trong thơ được thể hiện qua giọng sầu buồn, ảo não khi tác giả nhắc đến cái chết. Nỗi ám ảnh của cái chết hiện hữu rất nhiều trong thơ Huy Cận, khiến người đọc cũng nao lòng khi chạm đến. Xưa nay, cảnh li biệt, chết chóc bao giờ cũng là cảnh buồn, tang thương nhất. Giọng thơ lúc này đây buồn càng trở nên thê lương, ảo não hơn bao giờ hết khi cái tôi trong thơ gợi nhắc

rất nhiều đến cái chết: “Người đã chết. – Một vài ba đầu cúi/ Dăm bảy lòng thương xót đến bên mồ”(Nhạc sầu).

Người đọc còn nhận ra giọng ảo não, trầm buồn trong thơ Huy Cận trước cách mạng qua cách đặt nhan đề bài thơ đã nghe rất nặng trĩu một giọng thở than, buồn đau : Ê chề, ngậm ngùi, xa cách, nhạc sầu, buồn, buồn đêm mưa,…Có thể nói chính giọng ảo não đã tạo cho trang thơ Huy Cận những âm điệu dễ thấm sâu vào lòng người. Bởi qua giọng điệu ấy, người đọc cảm nhận và hiểu hơn về một trái tim nhân hậu, bao dung, yêu người, yêu cuộc sống, yêu nhân dân và Tổ quốc tha thiết. Tình yêu ấy càng mãnh liệt bao nhiêu nỗi buồn trong lòng thi nhân càng trở nên day dứt, não nề bấy nhiêu.

Một phần của tài liệu Cái tôi trữ tình trong thơ huy cận (Trang 95 - 99)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(124 trang)