Các thể thơ truyền thống

Một phần của tài liệu Cái tôi trữ tình trong thơ huy cận (Trang 102 - 110)

CHƯƠNG 3. NHỮNG PHƯƠNG THỨC HÌNH THÀNH NÊN CÁI TÔI TRỮ TÌNH THƠ HUY CẬN

3.4. ĐẶC ĐIỂM THỂ LOẠI THƠ HUY CẬN

3.4.1. Các thể thơ truyền thống

* Thể thơ lục bát

Trong rất nhiều thể thơ như tự do, tứ tuyệt, năm chữ, bảy chữ,… thì thơ lục bát bao giờ cũng được người đọc yêu thích và giành tình cảm đặc biệt nhất. Bởi lục bát là một thể thơ truyền thống của dân tộc, là thể loại thơ trữ tình êm ái, gần gũi và rất dễ đi vào lòng người. Nếu như âm nhạc dễ làm ngây ngất lòng người thì thơ, và riêng thơ lục bát cũng có sức mạnh rất lớn khiến tâm hồn trào dâng niềm xúc động. Chắc hẳn, các tác giả thơ nổi tiếng, trên con đường sáng tạo nghệ thuật thơ cũng có ít nhất một lần thử sức theo dòng lục bát. Sức mạnh của thơ lục bát là không gì có thể cưỡng lại như lời nhận định của một nhà nghiên cứu về thơ lục bát “thể thơ đã tạo gót từ làng quê ruộng đồng, tới những lâu đài thành thị, từ dân dã tới bác học, từ đoản thi đến trường thi đầy tự tin vào sức mạnh của chính mình”. Sáng tác thơ theo thể loại thơ lục bát, các nhà thơ có thể chuyển tải mọi cung bậc trạng thái, tâm trạng, tình cảm của con người từ yêu thương - giận hờn, vui - buồn, bất hạnh - hạnh phúc, giữa thiện và ác, bi hài,… đều có thể gửi gắm vào thể loại thơ vừa “đơn giản” vừa “độc đáo” này.

Cũng như bao nhà thơ khác trên thi đàn, Huy Cận đã góp cho đời những bài thơ lục bát hay và hấp dẫn người đọc. Trước Cách mạng tháng Tám, chúng ta tìm thấy thơ lục bát Huy Cận được thể hiện nhiều qua tập thơ Lửa thiêng. Ở tập thơ này, chúng ta tìm thấy tám bài thơ trong tổng số năm mươi bài được viết theo thể lục bát, đó là những bài thơ quen thuộc với rất nhiều người như: “Ngậm ngùi”, “Buồn đêm mưa”, “Trông lên”, “Thuyền đi”, “Chiều xưa”, “Xuân ý”, “Mai sau” “Thu rừng”.Trong đó, có rất nhiều bài thơ đã được các nhạc sĩ tên tuổi phổ thành nhạc như Ngậm ngùi, Buồn đêm mưa,... Phải nói rằng, những bài thơ lục bát của Huy Cận cũng không kém phần êm ái, du dương như thơ lục bát của Nguyễn Bính, Bích Khê, Lưu Trọng Lư…Về nhịp điệu, nhà thơ thường ngắt nhịp 4/2 hoặc 2/4 ở câu lục và ngắt nhịp 4/4 ở câu bát. Và cách gieo vần lưng ở thể thơ lục bát cũng đã tạo cho bài thơ sự uyển chuyển, nhịp nhàng. Chính cách gieo vần và ngắt nhịp ấy đã tạo nên sự hài hòa cân xứng trong từng câu thơ, đồng thời tạo cho lời thơ có tính hàm súc, cô đọng, giàu âm điệu. Hay với lời thơ êm ái, bùi ngùi, tiếc thương, với nhạc điệu ôm ấp, vỗ về, an ủi, nhà thơ viết nên bài thơ tình theo thể lục bát làm ngây ngất bao người: “Cây dài bóng xế ngẩn ngơ... / Hồn em đã chín mấy mùa thương đau?/ Tay anh em hãy tựa đầu/ Cho anh nghe nặng trái sầu rụng rơi...”(Ngậm ngùi).

Nhiều tác giả đã nhận xét, thơ lục bát Huy Cận mang chất Đường thi và được học tập từ Truyện Kiều của Nguyễn Du. Từ thuở còn thơ, Huy Cận đã được nghe bà, nghe bố, mẹ ngâm nga Truyện Kiều. Từng lời thơ trong tác phẩm kinh điển nàynhư thấm vào tận đáy tâm hồn nhà thơ từ khi còn rất nhỏ, để khi lớn lên bắt mạch với đời, ông cho ra những bài thơ lục bát không kém phần da diết, sâu lắng. Thấm đẫm hồn thơ cha ông ta xưa, nhà thơ Huy Cận đã “hiện đại hóa”thể thơ lục bát của dân tộc để làm nên những vẻ đẹp riêng nhưng không tách biệt với cái chung. Đọc thơ lục bát Huy Cận, ta như cảm

nhận như một Nguyễn Du “đang sống lại” với cuộc đời để cho ra đời những dòng lục bát hay như Truyện Kiều: “Ngập ngừng mép núi quanh co/ Lưng đèo quán dựng, mưa lò mái ngang/ Vi vu gió hút nẻo vàng/ Một trời thu rộng mấy hàng mây nao”(Đẹp xưa). Thơ lục bát Huy Cận được phát huy từ cách thể hiện phương thức tiểu đối và song hành tựa như lục bát trong Truyện Kiều. Điều này có thể thấy qua bài Thu rừng của ông. Từ nhịp thơ 2/2/2:

“Bỗng dưng/ buồn bã/ không gian”,tác giả chuyển sang ngắt nhịp theo 3/3 để tạo sự khác lạ và bộc lộ ý đồ của tác giả khi để sự xuất hiện của chú nai ngơ ngác xuống rừng thu chào đón khúc nhạc giao mùa rộn ràng:

“Nai cao gót/ lẫn trong mù

Xuống rừng/ nẻo thuộc/ nhìn thu/ mới về”

Cách ngắt nhịp này tạo nên một phương thức tiểu đối cho câu thơ.ỞTruyện Kiều, tác giả Nguyễn Du cũng dùng phương pháp này để miêu tả vẻ đẹp của Thúy Kiều: “Làn thu thủy/ nét xuân sơn”. Với phương thức tiểu đối này, Huy Cận cũng dùng để miêu tả vẻ đẹp thơ mộng của thiên nhiên: “Chim đi, lá rụng

>< cành nghe lạnh lùng”.Sử dụng phương pháp song hành, nhà thơ đã thể hiện tâm trạng “đau buồn” của mình khi đứng trước thiên nhiên “hiu quạnh”:

“Với cây hiu quạnh >< với lòng quạnh hiu”. Hay để miêu tả tâm lý, tác giả cũng sử dụng kiểu song hành này: “Tình đi mau >< sầu ở lại”(Bi ca) hoặc trong bài Mai sau, ta cũng thấy ở đó là tâm lý “sầu” trong tình yêu qua câu song hành: “Người một thuở (mà) >< chàng sầu vạn kỷ”. Những kiểu song hành này, ta gặp nhiều trong Truyện Kiều của cụ Nguyễn Du như: “Người quốc sắc ><kẻ thiên tài”, “khi chén rượu >< khi cột cờ”, “khi xem hoa nở ><

khi chờ trăng lên”.

Tuy nhiên, Huy Cận có cách dùng từ rất đặc sắc, tạo dấu ấn trong việc bộc lộ tâm trạng buồn da diết và tạo nên giọng điệu thơ ảo não trong thơ ông.

Không giống như cách dùng hệ từ đầy âm hưởng văn chương bác học ở

Truyện Kiều của Nguyễn Du, trong thơ lục bát Nguyễn Bính với cách dùng hệ từ đầy âm hưởng của ca dao dân gian, hay lục bát với đậm chất sử thi trong thơ Tố Hữu,…lục bát Huy Cận có nét riêng gợi lên niềm cảm xúc buồn khó tả về cuộc đời, về kiếp người. Có thể nói, thơ viết theo thể lục bát của Huy Cận không phải là mới nhưng nhà thơ đã rất tài năng trong việc diễn tả được âm điệu trầm lắng của nỗi sầu “thiên cổ” trong thơ mình bằng những vần thơ truyền thống của dân tộc. Thơ Huy Cận bị chi phối nhiều bởi cảm xúc. Tác giả thơ đã bộc lộ tâm trạng cảm xúc qua sự kết hợp giữa những nhịp chẵn và nhịp lẻ, đó là nhịp 2/2/2 ở câu lục và 3/3/2 ở câu bát tạo nên một sự chậm rãi, nao nao trong lòng người:

“Đồn xa/ quằn quại/ bóng cờ Phất phơ buồn/ tự thuở xưa/ thổi về”

(Chiều xưa)

Người đọc không quên được những bài thơ viết về mưa và nỗi buồn trong mưa theo thể lục bát của Huy Cận. Như những bản giao hưởng về mưa, tác giả đã đem đến cho người đọc được thưởng thức một điệu nhạc hay. Với cách ngắt nhịp quen thuộc, lặp đi, lặp lại 2/2/2 của câu lục và 4/4 của câu bát trong bài Buồn đêm mưa càng làm cho nỗi buồn như cứa vào da thịt, vào tận tâm hồn người:

“Nghe đi/ rời rạc/ trong hồn Những chân xa vắng/ dặm mòn lẻ loi...”

(Buồn đêm mưa)

Bàn về thơ lục bát Huy Cận, có người nhận định thơ lục bát chia làm ba giai đoạn: lục bát ca dao, lục bát Nguyễn Du và giai đoạn không thể thiếu đó là lục bát Huy Cận. Như vậy, xét về thơ lục bát của những tác giả thơ nổi tiếng, Huy Cận cũng là một trong số cây viết xuất sắc được đánh giá cao. Ta thấy rằng, đặc điểm dễ nhận thấy ở lục bát Huy Cận, đó là sự cô đọng, đông

đặc nhưng không hoàn toàn “bí hiểm”, khiến người đọc khó hiểu. Lục bát Huy Cận mượt mà nhưng sâu lắng, êm ái, dịu nhẹ và sắc sảo chứa đựng vẻ đẹp triết lí về nhân sinh sâu xa.

Dù là thơ lục bát trước hay sau cách mạng, Huy Cận cũng nặng lòng với “nỗi khắc khoải không gian và thời gian”. Không gian thiên nhiên bao giờ cũng đẹp một vẻ đẹp lung linh trong trái tim đa cảm của thi nhân. Không gian ấy càng đẹp hơn qua vần lục bát với cách ngắt nhịp chẵn, gieo vần bằng trắc phối hợp tạo sự êm đềm, ấm áp trong bài thơ: “Có mưa mà lại có trăng/ Thời gian rất nhẹ đan bằng sợi trong/ Có trăng mưa khỏi lạnh lùng/ Có mưa trăng thấm tận cùng cỏ cây/ Thiên nhiên ngàn vạn cỏ cây/ Vẫn nguyên ý đẹp giãi bày cùng ta”(Đêm trăng mưa).Cảm xúc thơ lúc này đây tuy cũng còn nỗi buồn khó quên, nhưng cảm xúc như ấm dần lên, tươi vui hơn khi tác giả kết hợp những từ ngữ, âm điệu rạo rực trong vần thơ lục bát. Không giống như

“nỗi hàn bao la” vì cái lạnh của mưa trong giai đoạn trước nữa, giờ đây mưa cũng được ấm hơn bởi luôn có “trăng mưa khỏi lạnh lùng”. Để bày tỏ những nỗi niềm, tâm tư của cái tôi cá nhân cá thể, Huy Cận đã vận dụng một cách xuất sắc thể loại thơ lục bát. Bởi ở thể thơ này, gần như tất cả mọi cung bậc tâm trạng đều được lục bát chuyển tải hữu hiệu. Cái tôi trữ tình lúc này đây muốn thoát khỏi những luật lệ đã mòn để vươn lên giãi bày với trái tim luôn khát khao tình yêu. Có thể nói rằng lục bát lục bát Huy Cận đậm chất cổ điển, mang âm hưởng cổ thi nhưng cũng đã rất hiện đại, chủ yếu ở sự lắng nghe và nắm bắt một cách tinh vi những cảm xúc mong manh, mơ hồ của tâm hồn.

Khi tìm về với thơ lục bát những năm sau cách mạng của Huy Cận, ta vẫn thấy ở đó âm điệu dân gian ngọt ngào, thấm vào lòng người qua bài thơ viết về mẹ của ông Mẹ ơi, đời mẹ. Tác giảđã mượn hình ảnh của ca dao xưa để nói lên nỗi vất vả mà yêu đời, yêu thương chồng con của người mẹ: Mẹ ơi, đời mẹ khổ nhiều/ Trách đời, mẹ giận bao nhiêu cho cùng/ Mà lòng yêu sống lạ

lùng/ Mẹ không phút nản thương chồng, nuôi con/ “Đắng cay ngậm quả bồ hòn/ Ngậm lâu hóa ngọt”! “Mẹ còn đùa vui!”.

Dù có những thay đổi, về cơ bản lục bát thơ Huy Cận vẫn giữ được sự duyên dáng, mượt mà, uyển chuyển và đáng nhớ không kém gì lục bát xưa.

Những dòng lục bát ấy đã nối liền cảm xúc của cái tôi trữ tình trong thơ ở buổi giao thời với tiếng lòng của dân tộc và cũng thanh lọc những thanh âm hỗn tạp của cuộc sống đương thời.Lục bát Huy Cận cũng đã đem đến cho người đọc hiểu và yêu hơn nhà thơ bởi tình yêu thiên nhiên, tạo vật, con người tha thiết trong ông là tình yêu bất diệt, đáng được ngợi ca.

* Thơ ngũ ngôn, thất ngôn

Cùng với thể thơ truyền thống của dân tộc như lục bát, song thất lục bát,… thể thơ năm chữ, bảy chữ, tám chữ được các thi nhân xưa và nay sử dụng rất nhiều trong sáng tác thơ của mình. Đây là thể thơ có số chữ nhất định trong một dòng, thường phù hợp với việc kết hợp tự sự và trữ tình. Câu thơ có sốâm tiết nhất định, hình ảnh thơ chắt lọc, nhịp thơ ngắn gọn, có khả năng chuyển biến linh hoạt.

Ở thể loại thơ năm chữ đã được rất nhiều nhà thơ cùng thời với Huy Cận trong phong trào Thơ mới và nhiều nhà thơ đương đại cũng như hiện đại thể hiện một cách thành công và xuất sắc như: Xuân Diệu,Tản Đà, Vũ Đình Liên, Lưu Trọng Lư, Nguyễn Nhược Pháp, Chế Lan Viên,Thâm Tâm, Minh Huệ, Xuân Quỳnh,…Ở thời Thơ mới có những bài man mác một nỗi buồn xưa cũ, gợi lòng người nhớ đến cha ông ta xưa qua thơ năm chữ Vũ Đình Liên: “Mỗi năm hoa đào nở/ Lại thấy ông đồ già/ Bày mực tàu giấy đỏ/ Bên phố đông người qua”(Ông đồ),có những câu thơ tình khiến lòng ta vương vấn mãi nhưLưu Trọng Lư: Em ngồi trong song cửa/ Anh đứng dựa tường hoa/

Nhìn nhau và ứa lệ/ Một ngày một cách xa”. Để thể hiện cái tôi trữ tình đa dang, phong phú của mình, Huy Cận cũng đã sử dụng khá thành công thể thơ

này. Ở ngay tập thơ đầu tay của ông, người đọc đã tìm thấy bảy bài thơ được sáng tác theo thể năm chữ và càng về sau rải rác trong các tập thơ của ông đều có nhiều bài thơ năm chữ.Với thể thơ này, nhà thơ có thể thổ lộ những nỗi niềm tâm tư, tình cảm của mình bằng những dòng tự sự chân thành. Thơ năm chữ của Huy Cận giàu tính biểu cảm, bởi tâm hồn nhà thơ là những miền cảm xúc mãnh liệt trước dòng chảy của cuộc đời. Đặc điểm của thể thơ năm chữ Huy Cận là nhịp thơ 2/3 và 3/2 xen kẻ, tạo cho bài thơ, câu thơ nhịp điệu nhẹ nhàng, êm ái, đồng thời với nhịp thơ này cũng đã làm cho bài thơ bớt đi tính tự sự vốn có mà thay vào đó là lời thơ đầy tâm tình nhẹ nhàng, sâu lắng. Là một người yêu quê hương, thiên nhiên và con người sâu sắc, Huy Cận gửi gắm vào những vần thơ tình cảm thiết tha với thiên nhiên vũ trụ. Thiên nhiên xinh đẹp trong trái tim nhà thơ luôn gắn hòa cùng với con người. Đặc biệt, với thể thơ năm chữ Huy Cận đã thể hiện tình yêu sâu đậm với quê hương Nghệ Tĩnh giàu truyền thống văn hóa: “Nghe câu hò ví dặm/ Đã nói, nói hết lòng/

Đất này bền nghĩa bạn/ Đất này tình thủy chung”(Gửi bạn người Nghệ Tĩnh).

Tuy viết theo thể năm chữ như lời tự sự nhưng bài thơ vẫn thể hiện được sự nhịp nhàng như điệu lục bát êm ái.

Huy Cận rất sở trường với thể thất ngôn. Có thể nói, thể thơ này được nhà thơ sử dụng nhiều nhất trong tập thơ đầu tay Lửa thiêng và cả những tập thơ sau này của ông.Riêng ở Lửa thiêng, ông đã sáng tác với mười chín bài bảy chữ và mười sáu bài tám chữ. Ở mỗi bài thơ đều được tác giả sử dụng một cách nhịp nhàng, cân đối bộc lộ được cái tôi trữ tình trong thơ. Ở thơ bảy chữ hay còn gọi là thơ thất ngôn ta thấy nhịp chủ yếu với nhịp 4/3 và 3/4. Và kết cấu hài âm bằng trắc của Đường thi theo quy ước “nhị tứ lục phân minh”

đã tạo nên cho câu thơ giàu nhạc tính. Với thể thơ này, nhà thơ đã thổi vào đó một linh hồn mới với cách biến tấu vắt dòng, ngắt nhịp, có khi dùng lối từ tượng âm của những từ xướng âm nhạc, hay cách điệp âm, điệp thanh…Điều

này đã tạo nên trong thơ thất ngôn Huy Cận một vẻ đẹp “rất Tây”: “Khi bóng hoàng hôn phủ núi xa/ Khi niềm tư tưởng vướng chân, và..” (Em về nhà).Câu thơ đã làm cho người đọc thật sự bất ngở ở cách gieo vần cuối tạo sự lấp lửng, bâng khuâng, hụt hẫng. Hay cách gieo vần bằng các âm ngân vang, âm mở như trong bài Dấu chân trên đường, nhà thơ đã mang đến một không gian vũ trụ chứa đựng bao nỗi sầu: “Thôi đã tan rồi vạn gót hương/ Của người đẹp đến tự trăm phương/ Tan rồi những bước không hò hẹn/ Đã bước trùng nhau một ngả đường”.

Khi thể hiện tình cảm đau buồn trước sự mất mát, bế tắc không tìm được lối ra của cha ông ta xưa, nhà thơ đã sử dụng những câu thơ bảy chữ với nhịp thơ đều đặn: “Đứt ruột cha ông trong cái thuở/ Cuộc sống giậm chân hoài một chỗ/ Bao nhiêu hi vọng thúc bên sườn/ Héo tựa mầm non thiếu ánh dương”. Câu thơ bảy chữ có khi được tác giả thể hiện tình yêu thơ mộng, lãng mạn thủy chung, đồng thời là sự gắn bó, muốn hòa cùng thiên nhiên tươi đẹp:

“Anh đi anh hái chùm hoa núi/ Về tặng lòng em yêu nhớ anh/ Hoa tím thủy chung không có tuổi/ Hoa lan trong trắng khẽ nghiêng mình”(Chùm hoa núi tặng). Cũng trong bài thơ, nhà thơ với những câu thơ bảy chữ còn đưa ta trở về với một thời tuổi thơ trốn học vào rừng tìm hái những quả sim, quả mua chín tròn, múp míp: Lại có hồng sai gai cũng thơm/ Hoa thia chi chít cánh thêu cườm/ Hoa mua thuở nhỏ làng bên núi/ Anh hái cùng sim ăn bỏ cơm”.Câu thơ bảy chữ có khi được nhà thơ thể hiện tình cảm yêu mến tha thiết đối với người bạn tri kỷ - Xuân Diệu: Diệu ơi, Diệu đã về yên tịnh/ Cận hãy còn đây trăm xốn xang/ Cận mới về thăm quê Nghệ Tĩnh/ Gặp tuần trăng sáng ngẩn ngơ trăng”(Diệu ơi, Diệu đã về yên tịnh). Lời thơ bảy chữ mượt mà sâu lắng thể hiện được tình cảm mến thương vô ngần của nhà thơ với người bạn, không kém gì tình bạn mà ta từng gặp ở Nguyễn Khuyến khi Dương Khuê đã ra đi mãi mãi: “Gường kia treo cũng hửng hờ/ Đàn kia gãy cũng

Một phần của tài liệu Cái tôi trữ tình trong thơ huy cận (Trang 102 - 110)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(124 trang)