CHƯƠNG 2. NÉT ĐẶC SẮC CỦA CÁI TÔI TRỮ TÌNH THƠ HUY CẬN
2.3. CÁI TÔI CỦA NIỀM SUY TƯỞNG VƯƠN RA VŨ TRỤ VÀ CÁI TÔI BẮT RỄ TRONG CỘI NGUỒN TRUYỀN THỐNG
2.3.2. Cái tôi bắt rễ trong cội nguồn truyền thống
Không ngẫu nhiên mà cái hồn dân gian đeo đuổi từng sáng tác của Huy Cận, tạo cho ông vị thế nhất định trong lòng công chúng yêu thơ. Nhà thơ sinh ra và lớn lên trong một gia đình có cha và mẹ đều rất thích thơ, văn, nhất là yêu thích ngâm Truyện Kiều của Nguyễn Du, hơn nữa truyền thống quê hương mang đậm bản bản sắc văn hóa dân tộc cũng đã góp phần to lớn nuôi dưỡng tâm hồn nhà thơ. Chính điều đó đã mang đến cho thơ Huy Cận những âm hưởng, cảm xúc khó phai. Cái tôi trữ tình trong thơ ông luôn xuất phát, bắt rễ từ trong cội nguồn truyền thống dân tộc và thấm đẫm chất nhân văn.
Từ lúc vừa lớn lên, nhà thơ Huy Cận đã phải xa quê hương Nghệ Tĩnh thân yêu của mình để theo học ở Huế với người cậu và sau đó là học ở Hà Nội. Thế nhưng hình ảnh thân quen của làng quê – nơi nhà thơ cất tiếng khóc chào đời đã được ông thể hiện với biết bao tình yêu đậm sâu. Dù thơ ông thể hiện sự trí tệ, suy nghĩ rất nhiều song vẫn thấm đậm chất mặn nồng của ruộng đồng, hương mắm, vị cà ở miền quê. Cái tôi trữ tình như bắt rễ tận sâu ngọn nguồn truyền thống dân tộc mới có thể viết lên những câu thơ đầy tình yêu và cảm xúc với quê hương như những lời thơ trong bài Gửi bạn người Nghệ Tĩnh: “Ai ơi, cà xứ Nghệ/ Càng mặn lại càng giòn/ Nước chè xanh xứ Nghệ/
Càng chát lại càng ngon”.Huy Cận yêu quê hương như bao người yêu quê hương là yêu dòng sông tuổi thơ, yêu bờ kênh xanh thẳm, yêu từng món ăn quê nhà, tuy nghèo khổ nhưng nó đã gắn bó và thấm sâu vào trong máu thịt của mỗi người con. Huy Cận cũng vậy, nỗi nhớ ấy làm tăng thêm niềm tự hào của cái tôi trữ tình khi gợi nhắc đến quê hương: “Quê anh cà nhút mặn mòi/
Sinh anh muối mặn yêu đời, đó em…”(Yêu đời). Phải gắn bó rất sâu sắc với làng quê với những món ăn, thức uống đặc trưng không thể quên được như cà, nước chè, khoai lang rồi những món cây nhà lá vườn như cam, xoài, Huy Cận mới có thể viết được những lời thơ không chỉ đúng mà còn giàu tình cảm yêu mến đến vậy: “Khoai lang vàng xứ Nghệ/ Càng nhai kỹ càng bùi/ Cam xã Đoài xứ Nghệ/ Càng chín lại càng tươi”. Đó là những thức ăn rất đơn giản, dễ chế biến của miền quê Việt Nam mà mỗi khi đi xa bất kỳ người con nào cũng khó quên được bởi ở đó có cả tình người: “Ông đồ xưa xứ Nghệ/ Càng dạy, chữ càng nhiều/ Tính tình người xứ Nghệ/ Càng biết lại càng yêu”.
Nhắc đến làng quê là nhắc đến những cây đa, giếng nước, nhắc đến những con vật nuôi quen thuộc, gắn bó không thể thiếu với người nông dân Việt Nam, đó là con trâu, con bò, lợn, chó, gà... Những con vật này từ xưa đã được cha ông ta nhắc đến nhiều qua ca dao, tục ngữ cũng như trong thơ trung
đại. Đến với cái tôi trữ tình gắn bó tận nguồn truyền thống dân tộc trong thơ Huy Cận, người đọc cũng bắt gặp rất nhiều hình ảnh thân quen ấy. Dưới ngòi bút tài hoa của nhà thơ, hình ảnh người nông dân cùng với con vật thân thương của mình đi cày về gợi cho ta nhớ đến miền ký ức một thời tuổi thơ chân lấm tay bùn vất vả mà vui biết bao: “Cày xong, sương đọng mặt đêm nhòa/ Sao dậy, trời như cải nở hoa/ Người với bò đi, đôi bóng đậm/ Khoan thai chân bước trở về nhà”(Xong buổi cày). Người nông dân chăm chỉ làm lụng, vất vả tần tảo sớm hôm ấy, không ai xa lạ mà chính là cha của nhà thơ.
Hình ảnh đứa bé con chạy ra đón cha trong cái vui khi cha đã về tạo cho người đọc cảm xúc mến thương và xúc động: “Tiếng em nhỏ chạy ra đón cha về/ Chó sủa đầu thôn – ai có nghe/ Tiếng những vì sao chen chụm lại/ Trên cao soi ấm xóm đường đê”(Xong buổi cày). Tuổi thơ với bao ký ức hiện về, tác giả nhớ đến da diết hình ảnh của người cha qua câu thơ rất đỗi đời thường:
“Cha dậy đi cày trâu kịp vụ/ Hút vang điếu thuốc khói mù bay/ Nhút cà, cơm ủ trong bồ trấu/ Chút cá kho tương mẹ vội bày”(Sớm mai gà gáy). Rất gần gũi và thân thương, nhà thơ tả chú nghé con với một sự vui nhộn, nghộ nghĩnh giành tặng trẻ thơ: “Một con nghé ra đời,…../ Lông nó đen, đen nháy/ Mẹ nó liếm càng đen/ Mặt trời làm bàn chải/ Từng tia sáng vuốt thêm”(Thơ nghé).
Nếu như ngày nay, con người sống trong sự phát triển của khoa học công nghệ, mọi đồ vật đều được hiện đại hóa, ngay cả báo thức cho con người mỗi buổi sáng sớm cũng được hiện đại hóa thì ngày xưa, tiếng gà gáy là chiếc đồng hồ báo thức quý giá nhất mà tạo hóa đã ban tặng cho con người. Vì thế, tiếng gà gáy cũng đã trở thành hình ảnh quen thuộc đối với làng quê Việt Nam. Cái tôi trữ tình nhà thơ không bao giờ quên được âm thanh ấy: “Tiếng gà gáy ơi! Gà gáy ơi!/ Nghe sao ấm áp tựa nghe đời/ Tuổi thơ gà gáy ran đầu bếp/ Trâu dậy trong ràn, em cựa nôi”(Sớm mai gà gáy). Hay những mầm sống thật tươi tắn qua những câu thơ:“Mùi đất mùi phân nhuyễn với nhau/ Mùi bùn
vừa nạo dưới ao sâu/ Chua chua ráp ráp mùi ngâm mạ/ Nghe nứt mầm xanh mỗi tế bào”(Hương đất).
Truyền thống văn hóa dân gian cũng được nhà thơ Huy Cận thể hiện qua hình tượng cái tôi trữ tình rất gần gũi, thân quen mà chan chứa tình cảm.
Ai dù đi xa muôn nơi vẫn không quên được tiếng nhạc, tiếng đàn đặc trưng, truyền thống của làng quê mình sinh ra. Huy Cận và người dân Nghệ Tĩnh quê ông cũng vậy, họ sống chan hòa, gắn bó, thủy chung cùng nhau qua từng câu ví dặm: “Nghe câu hò ví dặm/ Càng lắng lại càng sâu/…/ Đất này bền nghĩa bạn/ Đất này tình thủy chung”(Gửi bạn người Nghệ Tĩnh). Và người dân ta, nhất là người xưa rất yêu Truyện Kiều – một tác phẩm có giá trị quý giá đối với nền văn hóa của dân tộc. Hơn ai hết, Huy Cận rất hiểu và tôn kính những người đi trước những cô, chú láng giềng mỗi khi gặp lại liền bàn Truyện Kiều: “Quen tên nhưng chửa biết người/ Các em xúm xít nô cười hỏi han/ Cụ già mời bát lạc rang/ Lâu năm gặp mặt bàn sang Truyện Kiều”(Về thăm quê xã Đức Ân). Ở đây, ta không chỉ thấy tinh thần yêu văn thơ của con người Việt Nam ta từ xưa mà còn cảm động hơn ở tình cảm mến khách, thương người của dân tộc ta. Người đọc còn tìm thấy một “bức tranh Đông Hồ”, bức tranh dân gian với đủ cảnh, đủ trò chơi được nhà thơ thể hiện qua bài Xem triển lãm tượng gỗ dân gian. Ở đó là một loạt những hình ảnh rất đỗi đời thường mà gợi lên cho người đọc, người xem tình cảm biết ơn vô cùng với những cha ông đã đổ bao máu xương để chúng ta có ngày hôm nay: “Tạc voi trận, voi cày/ Tạc voi lồng, nổi gió/ Nhẹ như mây voi bay/ Vui phận phồng thớ gỗ”.Cái tôi trữ tình gắn bó với cội rễ truyền thống quý báu của dân tộc như tiếp thêm sức mạnh về lòng yêu Tổ quốc, yêu dân tộc trong mỗi người dân ta và lòng căm thù giặc sâu sắc mỗi khi đọc được những lời thơ chân thành, đằm thắm của Huy Cận:“Quan quân phường cướp bóc/ Lợn béo bắt đi rồi/ Trẻ sợ không dám khóc/ Mẹ than thở kêu trời…”
Văn học dân gian đã đem đến cho chúng ta những câu chuyện cổ tích, truyền thuyết hấp dẫn khó ai có thể quên được. Cái tôi trữ tình gắn bó tự nguồn cội dân tộc trong thơ Huy Cận một lần nữa như nhắc nhở mỗi người chúng ta phải biết yêu, biết trân trọng những gì cha ông ta đã để lại cho chúng ta như ngày hôm nay. Hình ảnh của núi “Tản” và hai chàng trai khỏe mạnh, có phép thuật kỳ lạ trong câu chuyện Sơn Tinh Thủy Tinh được nhà thơ tái hiện lại một cách sinh động qua bài thơ Gà gáy trên cánh đồng Ba Vì được mùa: “Núi Tản như con gà cổ đại/ Khổng lồ, mào đỏ thắp bình minh/ Mênh mông gọi nắng cho mùa chín/ Từ buổi Sơn Tinh thắng Thủy Tinh”.Ở miền quê Huy Cận cũng như bao miền quê khác trên đất nước ta, thường có những làng nghề truyền thống từ bao đời cha truyền con nối cứ thế duy trì và phát triển tạo nên những sản phẩm vừa mang giá trị kinh tế vừa góp phần to lớn làm nên bản sắc của dân tộc. Nhà thơ trong một lần đi thăm lò chum đã viết nên bài thơ cùng tên gợi cho chúng ta tình yêu giá trị truyền thống mà cha ông ta đã để lại: “Đất này đất vại đất chum/ Đất này đất cũ lửa nung ngàn đời/ Vại chum từ thuở xa khơi/ Rắn như từng mảnh mặt trời nguội đen”.Để làm nên những chiếc chum có giá trị cho con người thì chất liệu làm nên chiếc chum phải rất tốt, đó là loại đất quý, đất hiếm mà không phải ở nơi nào cũng có được. Những chiếc chum làm ra luôn giữ những vẻ đẹp của sự sống “chum sâu giữ hạt giống bền/ Ngô xanh tự bấy, lúa lên đều mùa/ Nước trong lòng vại mát chưa/ Vại chum vững chãi trụ bờ sông xanh”.
Thơ Huy Cận đa dạng ở chủ đề và phong phú về nội dung, thể loại. Ở những giai đoạn nào, nhà thơ cũng dùng ngòi bút của mình để thể hiện đối tượng một cách độc đáo nhất. Trong từng lời thơ, bài thơ dù có khi không tránh khỏi những hạn chế nhất định, nhưng thơ ông vẫn dễ làm rung động lòng người như Lê Đình Kỵ từng nhận định: “Mỗi bài thơ là một nét nhịp nhàng, đằm thắm tin yêu về cuộc sống và con người hiện nay. Bất kỳ về đề tài
nào, thơ Huy Cận cũng có một sự cảm thụ riêng biệt, ý nhị và kín đáo…”. Và với cái tôi trữ tình bắt rễ từ mạch nguồn truyền thống dân tộc, nhà thơ đã mang đến cho đời những vần thơ êm ái như những khúc hát tâm tình, thương mến như chính tâm hồn dạt dào tình cảm của người dân ta.