CHƯƠNG 2. NÉT ĐẶC SẮC CỦA CÁI TÔI TRỮ TÌNH THƠ HUY CẬN
2.1. CÁI TÔI SẦU MUỘN VÀ ĐẬM CHẤT CỔ ĐIỂN
2.2.2. Cái tôi tự hào, ngợi ca
Nhà nghiên cứu Ngô Văn Phú khi nhận định về cái tôi trong thơ Huy Cận đã nhận ra rằng: “Từ đắm đuối trong cái tôi bế tắc, thơ ông thời kỳ sau cách mạng tháng Tám thành công, đã thành những cảm nhận tinh tế trước một vũ trụ mới, một cuộc đời mới…Để có những tập thơ ca ngợi cuộc cách mạng thần thánh của nhân dân ta, những đổi thay lớn lao của cả một đất nước, một dân tộc; ông đã suy ngẫm và im tiếng suốt một thời gian dài” [46, tr.188]. Đúng vậy, một khoảng lặng dài suốt nhiều năm liền sau cách mạng, Huy Cận đã cho ra đời lần lượt những tập thơ thể hiện cái nhìn mới mẻ về cuộc sống. Đó là cái tôi trữ tình tự hào, ngợi ca về quê hương, đất nước, thiên
nhiên, ngợi ca về truyền thống đấu tranh anh dũng của cha ông ta, ngợi ca tinh thần lao động hăng say, xây dựng của con người Việt Nam ta,…Nhà thơ tự hào được là những người công dân lao động miệt mài, hi sinh cho Tổ quốc ngày càng vững mạnh. Nhà nghiên cứu Lê Đình Kỵ từng nhận định về lòng tự hào, ngợi ca trong thơ Huy Cận: “Tôi nghĩ thơ Huy Cận sẽ góp phần củng cố và phát huy ở anh chị em công nhân, nông dân ý thức và lòng tự hào về công việc của mình” [10, tr.422]. Lời nhận xét cũng đã cho ta thấy rất rõ trang thơ Huy Cận những năm sau Cách mạng đã chuyển sang một bước mới. Ngợi ca lao động hăng say của người dân ta trong thời kỳ mới, Huy Cận trân trọng và yêu biết bao những con người ngày đêm góp nhặt cho đời những mầm non xanh tươi. Lao động là vinh quang, và niềm vinh quang ấy lại càng được tăng hơn trong giai đoạn lịch sử lúc bấy giờ. Người nông dân vui tươi, hăng hái với gánh lúa trên đôi vai trĩu nặng mà trong lòng phơi phới “Thênh thênh tuổi trẻ gái sông Hồng/ Nắng mịn phù sa da mật ong/ Câu chuyện dừng chân tay nón quạt/ Trên vai, gánh lúa nhẹ đường không”. Người ngư dân cũng tự hào xiết bao khi được lao động hăng say mang về thật nhiều loại cá to, nhỏ muôn màu sắc giữa mẹ biển bao la: “Cá nhụ cá chim cùng cá đé/ Cá song lấp lánh đuốc đen hồng/ Cái đuôi em quẫy trăng vàng choé/ Đêm thở: sao lùa nước Hạ Long”(Đoàn thuyền đánh cá). Không chỉ có vậy, tinh thần lao động của họ còn thể hiện ở ước muốn mãnh liệt về một sức mạnh giành thắng lợi trước thiên nhiên, ước muốn đó đòi hỏi con người phải cật lực, lao vào dù phải khó nhọc đến đâu vẫn mong muốn đánh thắng mọi “chim trời cá biển”: “Ta vẽ cho thuyền đôi mắt to/ Nhìn thâu đáy biển, thấu chim trời/ Cá kình xáp phải, cá kình sợ/ Chim gặp chim truyền tin nắng mưa”. Đôi mắt của con thuyền soi sáng mọi biển khơi để có thể giúp cho người đánh những mẻ lưới thật bội thu, đôi mắt ấy còn đánh cả các loại cá dữ và giúp cho con người yên tâm mà ra khơi. Lúc này đây các anh chài lưới đã rất cần mẩn lao động, đã hòa chung
vào cuộc sống để cố gắng mang về những thành quả lớn góp phần làm giàu cho xã hội, cuộc đời. Niềm say mê đó thật đáng trân trọng, tự hào biết bao:
“Thuyền đóng rồi, buồm cũng đã phơi/ Gió chờ thuyền hạ đẩy ra khơi/ Chuốt thêm tay lái cho tròn nhạy/ Đi đến chốn, ta về đến nơi”.
Cùng với cái tôi trữ tình nhập cuộc, dấn thân vào đời sống để kết nên những vần thơ mang vẻ đẹp của lòng yêu quê hương, đất nước, dân tộc và vẻ đẹp của niềm tin ánh sáng cách mạng chói lói là cái tôi đầy tự hào của Huy Cận. Đó là niềm tự hào vì sự dũng cảm, đầy nhiệt huyết, sẵn sàng chiến đấu để bảo vệ Tổ quốc mỗi khi có giặc xâm lăng ở cha ông: “Đánh Mỹ là chuyện sự sống cái chết đặt lại hằng giờ hằng phút/ Phải sống anh dũng, không có cách nào hơn!/ Đánh Mỹ là mỗi đêm bước lên cầu Hàm Rồng, không nhụt, không run/Tay cầm ngọn lửa xanh êm rịt hàn xương thép”(Niềm tự hào). Cái tôi ngợi ca những anh hùng đã hi sinh anh dũng cho đất nước, sự hi sinh đó xứng đáng được “ghi danh muôn thuở” như những lời thơ xúc động tự tận đáy lòng của thi sĩ: “Những con người thường gọi vô danh/ Mà – mai mỉa – cuộc đời rất cụ thể/ Có đau khổ bằng xương dần, thịt xé/ Có tên ghi trong sổ kín mã tà/ Đời những anh hùng bằng thịt, bằng da/ Bằng lịch sử, bằng ngày đêm, sáng tối”.
Đất nước ta phải trải qua không biết bao cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm, và trong mỗi cuộc đấu tranh ấy, hình ảnh những người mẹ Việt Nam anh hùng luôn là niềm tự hào, kính yêu nhất được các thi sĩ ngợi ca, biết ơn. Để có thể giành được thắng lợi, giải phóng nước nhà, giành trọn vẹn non sông cho dân tộc phải kể đến sự hi sinh cao cả của những người mẹ Việt Nam. Hình ảnh người mẹ bao lần tiễn con đi là bao lần ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa, suốt cuộc đời sống vì dân vì nước, mẹ đã hi sinh thân mình để các anh chiến sỹ được sống, mẹ đã hi sinh những đứa con yêu dấu nhất của mẹ để Tổ quốc được có ngày độc lập. Huy Cận đã thấu hiểu tấm lòng của mẹ
bằng trái tim yêu thương, kính trọng vô ngần:“Những đứa con phải xa rời Tổ quốc/ Mẹ biết chăng, chỉ sống nửa tâm hồn/ Một nửa khác gửi với theo sóng nước/ Về quê cha đặng giữ thắm lòng son”(Tổ quốc). Lòng mẹ bao dung, hiền từ đã nuôi dưỡng cho bao nhiêu thế hệ các anh chiến sỹ qua các trận đánh ác liệt được nhà thơ ghi lại bằng tình yêu tha thiết nhất: “Việt Nam ơi!Nuôi đàn con những thuở/ Mẹ cắn răng không cho nước mắt trào/ Mẹ lấy sức vùng lên trong biển lửa/ Mẹ hôm này sừng sửng giữa trời cao”(Tổ quốc). Hình ảnh mẹ sống mãi trong trái tim mỗi người dân ta, không bao giờ có thể mất đi: “Mẹ Việt Nam, mẹ nghìn đời yêu dấu” (Tổ quốc). Những người mẹ đã thầm lặng hi sinh cho Tổ quốc ngày ấy, đã được Huy Cận tái hiện lại với biết bao niềm cảm thương:“Mẹ lẳng lặng chăm cho con từng chút/ Phiếu vải ưu tiên, cho con may quần dài khỏi tụt/ Bữa ăn mẹ gắp cho con những miếng thịt hiếm hoi/ Mẹ cũng ít mắng la con.“Nó sắp đến tuổi rồi”/ Mẹ trọng con, dẫu biết con chưa hết phần nhỏ dại/ Ôi lòng mẹ nuôi con cho Tổ quốc”. Tấm lòng người mẹ hiền từ biết bao, tình yêu mẹ giành cho con là cả biển trời mênh mông, vô tận: “Thương biết bao lòng mẹ già/ Con đi, quấn quýt mãi trong nhà/ Mở bồ thóc giống san con bớt/ Cảm thấy lòng gieo những hạt xa”(Bài thơ cuộc đời).
Tự hào thay đất nước ta, dân tộc ta có những con người anh dũng, vị tha, bao dung, hiền hòa như những người mẹ Việt Nam anh hùng. Dù phải có hi sinh những đứa con mà mẹ mang nặng đẻ đau, cưu mang, nuôi dưỡng đến ngày lớn khôn, dù phải cầm lòng, rứt từng khúc ruột mẹ cũng cam lòng vì non sông, Tổ quốc cần có mẹ, cần có các con của mẹ: “Con mẹ bốn trai: ba giải phóng/ Một người lầm lạc: đứa nào xui?”. Mẹ luôn là người động viên, vỗ về an ủi các con trên mỗi bước đường tương lai và trong chiến tranh ác liệt, mẹ là hậu phương vững chắc cho các con yên tâm đánh giặc: “Ngủ đi con !Trọn canh thâu/ “Hậu phương” có má đằng sau thức rồi”.
Không chỉ có niềm tự hào, ngợi ca về những người mẹ Việt Nam anh dũng mà Huy Cận còn thể hiện cái tôi trữ tình ngợi ca đối với những người vợ, với những người chị đã hết lòng hết dạ vì sự nghiệp giải phóng dân tộc và một sự anh dũng hi sinh xương máu, họ không lùi bước trước bao khó khăn dù là ở hậu phương hay nơi tiền tuyến. Họ luôn hoàn thành tốt chức trách của một người vợ chăm lo nuôi dưỡng các con để chồng yên tâm đánh giặc, không chỉ vậy, họ còn là động lực tiếp thêm sức mạnh để các chiến sỹ ta vững tin vào thắng lợi. Họ tự hào khi biết tin quân ta giành thắng lợi lớn: “Hôm nay anh ở chiến trường nào ?.../ Quân ta thắng trận đường ni/ Lòng em cũng có chút chi tự hào”. Niềm tự hào như tiếp thêm cho bao thế hệ người đọc một tình yêu tha thiết với cha ông ta. Tình cảm yêu mến và hi sinh cao cả của những người vợ cũng được kết thành những dòng thơ với cái tôi dạt dào cảm xúc tự hào: “Tình em gốc cội cho anh dựa/ Sương đọng bình minh rụng trước thềm”. Không chỉ tài năng hơn người ở tầm hiểu biết mà Huy Cận còn là người luôn biết lắng nghe. Tác giả lắng nghe và thấu hiểu một cách sâu sắc nhất những vẻ đẹp vốn có của các chị, các mẹ, đó cũng là hình ảnh luôn được ngợi ca trong thơ ông: “Có phải không, các chị ơi, dân tộc/ Suốt dọc thời gian chịu khó chịu thương/ Quyết giữ nước và bền gan dựng nước/ Cũng bởi sơ sinh là dạ gái can trường”.
Niềm tự hào và ngợi ca đức hi sinh, lòng quả cảm của hình ảnh những người phụ nữ trong thơ Huy Cận không khiến người đọc cảm thấy thái quá, mà ngược lại rất đỗi cảm động. Nhà thơ luôn tin và tự hào rằng đất nước ta sẽ còn rất nhiều những nữ anh hùng như chị La Văn Tám trong câu chuyện Những cô gái ngã ba Đồng Lộc: “Khắp năm châu còn nhiều La Thị Tám/
Nhiều Võ Thị Tần/ Đường sẽ thông xe đi về cách mạng”.
Cùng với niềm tự hào, ngợi ca về con người, lao động là niềm tự hào của cái tôi trữ tình vì được sống trong một đất nước, một miền quê có phong
cảnh hữu tình, giàu đẹp. Quê hương ông đã không còn là một miền quê cằn cội, nghèo khổ khi miền bắc được hoàn toàn giải phóng. Nhà thơ từ chỗ đau thương, xót xa, buồn khổ cho cảnh đói nghèo của quê nhà trở nên vui tươi vô ngần vì quê hương ngày một khởi sắc. Niềm tự hào, ngợi ca về miền quê hương nơi có những kỷ niệm của tuổi thơ hằng sâu trong trái tim nhà thơ:“Về thăm quê xã Đức Ân/ Êm êm đất cát bước lần bãi sông/ Ngô non lá mượt màu nhung/ Mía ken san sát, khoai vồng rậm dây”(Về thăm quê xã Đức Ân).