Hành trình sáng tác thơ Huy Cận

Một phần của tài liệu Cái tôi trữ tình trong thơ huy cận (Trang 27 - 31)

CHƯƠNG 1. HUY CẬN VÀ CON ĐƯỜNG HÌNH THÀNH CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ

1.2. QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC THƠ

1.2.2. Hành trình sáng tác thơ Huy Cận

Huy Cận là một trong những nhà thơ nổi tiếng của phong trào Thơ Mới, được đông đảo bạn đọc yêu mến. Ông sinh ra và lớn lên trong một gia đình Nho giáo, cả bố và mẹ đều rất yêu thích văn chương. Trải qua hành trình

dài sáng tác thơ, Huy Cận đã rất xuất sắc khi mang đến cho cuộc đời những trang thơ có giá trị to lớn.Mở đầu cho sự nghiệp văn chương của Huy Cận là những bài bình thơ đăng trên các báo như Tràng An, Sông Hương, …Và sau đó cùng với những bài bình thơ, bài nghiên cứu thơ là các bài thơ của ông lần lượt có mặt ở các tờ báo, trong đó phổ biến nhất là báo Ngày nay. Cũng như bao nhà thơ lớn khác, Huy Cận dần dần sáng tác thật nhiều những bài thơ được đông đảo bạn đọc yêu thích. Để dễ theo dõi và tìm hiểu thơ Huy Cận, ta đi vào trang thơ của ông ở hai giai đoạn, trước và sau Cách mạng tháng Tám 1945.

Thơ Huy Cận những năm trước Cách mạng tháng tám 1945 phải nhắc đến trươc tiên là tập thơ đầu tay Lửa Thiêng (1940). Thời gian này, Huy Cận cùng sống với Xuân Diệu tại số 40 Hàng Than-Hà Nội. Đôi bạn thân thiết với nhau như hình với bóng này đã làm nên những vần thơ mãi mãi ghi dấu ấn trong trái tim bạn đọc. Tập thơ gồm có 50 bài,và vừa ra đời Lửa Thiêng đã nhanh chóng được nhiệt liệt đón nhận từ phía độc giả ở mọi lứa tuổi, thành phần. Không phải ai cũng có được một sự cảm nhận tinh tế, một cái nhìn chín chắn, trải nghiệm về tình đời, tình người ở tuổi còn rất trẻ như Huy Cận. Nhà thơ đã sáng tác tập thơ đầu tay Lửa Thiêng khi mới vừa tròn hai mươi mốt tuổi. Tiếp nối cho nguồn mạch thơ của ông là tập thơ Vũ trụ ca (1942). Sự ra đời của tập thơ này đã dần dần khẳng định hơn nữa vị trí của Huy Cận trên thi đàn. Giờ đây, nỗi buồn của tác giả tìm về với không gian vũ trụ mênh mông, bất tận, tiếng thơ lúc này đã trở nên hòa nhập vào tạo vật, tìm nguồn vui lớn từ thiên nhiên vũ trụ bao la như chính nhà thơ tự bạch “Có lẽ tạo vật đau thương, đất trời vắng lạnh vì nỗi lòng ta xa cách tạo vật đó thôi. Ta hãy trở về, ta hãy nhập cuộc, có nhịp sống đưa nâng, có dòng đời xô đẩy, cái vui lớn, cái vui trọng đại dâng sóng tràn khắp cõi đời”.

Sau Cách mạng tháng Tám, Huy Cận cũng như nhiều nhà thơ Cách mạng khác khi bắt gặp được ánh sáng, được lí tưởng của Cách mạng soi rọi thì bừng sáng như tiếng reo vang của Tố Hữu trong “Từ ấy”: “Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ/ Mặt trời chân lí chói qua tim/ Tâm hồn tôi là một vườn hoa lá/

Rất đậm hương và rộn tiếng chim ca”(Từ ấy). Đó cũng là niềm vui của Huy Cận khi bắt gặp được ánh sáng cách mạng, nhưng để đi từ “thung lung đau thương đến cánh đồng vui” là một điều không dễ trong thời gian ngắn mà phải qua một quá trình để thay đổi. Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, trong suốt thời kỳ chống Pháp khốc liệt để tiến tới ký kết Hiệp định Giơnevơ, nhà thơ Huy Cận dường như không thấy xuất hiện trên thi đàn với những tác phẩm thơ. Sau một thời gian khá dài như để mọi nỗi niềm khắc khoải dồn nén, đến 1958, ông mới cho ra đời tập Trời mỗi ngày lại sáng. Tập thơ được viết sau đợt đi thực tế lao động tại Hồng Gai.

Liên tiếp những năm sau đó, nhà thơ đã sáng tác các tập thơ: Ðất nở hoa (1960), Bài thơ cuộc đời (1963), Hai bàn tay em (1967), Những năm sáu mươi (1968),Cô gái Mèo (1972), Chiến trường gần đến chiến trường xa (1973), Những người mẹ, những người vợ (1974), Ngày hằng sống, ngày hằng thơ (1975),Hạt lại gieo(1984).

Ngay nhan đề của các tập thơ ở giai đoạn sau Cách mạng, cũng đã cho người đọc một cảm nhận về nội dung. Đó là những vần thơ tươi vui hơn, trong sáng hơn khi tác giả hòa nhập vào cuộc sống với niềm tin mới ở đất nước. Có thể nói, cuộc Cách mạng tháng Tám thành công đã mở ra cho dân tộc ta một trang sử vẻ vang, và chính vì thế cũng đã đem lại cho cuộc sống của con người những niềm vui mới, niềm vui của con người được sống trong độc lập tự do, thoát khỏi nỗi thống khổ nô lệ. Dù rằng để tiến tới thành công rực rỡ, đất nước sạch bóng quân thù, nhân dân ta cũng phải trải qua, nhưng Cách mạng vẫn là động lực, là lí tưởng để mọi người đặt niềm tin vào đó mà

phấn đấu. Đây cũng là giai đoạn đánh dấu một bước chuyển biến lớn trong thơ Huy Cận. Mỗi tập thơ, trang thơ ông trong thờ kỳ này là một nỗ lực lớn, tự vượt lên chính mình để dần dần khẳng định sự góp mặt vào cuộc sống mới.

Vì thế, thơ Huy Cận giai đoạn này ítnỗi buồn, thay vào đó là cái nhìn tươi vui hơn. Đặc biệt, vào những năm kháng chiến chống Mỹ, thơ Huy Cận thể hiện tính thời sự cao và tập trung ngợi ca chủ nghĩa anh hùng cách mạng, ca ngợi sức quật cường, mãnh liệt, sự bền bỉ, bất diệt và phong thái lạc quan của con người Việt Nam.

Huy Cận không chỉ được bao thế hệ bạn đọc yêu mến qua những vần thơ chan chứa tình yêu quê hương, đất nước, con người sâu sắc mà còn bởi ở một tâm hồn trong sáng yêu tuổi thơ tha thiết. Nhà thơ có trái tim nhân hậu đã trãi lòng mình trước những mầm non bé nhỏ của cuộc đời để kết thành trang thơ thiếu nhi vừa hồn nhiên, trong sáng và dễ thương. Ông rất yêu mến và luôn quan tâm đến những em nhỏ. Đọc tập thơ Hai bàn tay em của ông, người đọc bắt gặp ở đó là những cảnh vật rất đỗi gần gũi với cuộc sống của trẻ em, những con vật ở xung quanh ta vì thế cũng trở nên sinh động hơn dưới ngòi bút của Huy Cận như: con ve, con cóc, con dế, cái chong chóng… Qua những trang thơ viết cho trẻ em, nhà thơ muốn gửi đến cả những người lớn bài học giáo dục sâu sắc về lòng yêu quê hương, đất nước, yêu con người, yêu dân tộc, yêu lao động,... Nhẹ nhàng mà sâu lắng, trang thơ viết cho thiếu nhi của Huy Cận không là những lời giáo huấn khô khan, cứng nhắc mà rất đỗi hồn nhiên, ngộ nghĩnh nên dễ đi vào tâm trí trẻ thơ. Ai không yêu mến một hồn thơ vừa trong sáng vừa ngộ nghĩnh như câu thơ“Buổi trưa lim dim/ Nghìn con mắt lá/ Bóng cũng nằm im/ Trong vườn êm ả”.

Đại thắng mùa xuân năm 1975, đất nước được giải phóng hoàn toàn, bắc nam sum họp một nhà, đất nước trở về với thời bình và bước vào công cuộc kiến thiết, đổi mới, nhà thơ Huy Cận với bút lực dồi dào vẫn sáng tác đều đặn.

Những tập thơ tiêu biểu ở giai đoạn này là: Ngôi nhà giữa nắng (1978), Hạt lại gieo (1984), Chim làm ra gió (1989), Lời tâm nguyện cùng hai thế kỷ (1997). Và tiếp tục những trang thơ đầy suy tưởng, hướng nội, chiêm nghiệm về ý nghĩa nhân sinh cao cả từ những biểu hiện bình dị, giản đơn của cuộc sống đời thường.

Những tập thơ có giá trị to lớn mà Huy Cận để lại, đã khẳng định vị trí cũng như tầm quan trọng của nhà thơ trong văn học nước nhà. Không phải ai cũng có thể sáng tạo nghệ thuật một cách bền bỉ và không ngừng như Huy Cận. Và để có thể đem lại cho cuộc đời một khối lượngthơ lớn như vậy, cùng với một tài năng hơn người, một trí tuệ uyên bác, một phong cách độc đáo, ở ông còn có một niềm đam mê nghệ thuật cháy bỏng.

Một phần của tài liệu Cái tôi trữ tình trong thơ huy cận (Trang 27 - 31)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(124 trang)