CHƯƠNG 1. HUY CẬN VÀ CON ĐƯỜNG HÌNH THÀNH CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ
1.3. VỊ TRÍ HUY CẬN TRONG DÒNG MẠCH CỦA THƠ CA HIỆN ĐẠI VIỆT NAM
1.3.2. Huy Cận và thơ sau Cách mạng
Cách mạng tháng Tám đã đưa dân tộc ta thoát khỏi ách nô lệ, mở ra một trang sử mới đầy tươi sáng. Cách mạng cũng ảnh hưởng rất lớn đến các văn nghệ sỹ lúc bấy giờ, trong đó có Huy Cận. Chuyển từ một lối viết buồn sâu thẳm, não nề, nhà thơ đã đem đến cho bạn đọc những tiếng thơ tràn ngập khí thế, nhiệt huyết của lí tưởng sống, của khát vọng vươn lên thoát khỏi cuộc sống tù đày. Giọng điệu thơ dần dần thoát khỏi trầm buồn để thay bằng giọng vui vẻ, lạc quan hơn. Cái tôi trữ tình trong giai đoạn này hòa nhập với cuộc đời, với nhân dân. Thế nhưng, không phải ngày một ngày hai cái tôi với tâm hồn đa cảm, đa sầu trong thơ Huy Cận nhanh chóng chuyển sang cái tôi vui vẻ, nhiệt huyết hơn mà phải qua thời gian. Phải đến năm1958, ông mới cho ra đời tập thơ Trời mỗi ngày lại sáng. Hòa chung với các tác giả thơ cùng thời, Huy Cận thể hiện cái tôi trữ tình với tình yêu quê hương, đất nước sâu sắc.
Giai đoạn này, quá trình hiện đại hóa văn học đang diễn ra đòi hỏi các tác giả thơ phải vượt qua được “từ trường” của Thơ Mới để có một bước phát triển mới. Ở giai đoạn này, đất nước ta phải tiến hành hai nhiệm vụ, đó là cuộc đấu
tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Từ năm 1945 đến 1954 đất nước phải đương đầu với bọn thực dân Pháp xâm lược. Các tác giả thơ Việt Nam hiện đại phần lớn là những tác giả đã nổi tiếng trong phong trào Thơ Mới, họ đến với cách mạng bằng tất cả niềm tin. Ở giai đoạn này, Huy Cận tạm lắng ngòi bút để chiêm nghiệm và nung nấu tâm hồn để rồi đến giai đoạn kháng chiến chống Mỹ, nhà thơ mới xuất hiện trở lại trên thi đàn. Thơ ca giai đoạn này trưởng thành vượt bậc. Lớp nhà thơ tiền chiến đã qua giai đoạn “chuyển nhựa lên cành và bắt đầu chín với thực tế mới”. Phong cách nghệ thuật của họ không chỉ định hình mà còn phát triển.
Trong những xu hướng chủ yếu của giai đoạn này, đó là chất suy tưởng trong thơ. Ở xu hướng này, hiếm tác giả nào có thể so với Huy Cận. Phải thấy rằng vị trí của nhà thơ trong giai đoạn sau cách mạng luôn được khẳng định ở tầm cao. Với Đất nở hoa, Trời mỗi ngày lại sáng,… Tác giả đã đem đến cho cuộc đời những bài thơ giàu chất suy tưởng và tư duy sâu sắc. Nhà thơ như muốn ôm hết vũ trụ vào cuộc sống để thỏa cơn khát tình yêu với thiên nhiên, vũ trụ, đất nước. Cảm thức vũ trụ luôn chiếm lấy trái tim thi nhân ngay cả khi chết đi rồi vẫn không nguôi khát vọng ấy: “Rồi một ngày kia hết ở đời/ Cho ta theo biển khỏa chân trời/ Điều chi chưa nói xin trao sóng/ Lấp lánh hồn ta mặn gió khơi” (Ta viết bài thơ gọi biển về).
Nói đến đề tài sáng tác sau Cách mạng của Huy Cận, Ngô Văn Phú trong bài viết “Huy Cận và vũ trụ ca” đã có sự so sánh với Lửa thiêng trước đó: “Khác với những dòng thơ của Lửa thiêng, những cảm hứng thơ thời kỳ này đã được Huy Cận thêm vào chất trí tuệ, tính lý tưởng đầy thuyết phục…
Thơ ông nhấn mạnh đến tính thời đại của cuộc kháng chiến vì độc lập tự do, vì hòa bình của nhân loại... Tiếng thơ ông không những có mặt bên những chiến hào chống Mỹ mà còn được dịch ra nhiều thứ tiếng, hòa đồng với những tiếng thơ của các nhà thơ nổi tiếng khác, trong những năm lịch sử hào
hùng, được các bạn bè năm châu đón nhận” [46, tr.190]. Qua hành trình sáng tác từ những năm sau Cách mạng mà Huy Cận đã để lại cho cuộc đời, một lần nữa ta có thể khẳng định tầm quan trọng, vị trí hết sức to lớn của nhà thơ trong tiến trình sáng tác thơ. Cùng với một đội ngũ lớn “hùng dũng” của thơ ca sau Cách mạng, Huy Cận cũng đã có những đóng góp quan trọng ở cả nội dung, giá trị tư tưởng và cả nghệ thuật đặc sắc, xứng đáng được ngợi ca không chỉ đối với nhân dân ta, mà còn với cả thế giới.
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Huy Cận là một trong những nhà thơ tiêu biểu của phong trào Thơ Mới.
Ông đã để lại cho đời một kho tàng thơ đồ sộ vừa chứa đựng giá trị nội dung tư tưởng vừa giàu giá trị nghệ thuật. Tác giả luôn nhận thức được trách nhiệm của người nghệ sỹ đối với cuộc sống, với nhân dân, đất nước,…Quan niệm thơ của Huy Cận thể hiện tính nhân văn cao cả. Nhà thơ sống, chiến đấu và lao động nghệ thuật một cách say mê, không mệt mỏi. Chúng ta nhận thấy ở quan niệm nghệ thuật của tác giả có sự thay đổi và biến chuyển theo thời gian.
Nói về thơ trước cách mạng, ông từng tự nhận xét rằng: “Trước cách mạng, thơ tôi rất buồn, không phải buồn về số phận cá nhân, mà buồn về cuộc đời;
cái buồn ấy của tôi được các nhà nghiên cứu, bình luận là cái buồn nhân thế, cái sầu đau đời”[8, tr.112]. Sau cách mạng, quan niệm của nhà thơ thay đổi:
“sau này, sống cách mạng và sống bên cạnh Bác Hồ, thấm đẫm tư tưởng, tình cảm dân tộc của Bác, tôi nhớ nhiều đến cha ông, đến cái hào hùng, và cả cái đau xót, đau đời của cha ông” [8, tr.112].Ở cả hai giai đoạn trước và sau cách mạng, nhà thơ đều thể hiện ngòi bút xuất sắc khi đi vào khám phá hiện thực cuộc sống. Trải qua bức tường thời gian, Huy Cận vẫn giữ được vị trí quan trọng trong phong trào Thơ Mới nói chung và thơ Việt Nam nói riêng.