Cái tôi sầu muộn, lạc loài

Một phần của tài liệu Cái tôi trữ tình trong thơ huy cận (Trang 37 - 48)

CHƯƠNG 2. NÉT ĐẶC SẮC CỦA CÁI TÔI TRỮ TÌNH THƠ HUY CẬN

2.1. CÁI TÔI SẦU MUỘN VÀ ĐẬM CHẤT CỔ ĐIỂN

2.1.1. Cái tôi sầu muộn, lạc loài

Cái tôi trữ tình trong thơ Huy Cận đa dạng, phong phú với muôn cung bậc tình cảm khác nhau. Trước cách mạng tháng Tám, đó là cái tôi sầu muộn, lạc loài. Cái tôi trữ tình mang đặc điểm “sầu muộn”, “lạc loài” này được Huy Cận thể hiện nhiều nhất qua tập thơ đầu tay Lửa thiêng (1940) và được các nhà nghiên cứu nhận định nỗi buồn trong thơ ông xuất xứ từ rất nhiều những nguyên nhân khác nhau: “Lửa thiêng dằng dặt một nỗi buồn nhân thế, triền miên những nỗi đau đời...Nỗi buồn của Huy Cận thời Lửa thiêng là kết quả của quá trình lắng nghe tinh tế nhịp sầu vũ trụ và nỗi buồn nhân gian, là sự ý thức về thân phận con người trong cuộc đời nô lệ...” [10, tr.7].

Đọc thơ Huy Cận, ta thấy nhà thơ dễ xúc động trước một chuyện tình đầy trắc trở, một tình yêu mộng mơ, lãng mạn, một vẻ đẹp bao la của vũ trụ, của quê hương, đất nước, hay một nỗi niềm tâm sự về nhân sinh, về cuộc đời,…và hơn thế, ta dễ bắt gặp tâm hồn mình trong nỗi buồn, cô đơn, lạc loài của thi nhân. Nhất là trong mỗi bài thơ của Huy Cận, nỗi sầu muôn thuở như kéo dài, thấm vào lòng người để rồi lan tỏa đến cảnh vật như kiểu “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”(Nguyễn Du).Cái tôi thi nhân buồn và cảm thấy lạc loài, chơi vơi, không tìm được lối thoát. Chính nỗi buồn, nỗi cô đơn trong những tác phẩm của Huy Cận đã làm cho thơ của ông trở nên có hồn hơn, gần gũi hơn. Hóa ra cái “buồn buồn”, trong thơ không phải là cái khiến người đọc cảm thấy “chán ngắt” mà lại tạo nên sự cuốn hút “dễ thương”, dễ đi vào lòng người. Những vần thơ Huy Cận trước cách mạng tháng Tám mà tiêu biểu nhất là tập thơ “Lửa Thiêng” man mác những nỗi buồn, nỗi cô đơn, lạc loài. Ta

thử đặt ra câu hỏi tại sao cái tôi tác giả lại buồn nhiều đến vậy?. Phải chăng do sự đa cảm, đa sầu trong chính tâm hồn thi nhân?. Quay trở lại với dòng Thơ mới lúc bấy giờ, ta không chỉ tìm thấy một Huy Cận “buồn điệp điệp”mà rất nhiều tác giả như Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên,…cũng đều rất buồn dù sự thể hiện nỗi buồn khác nhau. Đây là nỗi buồn chung của thời đại.Cái tôi trữ tình trong thơ Huy Cận vì thế luôn thao thức buồn trước thực tại xã hộị tăm tối: “Tôi đội tang đen cùng mũ trắng/ Ra đi không hẹn ở trên đường”(Giấc ngủ chiều).

Trái tim nhân văn của thi nhân “khô khéo” vì đau buồn trước hiện thực phũ phàng của xã hội. Nhà thơ không chỉ thốt lên lời than thở mà còn có cả những giọt nước mắt từ trong thẳm sâu “chưa tan”, chưa nguôi ngoai của mình: “Trước Thượng đế hiền từ tôi sẽ đặt/ Trái tim đau khô héo thuở trần gian/ Tôi sẽ nói:“Này đây là nước mắt/ Ngọc đau buồn, nguyên khối vẫn chưa tan”(Trình bày). Ta chợt nhớ đến nhà thơ Tản Đà cũng có chung nỗi buồn khi than thở “Đêm nay buồn lắm chị Hằng ơi/ Trần thế em nay chán nữa rồi…”

Nỗi niềm trăn trở, buồn đau của nhà thơ Huy Cận – nỗi buồn của một người dân mất nước, mất tự do. Cũng như bao nhà thơ lãng mạn cùng thời, Huy Cận cảm thấy như bị tù đầy, ngột ngạt khi bị cướp đi quyền tự do, dân chủ:

“Chàng Huy Cận khi xưa hay sầu lắm/ Gió trăng ơi! nay cònnhớ người chăng?/ Hơn một lần chàng đã gửi cho trăng/ Nỗi hiu quạnh của hồn buồn không có/ Thuở chàng sống thì lòng chàng hay nhớ/ Nỗi nhớ thương không biết đã tan chưa/ Hay lòng chàng vẫn tủi nắng, sầu mưa/Cùng đất nước và nặng buồn sông núi?”(Mai sau). Khi phải chứng kiến cảnh nhân dân rơi vào lầm than, nô lệ, tâm hồn thi nhân thương xót, đau đớn thay. Bởi vậy cái buồn trong thơ Huy Cận luôn xuất phát từ tình yêu quê hương, đất nước, con người tha thiết “có cái gốc từ lòng yêu đời, từ tình yêu quê hương, đất nước. Nỗi buồn ấy không chán chường, bi lụy mà trong trẻo, dễ cảm thông và được

nhiều người đồng cảm” [50, tr.48]. Đồng cảm và chia sẻ với nỗi buồn của tác giả nên những vần thơ Huy Cận bao giờ cũng dễ đi vào lòng người, bởi ở đó là những lời tâm sự chân thành, sâu lắng. Nỗi sầu da diết, sầu và cảm thấy cô đơn, lạc loài giữa cuộc đời ấy cũng chính là nỗi sầu của hàng vạn người dân ta thời bấy giờ như lời nhận xét của Trần Đình Việt “Nỗi buồn của Huy Cận mong manh, vương vấn như sương khói mà có sức gợi cảm sâu xa, xuyên thấu những lớp vỏ bọc xơ cứng tâm hồn, giúp lòng người dễ gần gũi nhau hơn, dễ cảm thụ được cái đẹp thường ngày,…” [10, tr.555]. Nỗi buồn của một người dân mất nước không chỉ đeo bám lấy Huy Cận những năm trước cách mạng với tập “Lửa Thiêng” mà đến với “Bài thơ cuộc đời” cảm hứng thơ đã thay đổi nhưng nỗi buồn vẫn dai dẳng mãi theo ông. Chẳng hạn trong bài thơ “Các vị La Hán chùa Tây Phương”. Mỗi một khuôn mặt, một dáng hình của các vị La Hán đều được thể hiện với những nỗi buồn đau riêng nhưng lại có chung một nỗi đau lớn, đó phải chăng là nỗi đau của cha ông ta khi rơi vào cảnh mất nước, nô lệ: “Mỗi người một vẻ, mặt con người/ Cuồn cuộn đau thương cháy dưới trời/ Cuộc họp lạ lùng trăm vật vã/ Tượng không khóc cũng đổ mồ hôi”.Với bài thơ này, người đọc vẫn cảm nhận được nỗi buồn của nhà thơ những năm trước cách mạng “Mặt cúi nghiêng, mặt ngoảnh sau/ Quay theo tám hướng hỏi trời sâu/ Một câu hỏi lớn. Không lời đáp/ Cho đến bây giờ mặt vẫn chau”.Tác giảđi tìm câu trả lời cho nỗi đau muôn thuở ấy, nhưng rồi cũng đành bất lực trước cuộc đời đầy nghiệt ngã. Trong Thơ mới ta từng bắt gặp một Chế Lan Viên với những nỗi sầu, nỗi cô đơn, trăn trở của một người dân mất nước, đó là một nỗi đau quá lớn của dân tộc, nhà thơ cũng đã từng thốt lên lời thở than “Với tôi tất cả đều vô nghĩa/ Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau!” (Xuân).Còn đối với Huy Cận nỗi buồn đó cũng không kém phần đau khổ, dù rằng thiên nhiên, đất trời vẫn đang rất đẹp.Buồn đến tang thương, đến nao lòng người và không có một sự hi vọng, một niềm tin le lói. Trước nỗi

buồn đó, tác giả như lạc loài, cô đơn giữa cuộc đời. Ngay từ những dòng thơ đầu của bài thơ người đọc đã bắt gặp nỗi buồn của cái tôi trữ tình lan cả ra không gian và kéo dài theo thời gian: “Thức dậy, nắng vàng ngang mái nhạt/

Buồn gieo theo bóng lá đung đưa/ Bên thềm - Ai nấn lòng tôi rộng/ Cho trải mênh mông buồn xế trưa” (Giấc ngủ chiều).

Phải yêu cuộc đời, yêu quê hương, đất nước, con người sâu sắc, nhà thơ mới có thể cảm thông và đau đớn, sầu muộn nhiều đến vậy. Tác giả không thể ơ hờ, thờ ơ trước những mất mát đau thương của người dân ta, nhưng nỗi buồn của nhà thơ như cũng trong vòng lẩn quẩn, không lối thoát. Không chỉ có Huy Cận mà nhiều thi nhân khác lúc bấy giờ cũng bất lực nhìn thời cuộc.

Tình yêu quê hương, đất nước vẫn mãi âm ỉ từng ngày, từng giờ nhưng tình yêu ấy không sôi nổi, không vô vập, vội vã, ồn ào mà thầm lặng và sâu sắc.

Nhà thơ buồn vì thực tại đầy ngăn cách, tang thương: “Ai chết đó? Nhạc buồn chi lắm thế!/ Chiều mồ côi, đời rét mướt ngoài đường/ Ảo não quá trời buồn chiều vĩnh biệt”(Nhạc sầu).Ta bắt gặp một nỗi buồn tương tự ở thơ Chế Lan Viên với Điêu tàn.Đó là sự gặp gỡ trong nỗi cô đơn của các nhà thơ lãng mạn có chung một nỗi buồn với cuộc đời “Đây, những cảnh ngàn sâu cây lả ngọn/

Muôn ma Hời sờ soạng dắt nhau đi”(Trên đường về).

Xuất phát từ một tình yêu sâu sắc, nặng lòng với quê hương, đất nước nên trong thơ Huy Cận tâm trạng buồn đau luôn hiện hữu. Đó là nỗi đau chia ly, nỗi đau bị chà đạp, dày xéo. Nhà thơ buồn trước cái nghèo khổ, cơ cực của nhân dân trong thời buổi loạn lạc khi mà “Đôi guốc năm hiên kéo bốn mùa/

Tiền nhà ít gởi biết chi mua”(Học sinh). Tuy Huy Cận không nói nhiều về nỗi thống khổ, thiếu thốn của bản thân cũng như cái nghèo túng của bao người dân ta bấy giờ như nhiều nhà thơ khác nhưng thấp thoáng đâu đó, người đọc vẫn cảm nhận được gương mặt người dân qua hình ảnh nhỏ bé, khổ đau: “Bạn tôi nhìn kỹ mới hay rằng/ Họ giống bà con trong xóm làng/ Cũng áo quần nâu

gầy guộc/ Ở đây không thấy kẻ giàu sang”. Đây còn là những vần thơ thể hiện cái nhìn nhân văn, nhân ái của tác giả về con người.Giàu nghèo, sướng khổ trên cuộc trần này cũng không còn ý nghĩa gì khi chết đi bị đày xuống địa ngục thì ai cũng như nhau.

Cùng với nỗi buồn, nỗi đau vì quê hương, đất nước, Huy Cận còn buồn vì cuộc đời, vì thế thái nhân tình. Nhà thơ cảm thấy cô đơn, lạc loài, lẻ loi trước cuộc đời. Bao nhiêu khao khát giao cảm với đời, với người của thi nhân dường như không được tìm thấy, không được thỏa mãn. Là một trí thức, Huy Cận cũng như bao trí thức khác cố vùng vẫy để giao cảm với đời nhưng đành bề tắc và bất lực. Nhà thơ cảm nhận sâu sắc nỗi buồn “thế hệ” của bản thân, một nỗi buồn như bị cuộc đời thờ ơ, bỏ quên, lạnh nhạt. Cái tôi trữ tình buồn, sầu đến vô cùng của nỗi đau, cái tôi sầu ấy đã đạt đến độ “chín” chỉ chực trào dâng. Một sự bế tắc, không lối thoát nào “Hỡi Thượng Đế! tôi cúi đầu trả lại/

Linh hồn tôi đà một kiếp đi hoang/ Sầu đã chín, xin Người thôi hãy hái!/

Nhận tôi đi, dầu địa ngục, thiên đường”(Trình bày). Người đọc có thể cảm nhận được tình yêu quê hương, đất nước, yêu cuộc đời một cách tha thiết hòa quyện vào cuộc sống của mình. Càng yêu bao nhiêu càng đau đớn, quằn quại bấy nhiêu bởi không thể làm gì khác: “Tôi đâu biết thịt xương là sông núi/

Chia biệt người ra từng xứ cô đơn”(Trình bày).Và khi không tìm được niềm giao cảm, nhà thơ cảm thấy hụt hẫng, thất vọng vô cùng Tuổi non dại lòng tôi say mến bạn/ Khi thanh xuân, tôi mỏi chạy theo tình/ Nhưng cô độc đã thầm ghi trên trán/ Lòng lạc loài ngay từ thuở sơ sinh”(Trình bày). Huy Cận từng cho rằng mình buồn “vô cớ”. Nhưng suy cho cùng nỗi buồn, nỗi lạc loài cô đơn của nhà thơ là hoàn toàn “có cớ”. Cũng như nhiều trí thức khác, Huy Cận luôn mong muốn được đem hết tài năng để phục vụ cho cuộc đời nhưng không thể. Vậy nên thi nhân luôn cảm thấy cô đơn, lạc loài và sầu dài theo ngày tháng, ngao ngán, não nề thay để rồi kết lên thành những vần thơ thấm

đẫm nỗi buồn sâu lắng “U sầu chắc hẳn đang nhanh bước/ Lưng khọm ngàn năm đến chỗ tôi” (Buồn).Nhà thơ thương cho mình và cho tất cả những con người đang phải cùng chung số phận với mình. Cũng như Vũ Hoàng Chương có lúc đau đớn đến nghẹn ngào cho số phận của kiếp người:“Lũ chúng ta đầu thai nhầm thế kỷ/ Một đôi người u uất nỗi chơ vơ/ Đời kiêu bạc không dung hồn giản dị/ Thuyền ơi thuyền! Xin ghé bến hoang sơ” (Phương xa).

Có thể nhận thấy rằng, xuyên suốt Lửa Thiêng của Huy Cận là cả một

“khối u sầu” trĩu nặng qua từng bài thơ, câu thơ. Và không chỉ riêng gì Lửa Thiêng, nỗi buồn như một “căn bệnh tinh thần của các nhà thơ lãng mạn”

bấy giờ cũng dai dẳng trong rất nhiều lời thơ. Nhưng đó không chỉ là nỗi buồn riêng tư, cá nhân một nhà thơ mà còn là nỗi buồn chung. Bởi thế, có người cho rằng: “Thơ Huy Cận buồn, căn bệnh tinh thần của thế hệ không dễ đổi thay, nhưng nỗi buồn của Lửa thiêng không mang tính riêng tư, không gắn liền với dục vọng, đam mê để rồi chán chường, tuyệt vọng” [48, tr.57]. Dường như chạm đến đâu trong Lửa Thiêng của Huy Cận, người đọc cũng bắt gặp nỗi buồn ở đó. Nỗi cô độc và lạc loài thật quá đáng sợ đối với thi sĩ.

Yêu mến Huy Cận bao nhiêu, ta càng thấm và hiểu sâu sắc hơn một cái tôi trữ tình sầu muộn, cô đơn của tác giả qua mỗi trang thơ. Cái tôi buồn ấy rất đáng được người đời trân trọng vì đó là nỗi đau lớn của cả một dân tộc, một thế hệ đi trước. Nỗi đau ấy mãi mãi cho đến ngàn sau vẫn không thể não quên được, đó cũng là nhờ vào những trang thơ của các nhà thơ vừa có tài vừa có tâm như Huy Cận.

2.1.2. Cái tôi nhuốm màu sắc cổ điển

Sự bùng nổ của phong trào Thơ Mới đã kéo theo sự bùng nổ của quan niệm nghệ thuật về con người cũng như nhiều quan niệm về nhân sinh quan, thế giới quan. Tuy nhiên, sự ra đời và phát triển mạnh mẽ của Thơ Mới không chỉ là sự sáng tạo nên những điều mới mẻ về giá trị nội dung, tư tưởng và hệ

thống thi pháp học mà còn là sự tiếp thu, tiếp nối có chọn lọc tinh hoa của thơ xưa, thơ cổ. Chính vì lẽ đó, trong rất nhiều bài thơ của Huy Cận – một trong những tác giả tiêu biểu của Thơ Mới, người đọc vẫn tìm thấy ở đó là hình tượng cái tôi trữ tình nhuốm màu sắc cổ điển. Cái tôi trữ tình nhuốm màu sắc cổ điển trong thơ ông được bộc lộ qua cảm hứng thơ, nhà thơ thường hướng đề tài đến thiên nhiên, vũ trụ, không gian, thời gian, nỗi buồn ly biệt,… mà ở thơ xưa các thi nhân thể hiện một cách chủ đạo, trọng tâm và thường xuyên.

Huy Cận là một trong rất nhiều nhà thơ thể hiện rõ nét cái tôi trữ tình thấm đẫm chất cổ điển qua các trang thơ, nhất là những tập thơ trước cách mạng. Một trong những bài thơ được đánh giá cao ở vẻ đẹp cổ điển của Huy Cận phải kể đến Tràng giang. Xuân Diệu, một người bạn thơ tri âm tri kỉ với Huy Cận từng nhận xét về bài thơ Tràng giang:“bài thơ hầu như cổ điển của một nhà thơ hiện đại”. Người đọc cảm nhận được chất cổ điển trước tiên qua cảm hứng thơ – đó là cảm hứng vũ trụ ca, cảm hứng không gian rợn ngợp trước cảnh sông dài vô tận, không gian mênh mông, bao la. Đứng trước cảnh vô tận của dòng sông, trời đất con người cảm thấy mình trở nên nhỏ bé, lẻ loi hơn. Sự vô hạn của không gian vũ trụ khiến cho lòng người thêm buồn hơn, bâng khuâng hơn bởi kiếp người là hữu hạn: Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài”. Đâu đó ta bắt gặp trong thơ Đường một Lý Bạch với cảm hứng vũ trụ: “Cô phàm viễn ảnh bích không tận/ Duy kiến trường giang thiên tuế lưu”

(Hoàng Hạc Lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng) được dịch là “Bóng buồm đã khuất bầu không/ Trông theo chỉ thấy dòng sông bên trời”. Huy Cận ảnh hưởng rất lớn của các nhà thơ cổ điển Việt Nam, trong khi đó các nhà thơ xưa lại chịu ảnh hưởng lớn từ thơ Đường. Vì vậy mà trong thơ Huy Cận cũng có một sự tiếp thu rất tinh tế cái hay của thơ Đường. Tâm hồn thi sĩ rất dễ xúc động trước vũ trụ bao la, đó cũng là điều làm nên nét đẹp cổ điển trong thơ ông. Chỉ một cánh chim chiều trên bầu trời rộng lớn cũng đã đọng lại trong

tâm hồn nhạy cảm của thi nhân bao nỗi buồn. Phải có một trái tim rung cảm mãnh liệt trước vũ trụ rộng lớn nhà thơ mới có thể cảm nhận được hình ảnh của một cánh chim nhỏ bé đến cô độc, lẻ loi: “Chim nghiêng cánh nhỏ, bóng chiều sa”.Người đọc lại chợt nhớ đến một Lưu Trường Khanh đời Đường cũng với hình ảnh cánh chim “là là” bay dưới bóng mặt trời chiều xuống “Mặt trời xế trên Hán khẩu đỡ cánh chim là là bay”?.Trở lại với trang thơ Huy Cận, có lẽ, người đọc sẽ không xa lạ gì với vẻ đẹp cổ điển của cái tôi trữ tình trong bài thơ Tràng Giang. Nếu như ở thơ của người xưa, hình tượng cái tôi trữ tình thườngẩn đằng sau không gian mênh mông, rộng lớn của dòng sông để thể hiện tâm trạng. Thì nay, trong thơ Huy Cận, chúng ta cũng lại bắt gặp cái tôi trữ tình ẩn đằng sau cảnh dòng sông, mây trời để thể hiện tình yêu thương, đau xót khi nghĩ về đất nước, về nhân dân.

Đặc biệt, cái tôi trữ tình trong thơ Huy Cận thấm đẫm chất cổ điển qua những bài thơ viết về tình yêu, về kiếp người. Nhà thơ dù trăn trở, khắc khoải băn khoăn về kiếp người cũng không thoát khỏi cảm xúc của vũ trụ. Chính vũ trụ đã đẩy cảm xúc trong thơ ông trào dâng từng đợt sóng vô tận, vô cùng.

Cảm hứng thơ nhuốm màu cổ điển, gắn bó với thơ xưa, thơ Đường khi nhà thơ muốn tìm đến cảnh thiên nhiên để tỏ lòng mình. Thi nhân cảm thấy đồng điệu, như được trò chuyện cùng vạn vật, cảnh trời bao la. Trong thơ xưa, ta thường bắt gặp ở các nhà thơ mỗi khi buồn đều tìm đến với thiên nhiên để được giãi bày hay được hòa hợp cùng thiên nhiên, vũ trụ để thấy lòng nhẹ nhõm hơn giữa cảnh đời nhiều chông gai. Một đội ngũ những thi nhân như Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Bà Huyện Thanh Quan, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Hồ Xuân Hương,…đã tìm đến với vũ trụ, thiên nhiên để được giãi bày nỗi niềm tâm sự,… vì cuộc thế đầy gai góc, nhiễu nhương. Các thi nhân thường tìm về với sự tỉnh lặng để quên đi những ưu tư của cuộc sống xô bồ. Không gian vũ trụ vì thế được xem là một nơi ẩn

Một phần của tài liệu Cái tôi trữ tình trong thơ huy cận (Trang 37 - 48)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(124 trang)