CHƯƠNG 2. NÉT ĐẶC SẮC CỦA CÁI TÔI TRỮ TÌNH THƠ HUY CẬN
2.3. CÁI TÔI CỦA NIỀM SUY TƯỞNG VƯƠN RA VŨ TRỤ VÀ CÁI TÔI BẮT RỄ TRONG CỘI NGUỒN TRUYỀN THỐNG
2.3.1. Cái tôi của niềm suy tưởng vươn ra vũ trụ
Nhận định về thơ Huy Cận, Nguyễn Phượng từng cho rằng: “Thơ Huy Cận thiên về suy tưởng, triết lí hơn là giãi bày, bộc lộ” [46, tr.172]. Thật vậy, ngay trong chính nỗi buỗn, nỗi cô đơn của nhà thơ, người đọc cũng cảm nhận được qua những dòng thơ đầy triết lí, suy tưởng của một tài năng thơ uyên bác. Cái tôi suy tưởng luôn khát khao vươn ra vũ trụ cũng đã ăn sâu vào trong máu của nhà thơ từ khi còn rất nhỏ. Niềm suy tưởng ấy, Huy Cận đã từng khẳng định đó là cảm xúc của niềm suy tưởng vươn ra vũ trụ nhưng không tách rời cuộc đời, không tách rời sự sống:“Trong thơ tôi, cảm xúc vũ trụ rất đậm nét, nhưng hòa quyện với cảm xúc về cuộc đời” [54]. Cuộc đời và vũ trụ luôn là nguồn cảm hứng lớn tạo nên những tứ thơ hay trong thơ ông. Tại sao cảm xúc vũ trũ luôn được nhà thơ thể hiện với nét đặc trưng nổi bật vậy?
Chính tác giả đã lí giải để chúng ta hiểu sâu hơn về điều đó: “Con người là thành viên của xã hội loài người, nhưng cũng là thành viên của vũ trụ, của thiên nhiên. Bởi vậy trong mỗi con người còn có, nên có, phải có những cảm xúc vũ trụ” [54]. Xuất phát từ quan điểm đó, Huy Cận đã làm nên những trang thơ rộng mở vươn tới những tầm cao của vũ trụ bao la mà vẫn thể hiện được tình đời, tình người sâu sắc.
Xưa nay, các nhà thơ lớn đều mang trong mình cái tôi trữ tình phong phú, đa dạng, độc đáo và in đậm dấu ấn trong nền văn học dân tộc. Huy Cận cũng là một trong những nhà thơ lớn của dân tộc có cái tôi trữ tình thống nhất trong cái chung và độc đáo trong cái riêng. Cái tôi trữ tình trong thơ Huy Cận nói như Trần Khánh Thành là:“Đó là hồn thơ vừa bám riết lấy cuộc đời vừa vươn tới vũ trụ bao la, vừa trăn trở trước cái chết vừa nâng niu trân trọng sự sống trên đời, vừa buồn bã ảo não, vừa rộn rã niềm vui, vừa bay bổng cảm hứng lãng mạn vừa giàu có cảm hứng hiện thực…” [10, tr.224]. Một trong những hình tượng cái tôi trữ tình nổi bật nhất, dễ nhận thấy trong thơ Huy Cận, đó là cái tôi của niềm suy tưởng vươn ra vũ trụ. Vũ trụ bao giờ cũng vô tận, vô cùng bao la, mênh mông. Chúng ta cũng từng bắt gặp sự rộng lớn của không gian vũ trụ luôn được các thi nhân xưa hướng đến. Huy Cận cũng vậy, đi cùng với hình ảnh vũ trụ bao la là niềm suy tưởng về cuộc đời. Cái tôi vươn ra vũ trụ trong thơ Huy Cận được thể hiện từ khi còn là một đứa bé nhỏ, ngày ngày theo bạn trẻ chăn trâu qua âm thanh của từng tiếng trống đất:
“Tiếng trống vang lên điệu cổ sơ/ Vang từ lòng đất – Đến bây giờ” (Chiếc trống đất).Câu thơ gợi cho những ai từng được sinh ra và lớn lên ở miền quê một nỗi nhớ khôn nguôi về tuổi thơ với bao kỷ niệm, trong đó có những ngày chăn trâu, cắt cỏ nặn những cục đất sét mịn màng thành những chiếc trống nhỏ rất dễ thương.
Nhà thơ vui mừng đón nhận vẻ đẹp của không gian vũ trụ khi được
“chiêm ngưỡng trái đất từ trên cao”. Cuộc sống, trái đất này thật đáng yêu biết bao khi nhà thơ cất lên lời lẻ đầy hoa mỹ “Mây thưa, muộn dặm nhìn thâu xuống/ Lại thấy thần tiên đất nở hoa”.Không ở đâu xa xôi, mộng tưởng, lúc này đây được thỏa sức ngắm nhìn cảnh đất trời rạng ngời, xinh đẹp, nhà thơ thấy rằng chính cuộc sống này, con người này mới là đẹp. Con người này, đất nước này mới chính là “thần tiên”, là “hoa nở” tỏa muôn hương sắc. Vũ trụ
lúc này đây hòa chung vào cuộc đời, cái tôi cá nhân vì thế cũng hòa chung vào cộng đồng. Như một người mẹ hiền từ, bao dung vũ trụ luôn là niềm khao khát vươn ra của Huy Cận“Vũ trụ nghìn năm vẫn mẹ hiền”(Ốm dậy). Và dù rằng nhà thơ có vươn ra, vươn cao hơn đến vũ trụ bao la thì vũ trụ vẫn mãi là cuộc đời khi mà “Ta gặp hồn ta trong vũ trụ”(Xuân hành).
Là một nhà thơ thao thức suy ngẫm và nghiên cứu về vũ trụ, thơ Huy Cận bao giờ cũng vời vợi một không gian vũ trụ. Tác giả say sưa, mê đắm với cái vô cùng, vô tận của trời đất, trăng sao, của mẹ biển hiền hòa như để thỏa lòng ước ao cùng hòa chung vào vũ trụ: “Trời xanh ran lá biếc/ Biển chóa ngập buồm vàng/ Gió thổi miền bất diệt/ Mây tạnh đất hồng hoang”(Trời, Biển, Hoa, Hương).
Ngay cả khi tả cảnh làng quê đẹp, tươi sáng của ngày mùa rạng rỡ, Huy Cận cũng ao ước được vươn đến miền vũ trụ với chiều cao và chiều sâu đến
“ngợp”. Cảm giác được bay vào không trung, được ngắm nhìn phong cảnh tươi đẹp thật tuyệt vời đối với tác giả:“Đất thêu nắng, bóng tre rồi bóng phượng/ Lần lượt buông màn nhẹ vướng chân lâu/ Lên bề cao hay đi xuống bề sâu?/ Không biết nữa - Có chút gì làm ngợp/ Trong không khí... hương với màu hoa hợp...”(Đi giữa đường thơm).Hình ảnh vũ trụ mênh mộng, rộng lớn càng khiến cho con người trở nên bé nhỏ và cô đơn hơn, nhưng với tình yêu thiên nhiên vũ trụ mãnh liệt, Huy Cận luôn mong muốn và khát khao vươn cao, vươn xa ra tận nơi miền xa thẳm của vũ trụ. Hai câu thơ trong bài Tràng giang đã đem đến cho người đọc một cảm giác như chính mình đang tận mắt nhìn thấy cảnh thiên nhiên trời nước bao la: “Nắng xuống trời lên, sâu chót vót/ Sông dài trời rộng bến cô liêu”. Nỗi niềm suy tưởng về vũ trụ như một nhân tố luôn hằng trực và ám ảnh trong nhà thơ cho đến mãi mãi, tận cùng khôn nguôi. Có lúc vũ trụ được xem như ngôi nhà đáng yêu, thân thương và quen thuộc nhất của thi sĩ: “Đến bao giờ, đến bao giờ vũ trụ/ Mới cho ta nghe
hết những miền xa?/ Người đã vào vũ trụ như về nhà”(Có những đêm). Như quan niệm của người anh hùng đầu đội trời, chân đạp đất mà chúng ta thường bắt gặp trong thơ xưa, với họ vũ trụ bốn phương tám hướng đều là nhà, bầu trời là mái nhà, mặt đất là nền nhà. Huy Cận cũng muốn vươn đến ngôi nhà rộng lớn đó để thỏa lòng ước ao chiếm lĩnh và vui cùng vũ trũ.
Theo quy luật của tự nhiên, đất trời vẫn xoay vần, lòng người có lúc vui, lúc buồn, nhưng “vũ Trụ không vui, cũng không buồn, vẫn thản nhiên, lãnh đạm, trước những cuộc phế hưng, dâu bể”. Như hoa kia sớm nở tối tàn, con người rồi cũng vậy, hết trẻ rồi sẽ đến già và ai rồi cũng sẽ chết. Đó là điều không ai có thể cưỡng lại được. Vì thế Huy Cận hay buồn và càng buồn hơn, ông muốn vươn ra để ôm tất cả vũ trụ bao la, ôm tất cả sự sống với bao vẻ đẹp. Và con người đến với vũ trụ thường được tìm thấy ở không gian thiên nhiên qua các hình tượng như bầu trời, biển, mây, sao, trăng, gió, sông nước,… Thơ Huy Cận giàu suy tưởngvươn đến tầm vũ trụ để được nhìn ngắm không gian mênh mông, nhìn ngắm cuộc đời ở trong tâm thế “ta là chủ”, là người “cao nhất” trong trời đất. Trong thơ Huy Cận những hình ảnh thiên nhiên quen thuộc này xuất hiện rất nhiều. Trong số hình tượng “vũ trụ ca” ấy, bầu trời được Huy Cận thường xuyên hướng đến. Viết về nỗi lòng của nàng Chức Nữ khi phải đợi chờ mỏi mòn được gặp người yêu, nhà thơ cũng đã mượn cái bao la của đất trời để nói lên nỗi lòng nhớ nhung, thủy chung ở người con gái: “Từ buổi Tiên đi sầu cũng nhỏ/ Nhân gian thôi nhớ chuyện trên trời/ Đại bàng vỗ cánh muôn năm trước/ Ai biết trời xưa rộng mấy khơi”
(Hồn Xa).
Có lẽ, niềm khát khao vươn tới vũ trụ bao la mãnh liệt nhất luôn thao thức trong Huy Cận là vào thời kỳ tăm tối của những năm trước Cách mạng tháng Tám. Nhà thơ như không thể hòa hợp được với cuộc đời lúc bấy giờ đành tìm đến chốn thiên nhiên, vũ trụ bao la rộng lớn. Huy Cận là một nhà
thơ trí tuệ, suy tưởng, trong từng trang thơ của ông, người đọc phải ngẫm, phải nghiệm thật sâu, thật kỹ mới có thể cảm nhận được ở đó là một cái tôi muôn hình, muôn vẻ. Viết về cuộc sống mới, tuy hòa nhập vào cuộc sống nhưng trang thơ ông không hề dễ dãi mà vẫn giàu chất suy tưởng. Khi viết về vẻ đẹp của sự đổi thay trên quê hương, cái tôi ấy cũng đã dấn thân và rất thấu hiểu “Ta đi, trăng mọc theo cùng/ Trăng lên mơn mởn giữa vòng tay ta/ Trăng gần thơm mát như hoa/ Hoa trăng nở giữa phù sa mới cày”(Trăng rằm mọc).
Nhà thơ cũng có lúc ngắm nhìn những vì sao một cách say sưa và yêu thích vô cùng với cái tôi trữ tình giàu chất suy tưởng, trí tệ: “Đã lâu ta không nhìn sao/ Đêm nay ngủ đảo Long Châu biếc ngời/ Ta nhìn chi chít đêm vui/ Tằm sao ăn rỗi, nong trời vàng tơ”(Nhìn sao).
Hình ảnh vũ trụ với vẻ đẹp rộng lớn, bao la luôn là nguồn cảm hứng trong sáng tác thơ Huy Cận. Cái tôi trữ tình trong thơ luôn khát khao vươn ra cùng với vũ trụ nhưng cũng không tách khỏi cuộc đời đã mang đến cho người đọc những bài thơ thật độc đáo, hấp dẫn bởi vẻ đẹp của chất tư duy, suy tưởng qua mỗi trang thơ. Vẻ đẹp đó là hiện hữu của một trái tim nhân văn luôn biết yêu và trân trọng sự sống, trân trọng những gì mà con người đang có. “Vũ trụ ca” trong thơ Huy Cận vì thế luôn hấp dẫn chúng ta hơn bất cứ ở nơi đâu.