CHƯƠNG 3. NHỮNG PHƯƠNG THỨC HÌNH THÀNH NÊN CÁI TÔI TRỮ TÌNH THƠ HUY CẬN
3.4. ĐẶC ĐIỂM THỂ LOẠI THƠ HUY CẬN
3.4.2. Các thể thơ hiện đại
* Thể thơ tám chữ
Không chỉ có thơ bảy chữ, mà thơ tám chữ với nhịp thơ chủ yếu 3/5, 5/3 hay 4/4, có khi tách nhịp thành 1/2/3/2 hoặc 3/3/2,…cũng được Huy Cận sử dụng để thể hiện cái tôi trữ tình với muôn sắc. Chính sự ngắt nhịp đó đã tạo nên những cung bậc bổng trầm khác nhau trong câu thơ, bài thơ. Đó là một cái tôi nghiêng mình trước vẻ đẹp của màu thu quê hương qua vần thơ tám chữ mượt mà: “Chiều thu trong, lá trúc vờn đẹp quá/ Lá mía xanh nhung quạt vào mái rạ/ Tiếng lao xao như ai ngã nón chào/ Hoa mướp cuối mùa vàng rực như sao…”(Chiều thu quê hương).Câu thơ tám chữ có khi được thể hiện một cái tôi buồn não nề trước thời cuộc, nhịp thơ chậm rãi như cứa vào lòng người một nỗi buồn khôn tả:“Thuở chàng sống thì lòng chàng hay nhớ/
Nỗi nhớ thương không biết đã tan chưa/ Hay lòng chàng vẫn tuổi nắng sầu mưa/ Cùng đất trời và nặng buồn sông núi”(Mai sau). Huy Cận còn gửi bao nỗi niềm tâm sự vào dòng thơ tám chữ như một khúc tâm tình xúc động:
“Chiều nay đây nửa thế kỷ hai mươi/ Viết dăm câu tôi gửi lại vài người/
Những thế hệ mai sau làm bè bạn/ Hỡi ai đó, có nhớ lòng Huy Cận”(Mai sau).Thể thơ tám chữ không chỉ linh hoạt ở cách gieo vần mà còn tự do trong cách ngắt nhịp. Bên cạnh đó Huy Cận còn sử dụng cách thức tách từng khổ 2 câu hoặc 4 câu hay có khi để nguyên khối, cách thức này tăng thêm sức biểu đạt cho nội dung. Xét một số bài thơ như Đi giữa đường thơm, Vỗ về, Thân
thể, Tình tự, Nhạc sầu… Ta thấy nhà thơ tách các đoạn rất khác nhau, có khi là 3 câu, có khi 10 câu có khi 12 câu… Điều này giúp cho việc biểu đạt nội dung rõ ràng hơn, nhất là ở những khổ thơ dài thì các ý được nối kết liên tiếp không ngừng nghỉ. Trong bài Cầu khẩn, Huy Cận đã tách bài thơ với mỗi đoạn là hai câu tạo một sự mới lạ thể hiện được tâm trạng của nhà thơ: “Ngày đẹp thế, cũng có tay đang mở/ Đuổi hạnh phúc giữa lòng tôi bợ ngợ”. Câu thơ như đứt đoạn, tách biệt nhau nhưng lại thể hiện chung tâm trạng luôn muốn hướng đến chân trời rộng mở để tìm kiếm những vẻ đẹp ở đó, tác giả lại viết tiếp: “Tôi đi tìm người, tôi đi tìm thơ/ Tính vẩn vơ có lành được bao giờ”.
Như vậy, với các thể thơ năm chữ, bảy chữ hay tám chữ, Huy Cận cũng đã rất xuất sắc trong việc thể hiện cái tôi trữ tình trong thơ. Nếu như ở thơ năm chữ là những lời tự sự tâm tình đầy yêu mến với con người, với cuộc đời thì ở thơ bảy chữ và tám chữ nhà thơ cũng đã mang đến cho cuộc đời những vần thơ mượt mà không kém gì lục bát mà chứa đựng tình yêu lớn của tác giả với quê hương, đất nước, nhân dân và tình người đầy nhân văn, cao cả.
* Thể thơ tự do
Để thể hiện cái tôi trữ tình trong thơ, Huy Cận luôn lựa chọn cho mình những phương thức nghệ thuật phù hợp. Đó chính là sự tìm kiếm thể thơ, lựa chọn chất liệu ngôn ngữ, sự khéo léo trong cách thể hiện giọng điệu, ngôn ngữ thơ,… Trong đó, lựa chọn thể loại thơ là một việc làm quan trọng hình thành nên một bài thơ có giá trị. Hầu hết thể thơ quen thuộc trong thơ ca truyền thống và hiện đại đều được nhà thơ Huy Cận sử dụng nhuần nhuyễn, linh hoạt và ở thể thơ nào tác giả cũng đạt được thành công nhất định. Trong đó, thể thơ tự do được nhà thơ vận dụng rất nhiều, bởi thể loại thơ này có khả năng diễn tả một cách sâu sắc và trọn vẹn những vấn đề của cuộc sống.
Có thể nói, thể loại thơ tự do được thể nghiệm đầu tiên ở thời của Thơ mới. Huy Cận là một trong số rất nhiều nhà thơ đã đặt ngòi bút trước thể loại
thơ này. Thơ tự do trong thời kỳ này tuy có những hạn chế nhất định như còn chịu sự chi phối của số chữ, và chưa thoát khỏi sự gò bó của thể thơ, chưa thật sự phóng túng, linh động nhưng đến với thơ tự do Huy Cận người đọc vẫn tìm thấy ở đó là những sức hút mãnh liệt bởi sự cách tân mới mẻ ở đó. Có thể thấy đến giai đoạn sau cách mạng tháng Tám, thơ tự do có điều kiện để phát triển với nhiều hình thức đa dạng, phong phú hơn. Đặc biệt ở giai đoạn chống Pháp, Mỹ xâm lược, thơ tự do Huy Cận cũng nở rộ với nhiều cách lựa chọn hình ảnh táo bạo, mới lạ và nhiều cách sử dụng tiết tấu linh hoạt. Thơ tự do là một thể loại mà hình thức cơ bản của bài thơ không bị ràng buộc về mặt niêm luật, vần điệu, câu chữ,… Chính vì vậy, thơ tự do chiếm được ưu thế trong việc diễn tả những cảm xúc phóng túng của con người. Nhà thơ Lưu Trọng Lư từng bày tỏ: “Hình thức thơ phải mới, mới luôn, cho phù hợp với tâm hồn của ta, tâm hồn phiền phức của ta trong khi tiếp xúc với hoàn cảnh mới, lại càng thêm phiền phức”. Như vậy, đứng trước sự thay đổi của hoàn cảnh, con người cần phải đổi mới để phù hợp với hoàn cảnh, phù hợp với nhu cầu phát triển của xã hội, trong đó có văn học. Và một trong những đổi mới đó chính là sự bừng nở ở thể loại thơ, lúc này đây thơ tự do bắt đầu hình thành và phát triển dần nhằm đáp ứng nhu cầu thể hiện tâm trạng “phức tạp” của con người.
Cũng như nhiều nhà thơ mới lúc bấy giờ, Huy Cận đã tìm thấy ở thể loại thơ tự do một chân trời rộng rãi để thể hiện những tâm tư, tình cảm, cảm xúccủa lòng mình. Đặc điểm lớn trong thơ tự do Huy Cận là sử dụng nhiều thể thơ trong một bài thơ, đó là một sựcách tân thơ truyền thống tạo cho câu thơ uyển chuyển, đồng thời qua đó nhà thơ giãi bày tâm trạng một cách tự nhiên.
Những bài thơ viết theo thể thơ tự do thường rất linh hoạt, trong một bài thơ số câu thơ dài ngắn bất ngờ, thể hiện những suy nghĩ vừa nhuần nhuyễn sinh động, vừa lắng đọng sâu xa của cái tôi trữ tình.
Thể hiện tình cảm yêu mến và đời đời biết ơn lòng quả cảm, sự hi sinh anh dũng của những cô gái Ngã ba Đồng lộc được Huy Cận thể hiện qua những vần thơ tự do rất xúc động: “Con ơi, bố về thăm Hà Tĩnh quê ta/ Bố kể con nghe về ngã ba Đồng Lộc/ Trên mặt đất này có muôn triệu ngã ba/ Và có nhiều ngã ba nổi tiếng/ Có những ngã ba nối những dòng sông lớn của/ một đại châu, sóng dựng trùng trùng”. Người đọc cảm nhận lời thơ như lời tự sự về câu chuyện người con gái hi sinh thân mình cho đoàn xe ra trận. Trước khi kể lại câu chuyện, tác giả rất khéo léo dẫn dắt câu chuyện một cách logic, liền mạch để người con có thể hiểu được từng lời mà cha muốn nói. Câu thơ vì thế có khi rất dài và thậm chí có cả chú thích để làm rõ hơn những địa danh lịch sử của đất nước: “Có những ngã ba nối những con đường dài chạy từ các thủ đô to/ Như những mạch máu khổng lồ/ Trên thân hình trái đất/ Trong đó mỗi con người là một hạt hồng cầu đỏ chói/ Có những ngã ba là nơi gặp gỡ của những dòng văn minh lớn, đông, tây, kim cổ..../ Tất cả những ngã ba trên, con có thể học biết (trong sách địa dư, trên những bản đồ)”, có khi câu văn lại ngắn như để ngắt nhịp cùng với tâm trạng ngậm ngùi, tiếc nhớ của tác giả trước sự hi sinh anh dũng của những nữ anh hùng:
“Nhưng ngã ba Đồng Lộc xây bằng xương máu Khi con về quê, con nhớ viếng thăm
Mộ mười cô kề bên đường đỏ Các cô như còn đứng đó
Chờ lấp hố bom
Đường thông xe, các cô mới đi nằm Các cô để lại tuổi thanh niên Mười chín, hai mươi, hăm hai tuổi
Cho đất nước, quê hương”
Viết theo lối thơ tự do nhưng người đọc vẫn cảm nhận được lời thơ như từng lời ru nhẹ nhàng, sâu lắng, chậm rãi của nhà thơ tạo nên niềm rung cảm lớn.
Bài thơ gợi ta nhớ đến Lâm Thị Mỹ Dạ với Khoảng trời hố bom, cũng lối thơ tự do, tác giả đã đưa người đọc trào dâng niềm xúc động với bao cung bậc tình cảm thương xót, đau đớn, mến phục, biết ơn sự hi sinh, lòng dũng cảm của người con gái mở đường trong cuộc kháng chiến chống Mỹ: “Chuyện kể rằng: em, cô gái mở đường/ Ðể cứu con đường đêm ấy khỏi bị thương/ Cho đoàn xe kịp giờ ra trận/ Em đã lấy tình yêu Tổ quốc của mình thắp lên ngọn lửa/ Ðánh lạc hướng thù. Hứng lấy luồng bom...”.Câu thơ dài, ngắn linh hoạt như một lời kể, Lâm Thị Mỹ Dạ cũng đã tạo cho người đọc một niềm thương và sự kính yêu, mến phục, biết ơn đối với người con gái mở đường. Trở lại với Huy Cận, ta thấy nhà thơ cũng rất tài tình trong việc thể hiện tư tưởng, tâm tư, tình cảm qua thể thơ tự do. Trái tim luôn thổn thức bao yêu thương, trăn trở về kiếp người, về số phận của con người trong nhà thơ đã đem đến cho cuộc đời những bài thơ tự do có giá trị lớn. Cái tôi ấy có khi nghiêng mình để hiểu, cảm thông trước số phận của những người kém may mắn, bất hạnh trong cuộc sống như hình ảnh chị điên trong bài thơ viết theo thể tự do:“Gặp một chị điên”: “Chị là ai?đau khổ lắm?tay ôm/ Bó quần áo rách tươm như giẻ vụn/ Chị đứng đó thuyền trôi mất hướng/ Mà bỗng nhiên biển hóa đá mênh mông/ Hỡi tâm hồn mắc cạn giữa dòng/ Có phải chị còn chờ mong hướng gió?/ Ai nhìn được trong tâm hồn mờ tỏ/ Trong não cân đã loang lổ vùng đêm”.Bài thơ có sự xen kẻ giữa câu bảy chữ và tám chữ không theo một quy luật định sẵng nào, nhưng vẫn làm lay động người đọc ở lời thơ tâm tình, câu thơ nhịp nhàng như những câu hỏi làm day dứt lòng người, làm toát lên giá trị nhân văn cao cả. Đó cũng là một lợi thế của thể thơ tự do mà tác giả đã vận dụng rất thành công. Cuộc sống mới với bao điều nảy sinh mới, đòi hỏi con người cần giãi bày, bộc lộ. Nhất Linh từng cho rằng: “nếu câu thơ
bảy chữ không diễn đạt được thì dùng sáu hay năm, hay mười hai chữ, bất cứ, miễn là sao cho tả được cái cảm của nhà viết thơ”. Như vậy, chỉ cần làm cách nào để có thể chuyển tại được giá trị tư tưởng trong thơ đến với người đọc một cách dễ dàng và sâu lắng nhất mà không cần phải tuân theo những quy luật đã cũ của vần, điệu, của câu,...mà thơ xưa đã đặt ra nữa.Vận dụng thể thơ tự do với những câu thơ ngắn, dài khác nhau để bày tỏ tư tưởng, tâm trạng, Huy Cận trong bài Xuân hành đã viết nên những vần điệu nghe du dương, êm ái lạ lùng bằng những câu thơ bảy chữ, năm chữ nhưng được sắp xếp có vần, có điệu làm nên nhạc tính cho thơ: “Máu xuân chốn chốn trôi mênh mông/ Hoa gọi trời xanh phất quạt hồng/ Ta đi về đâu ta chẳng biết/ Chỉ biết trời xanh là ta say/…/
Âm dương chưa hằng mệt/ Bên đường hoa nở tươi/ Mùa vàng đời chửa hết/
Biển vang triều chẳng liệt/ Sóng rủ nhau đi bát ngát cười”.
Huy Cận dành tình cảm thương yêu sâu sắc đối với những người thân yêu của ông, không chỉ có mẹ, cha mà cô, dì, chú, bác,…cũng được nhà thơ thể hiện một tình yêu thương chân thành và sâu sắc nhất. Khi viết về Bà dì, bà mợ, bà cô trong bài thơ cùng tên, nhà thơ đã vận dụng thể thơ bảy chữ xen câu tám chữ để nói lên tình cảm của mình: “Tôi có bà dì, bà mợ, bà cô/ Phủ xuống hồn tôi tuổi bé thơ”.Chính vì rất gắn bó với họ nên Huy Cận thấu hiểu được nỗi khổ của “phận gái mười hai bến nước” và nhà thơ đã lắng lòng mình để được sẻ chia cùng họ qua dòng thơ bảy chữ: “Thương cô, thương mợ, với thương dì/ Chỉ biết buồn theo lời mẹ nói/ Nhìn mặt ba người như bị trói/ Vào xe oan nghiệt bánh lăn đi”.
Dù viết thể thơ nào, Huy Cận cũng thật sự gây ấn tượng sâu sắc và dành được những tình cảm yêu mến nơi người đọc. Huy Cận luôn có những tìm tòi trong cách tân nghệ thuật, bên cạnh những thể thơ truyền thống mượt mà, giản dị, những câu thơ, bài thơ viết theo thể tự do của ông cũng thật đặc sắc, thể hiện ở chất liên tưởng độc đáo, giàu tư duy.
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3
Huy Cận đã rất xuất sắc khi chọn lọc những phương thức nhằm thể hiện cái tôi trữ tình trong thơ. Làm nên những tác phẩm thơ độc đáo trong thơ ông, phải kể đếnsự tài tình trong sự tạo cấu tứ trong thơ. Để tạo cấu tứ cho thơ, Huy Cận đã rất khéo léo trong việc lập ý, tạo tứ và xây dựng cấu trúc thơ.
Chất liệu không thể thiếu để làm nên một tác phẩm nghệ thuật phải kể đến ngôn ngữ. Nhà thơ Huy Cận đã tiếp thu một cách có chọn lọc cái hay, cái đẹp của thơ Đường để sáng tác nên những vần thơ mang đậm ngôn ngữ Đường thi; đồng thời ông còn là một trong những nhà thơ vận dụng ngôn ngữ hiện đại để làm nên sự mới mẻ cho thơ. Giọng điệu chủ đạo trong thơ ông giai đoạn trước cách mạng là giọng “ảo não”.Và sau cách mạng giọng điệu chủ yếu được nhà thơ sử dụng là giọng reo ca. Huy Cận cũng là một tác giả rất thành công trong việc vận dụng các thể thơ truyền thống như lục bát, ngũ ngôn, thất ngôn và thể thơ hiện đại như thơ bảy chữ, tám chữ, thơ tự do. Với sự lựa chọn các phương thức nghệ thuật độc đáo, thơ Huy Cận đã tạo được ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc cho đến mãi hôm nay.
KẾT LUẬN
Huy Cận - “người suốt đời gắn bó với cách mạng và thơ” đã đem đến cho cuộc đời những trang thơ trữ tình đằm thắm, lôi cuốn khó phai trong lòng người đọc. Cách mạng và thơ, luôn luôn song hành cùng ông trong suốt cuộc đời. Với tài năng thiên phú, một tâm hồn nhạy cảm, tinh tế, một niềm say mê mãnh liệt và không ngừng sáng tạo nghệ thuật, Huy Cận đã đóng góp cho nền thơ nước nhà những giá trị vô cùng to lớn. Thơ Huy Cận làm đắm say lòng người ở những dòng thơ tình man mác nỗi buồn khôn tả, những dòng thơ vươn tới tầm cao vũ trụ, không gian bao la, vô tận của thiên nhiên, đất trời và ngay cả ở giữa đời thường với rất nhiều mối quan hệ đan xen, phức tạp, những câu chuyện tình yêu lãng mạn…cũng đã đi vào thơ ông vừa dịu ngọt, vừa buồn buồn da diết. Huy Cận đã thể hiện một cái tôi trữ tình phong phú, đa dạng, cái tôi ấy thay đổi ở từng giai đoạn để phù hợp với điều kiện lịch sử phát triển của đất nước. Đồng thời, nhà thơ cũng đã vận dụng một cách nhuần nhuyễn, linh hoạt các phương thức biểu hiện để bộc lộ cái tôi trữ tình qua từng trang thơ.
Là một người bộn bề với bao công việc nặng nhọc, bao trăn trở, âu lo cho sự thành, bại, vinh danh và phát triển của nước nhà, thế nhưng nhà thơ bằng tấm lòng nặng tình với quê hương, đất nước, nhân dân đã sáng tạo nên một khối lượng thơ ca có giá trị. Bút lực dồi dào ấy như một dòng suối chảy mãi, tuôn trào mát trong để Huy Cận làm nên những trang thơ càng đọc càng thấy thích thú bởi cái hay, cái đẹp ở đó.
Góp phần làm nên hồn thơ phong phú trong Huy Cận, đó là quê hương – nơi đã nuôi dưỡng một hồn thơ nhạy cảm nhất, ở nơi đó có những bậc thân sinh đã luôn tạo cho ông có được tâm hồn thơ ấy,…Chính cuộc đời với bao khổ đau lẫn hạnh phúc đã góp phần khai sinh một hồn thơ nặng trĩu ưu tư, đầy