BAI TAP THUC HANH
I. CÁC LOẠI PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC ĐẠI HỌC
2. Bang gidy lat (Flip chart)
Bang giấy lật là loại bảng gồm nhiều tờ giấy treo trên một giá di động, có thể
lật đi lật lại được. Khô giây khoảng 70 x 100cm. Giá đỡ bảo đảm cho các tờ giây không bị giữ cô định mà có thê lật từng tờ ra phía sau giá sau khi đã việt het.
Ưu điểm:
- Có nhiều tờ để viết khi giảng. |
- Có thể lật đi lật lại nhiều lần để trình bày giống như tờ phôii trên máy chiều qua
đầu (overhead) nhưng cơ động hơn vì có thê viết thêm các vấn đề nếu thấy cần thiết.
- Có thể lay ra dé treo riêng từng tờ nhằm cùng một lúc giới thiệu toàn bộ
các vấn đề giảng dạy đã được viết lên bảng.
Nhược điểm:
- Bảng giấy hẹp, viết được ít vấn đề.
- Tốn kém vật liệu.
- Không xóa được để viết lại như bảng viết tay hay bảng phoóc mi ca. Nếu hết giấy sẽ không thể tiếp tục sử dụng để mở rộng các nội dung bài giảng.
- Không sử dụng kết hợp được với các loại khác như bảng đính, bảng phooc mi ca có máy chụp...
3. Bang ghim (bang dinh)
Bang ghim là loại bảng được cấu tạo để ghìm, đính, kẹp hoặc dán lên đó
các hình vẽ, sơ đồ, biểu đồ, các thẻ giấy bìa trắng hoặc màu hình chữ nhật, hình
vuông, hình elíp, hình tròn với nhiều kích thước khác nhau, có thể chưa chứa đựng nội dung hoặc đã viết sẵn.
Sử dụng bảng ghim tốt nhất cho loại hình lớp học chỉ từ 15-30 người hoặc trong thảo luận tổ nhóm. Trong các khoá học với số lượng người tham dự dưới 50, người ta có thể sử dụng một loạt bảng đính một cách linh hoạt nhằm giới thiệu chương trình làm việc, các chủ đề và cấu trúc của chúng, cũng như thu thập các ý
kiến, các đánh giá của sinh viên.
Bảng ghim được thiết kế theo nhiều kiểu khác nhau, từ đơn giản (như bảng treo trực tiếp lên tường) đến phức tạp (hệ thống bảng đính). Có loại báng có chân đỡ cố định, lại có loại có thể quay, gap được. Bảng đính thường được làm từ tắm xốp, vật liệu bột giấy trộn với keo ép mềm rồi cán phẳng. Trên thị trường có bán sẵn nhiều loại ghim có mũ đầu thích hợp để ghim, đính lên các loại bảng này.
Bảng ghim trung bình cao 1,20m đến 1,50m; rộng từ 0,8m đến Im.
Uu điểm:
+ Thực hiện sơ đồ hoá bài giảng, chương trình học tập thuận lợi.
+ Các phần chính sẽ trình bày cũng như mọi ý kiến đều được công khai
ghim trên bảng, tạo ra phản xạ trực tiếp về nội dung vẫn đề được trình bày hoặc sẽ thảo luận.
+ Giảng viên có thê chuẩn bị trước nội đung và ghi sẵn trên phiếu.
+ Cơ động, có thể di chuyển các tờ giấy trên bảng đễ đàng theo ý muốn của giảng viên để làm sáng tỏ các phần nội dung và nhận xét trong khi giảng.
+ Khuyến khích tối đa tính tích cực của sinh viên và động viên sinh viên tham gia vào bài giảng, nhờ đó tiết giảng sinh động, sinh viên phần khởi trong học tập.
Nhược điểm:
+ Cần có thời gian chuẩn bị thì mới có thể sử đụng bảng đính có hiệu quả.
+ Cần một số phụ kiện, vật liệu (giấy màu, ghim và bút đạ...).
+ Sau khi tháo các thẻ, phiếu khỏi bảng, trật tự đã đính sẽ mắt phái làm lại
từ đầu.
+ Công kênh, bất tiện khi vận chuyên.
+ Ngoài ra, bảng ghim còn có nhược điểm là khuôn khổ có hạn nên các vấn đề viết dé đính lên bảng cần hạn chế.
Kỹ thuật sử dụng bảng ghim:
Trước khi ghim lên mặt bảng ghim thường là màu trắng, người ta thường
dán một hoặc hai tờ giấy khô to để phủ kín bảng để khi cần, có thể viết lên đó hoặc
kẻ cột ngang, dọc phân chia, khoanh vùng nhóm nội dung. Việc đính, ghim lên bảng cũng đa dạng. Khi thì dùng ghim, khi thì dùng cuộn băng dán to bản, hoặc hồ dán. Có thể ghim trước ra mép rìa của bảng một số ghim để thuận tiện khi lay phim;
hoặc có thé ding kẹp hình bán cầu (trên đó có nhiều ghim căm sẵn) kẹp vào tay áo hoặc áo ngực, rất thuận lợi cho giảng viên. :
4. Giáo trình
Giáo trình là tác phẩm in đặc biệt dành cho người học, được thiết kế phù
hợp với chương trình dạy học của một môn học và của loại trường có liên quan.
Về nguyên tắc, chúng phải chứa đựng nội dung của một môn học cho một hay nhiều năm học. _
- Ưu điểm:
+ Phương tiện đa chức năng (thông tin, tạo động cơ, cá nhân hoá, phân hoá, kiêm tra).
+ Có thê được sử dụng trong nhiều tình huống dạy học: Hỗ trợ việc chuẩn bị dạy học cho giảng viên và trong khi tiên hành dạy học.
+ Cơ sở cho các nhiệm vụ tự nghiên cứu.
+ Cơ sở cho các chuẩn bị kiểm tra.
+ Có giá trị trong quan hệ đối với các phương tiện khác.
+ Mọi lúc có thể sử dụng được, dễ vận chuyển.
- Nhược điểm:
+ Sử dụng kéo dài dẫn đến cấu trúc dạy học đơn điệu, máy móc.
+ Sử dụng nhiều năm dẫn đến thiếu hụt về tính thời sự.
+ Không phải tất cả các nội dung có thể được truyền đạt.
- Các tiêu chí để phân tích giáo trình:
+ Tính trực quan: Các thành phần của văn bản: Các cỡ chữ khác nhau, in đậm, gạch dưới, in nghiêng,...; Các thành phân trình bày: Các giản đồ, đô hoạ, bảng biếu, tranh ảnh,..
+ Tính thời sự: Tính thời sự của văn bản/trình bày: Các văn bản/trình bày
gắn với thời gian hay gắn với tình huống.
+ Có cầu trúc: Các thành phần dẫn dắt: Nhập đề (Câu hỏi, ví đụ nhập đề);
Các thành phần nội dung chính: Các tiền đề, định nghĩa (Văn bản, cấu trúc logic,...); Các thành phần kết quả: Các tóm tắt, câu hói, bài tập.
+ Phù hợp với đối tượng người học: Loại các khái mệm chuyên môn: Các khái niệm minh hoạ, các khái niệm trừu tượng: Sự tập trung các khái niệm chuyên môn: Mật độ các khái niệm chuyên môn cao hay thap.
5. Máy tính và internet
Máy tính là phương tiện dạy học phê biến trong trường đại học hiện nay.
Máy tính kết hợp projector giúp chúng ta có một hệ công cụ đa phương tiện © mà lợi ích khi giáng đạy là rất lớn. Máy tính cho phép điều chính các sơ đồ nhanh
chóng thể hiện trên màn hình. Máy tính còn có thể đưa lên màn hình những số
liệu cộng với sự hỗ trợ của hình ảnh, màu sắc, âm thanh nên việc sử dụng nó làm
tăng hiệu quả của việc giảng đạy tất lớn. Ngoài ra trong máy tính có bộ nhớ là một kho thông tin lớn nên giảng viên có thê đưa lên từ màn hình những thông tin cân thiệt lây ra từ bộ nhớ của máy tính, nó vừa phong phú vừa chính xác.
Ngày nay, các giảng viên thường soạn và giảng bài trên Power Point vì những tiện ích: sáng tạo được nhiêu cách trình bày đẹp, lưu giữ được lâu, có thê In ra làm tài liệu cho người học...nhưng cũng có những hạn chê phải lưu ý:
dữ liệu bị vi rút, mât điện, trục trac ket noi giữa máy tính và máy chiêu...nên cân tránh lạm dụng hoặc sử dụng không hiệu quả phương tiện này.
Những điều cần tránh khi sử đụng Power Point:
+ Chỉ chiếu các đề mục chính, không có nội dung minh họa.
+ Chiếu quá nhiều nội dung.
+ Chiếu liên tục suốt buổi học.
+ Dùng quá nhiều hình ảnh, hiệu ứng động gây mắt tập trung.
+ Thuyết trình quá nhiều hoặc chỉ lặp lại nội dung trén slide.
+ Đọc nguyên văn nội dung trén slide, không giảng bai.
+ Che máy khi đứng giảng.
+ Quá phụ thuộc vào Power Point, khi máy hỏng hoặc mắt điện là không giảng được.
7 nguyên tắc vàng khi soan slide:
+ 7 dòng/slide.
+ Sử dụng phông chữ không chân.
+ Cỡ chữ cho tiêu đề nên là 44, cho nội dung là 28 hoặc 32.
+ Chỉ nên dùng từ khóa, tránh viết câu dài.
+ Đảm bảo độ tương phản giữa chữ và nền để người học nhìn rõ chữ.
+ Nên thống nhất cách trình bày trong suốt thời gian giảng.
+ Minh họa băng hình ảnh, chèn đoạn phim, nhạc cho bài giảng sinh động.
Lưu ý rằng chỉ sử dụng Power Point khi thật cần thiết. Slide chỉ là công cụ
thuyết trình chứ không phải là cái dẫn đắt mà ta phụ thuộc vào nó. Chỉ có qua
giao tiếp, giảng viên đưa thông tin đến cho sinh viên. Giảng viên phải biết tổ
chức các hoạt động học tập thúc đây sinh viên sử dụng công nghệ thông tin tìm kiếm và tạo ra các giá trị của bài học, đạt tới mục tiêu học tập.
Việc sử dụng máy tính và internet có thê tích hợp vào các mô hình dạy học khác nhau, mở ra các khả năng mới trong dạy học.
Hiện nay, phần lớn các hệ điều hành máy tính và các phần mềm ứng dụng đều sử dụng mạng máy tính làm môi trường trao đổi thông tin đữ liệu. Mạng máy tính
là một hệ thống kết nối các máy tính. Một mạng máy tính phải có khả năng kết nối it nhất hai máy tính trở lên và có khả năng truyền tải đữ liệu giữa các máy nối
mạng với nhau.
Internet là mạng toàn cầu kết nối các mạng máy tính theo cùng một nghi thức chung. Nó gắn liền với sự phát triển các thiết bị kết nối và phương pháp kết nối qua modem tốc độ cao, các thiết bị truy cập không dây, qua vé tinh...giup việc truy xuất thông tin ngày càng nhanh hơn, có thê nhận được nhiều nội dung thông tin hơn. Với các kỹ thuật và công nghệ mới như truyền kênh, phân phối âm thanh, hình ảnh và video, internet sẽ tích hợp và thay thế các phương tiện liên lạc và trao đôi truyền thống của con người như điện thoại, fax, truyền hình.
Đa phương tiện (Multimedia) là một hệ thống kỹ thuật dùng để trình diễn các đữ liệu
và thông tin, sử đụng đồng thời các hình thức chữ viết, âm thanh, hình ảnh, động hình
qua hệ thống máy tính trong đó tạo khá năng tương tác giữa người sử dụng và hệ thống.
Internet đã và đang trở thành một kho tri thức không lồ của nhân loại. Khai thác thông tin sao cho có hiệu quả phục vụ hoạt động dạy học đồng thời hạn chế thấp nhất những tác hại, rủi ro là vẫn đề mang tính thời sự trong các trường đại học hiện nay.
Dạy học được máy tính hỗ trợ là một khái niệm khái quát cho những khả năng sử dụng đa dạng phần cứng và phần mềm hiện đại trong các quá trình dạy và học.
Làm việc với máy tính và internet mở rộng phạm vi các hoạt động học (truy cập internet b6 sung cho tìm kiếm thông tin ở thư viện), xóa nhòa các giới hạn truyền thống giữa tự nâng cao trình độ, dạy học tập trung và dạy học từ xa.
- Ưu điểm của đa phương tiện -máy tính trong dạy học:
+ Hỗ trợ đa dạng quá trình dạy học
+ Học tương tác: kết hợp người-máy; học bằng hầu hết các giác quan
+ Học cá nhân hóa + Học phân hóa + Học qua thị giác + Học qua thính giác
+ Tạo điều kiện cho làm việc cá nhân và các nhóm nhỏ
+ Sử dụng được trong trường và trong thời gian rảnh rỗi, hỗ trợ tự học - Nhược điểm của đa phương tiện- máy tính trong dạy học:
+ Vấn đề chất lượng thông tin trên mạng
+ Sự phân tán mạnh về thành tích ở người học
+ Các vẫn đề với kỹ thuật
+ Tràn ngập kích thích, có thể làm giảm sự tập trung.
- Các lĩnh vực ứng dụng máy tính phục vụ hoạt động dạy học
+ Phương tiện để luyện tập, ôn tập: Dựa trên các phần mềm học tập.
Phần mềm đặt ra câu hỏi mà người học phải trả lời. Cuối mỗi bài luyện tập có
đánh giá grup người học năm được thông tin và sự tiến bộ họ tập của bản thân.
+ Phương tiện thông tin: Sinh viên có thể khai thác thông tin trên internet.
Một trong những phương pháp khai thác thông tín trên Internet có định hướng trong day hoc la WebQuest.
Web Quest c6 thé hiểu là hoạt động đạy học theo hướng dựa trên câu hỏi, trong đó phần lớn hoặc tất cả thông tin người học thu được từ môi trường internet (thông qua các website); thông thường được hiển thị dudi dang cdc trang web. Người hoc tim được những thông tin, dữ liệu cần thiết thông qua những trang kết nối tới chủ điểm trên internet đã được giảng viên lựa chọn từ trước. Dựa trên cơ sở những dữ liệu tìm được, người học xác định quan điểm của mình về chủ đề đó trên cơ sở lập luận.
+ Phương tiện trình bày: Máy tính và internet cung cấp nhiều khả năng trình bày, thuyết minh một cách chuyên nghiệp các kết quả làm việc thông qua các biểu đổ, các hiệu ứng động. Vì vậy, việc thể hiện nội dung trực quan hơn, lâu bền hơn, tạo động cơ nhiều hơn cho người học. Bảng tương tác ngày càng được sử đụng phố biến hơn trong dạy học.
+ Phương tiện mô phỏng: Với mô phỏng các quan hệ phức hợp, bình
sử dụng hoạt ảnh và âm thanh kết hợp với những khả năng tương tác của máy tính, người ta tìm cách tạo ra cận thực tế. Thực tế được phản ánh trung thực với chân lý
như mức có thể. Các mô phỏng luôn là sự rút gọn thực tế.
Mô phỏng là hình thức đặc biệt của chương trình tương tác. Chúng cho phép sử dụng như là các công cụ cũng như là các chương trình học, phù hợp cho phân tích các quá trình phát hiện và thí nghiệm.
+ Phương tiện giao tiếp và phương tiện hợp tác: Máy tính cá nhân ngày càng
trở thành phương tiện giao tiếp giữa giảng viên và sinh viên. Việc trao đối nhanh chóng
thông tin và dữ liệu với nhau thông qua email, chat vừa tạo điều kiện cho chất lượng công
việc vừa cải thiện chúng, khiến việc giao tiếp trở nên thuận lợi và đễ đàng hơn.