QUÁ TRÌNH DẠY HỌC ĐẠI HỌC
Chương 3 Chương 3 NỘI DUNG DẠY HỌC ĐẠI HỌC NỘI DUNG DẠY HỌC ĐẠI HỌC
H. THÀNH PHẢN NỘI DUNG DẠY HỌC ĐẠI HỌC
4. Những chuẩn mực về thái độ đối với tự nhiên, xã hội, người khác và bản thân
Những chuẩn mực này đảm bảo cho sinh viên có cách ứng xử đúng đắn, thích hợp với mọi mối quan hệ không những trong thời gian còn học ở trường mà điều quan trọng hơn là khi bước vào hoạt động nghề nghiệp.
Những chuẩn mực nảy có tam quan trọng đặc biệt trong giáo dục thái độ cho sinh viên đối với bản thân nghề nghiệp tương lai của họ: giác ngộ đầy đủ về nghề nghiệp, an tâm với nghé đã chọn, phân dau năm được nghề nghiệp ở trình độ ngày càng cao, càng sâu, không ngừng cải tiến hoạt động nghề nghiệp, nâng cao năng
suất, chất lượng, hiệu quả...
Những hệ thống tri thức nêu trên trong nội dung dạy học đại học được cấu trúc thành một tổng thể, liên hệ chặt chẽ và bé sung cho nhau. Tri thức khoa học
là cơ sở nền tảng cho việc hình thành kỹ năng, kỹ xảo, thế giới quan, phẩm chất
đạo đức, là tiềm năng tạo nên chất liệu cho hoạt động sáng tạo. Còn hoạt động sáng tạo mãi mãi dựa trên khối lượng tri thức đã lĩnh hội, mặt khác còn được thê hiện ở kinh nghiệm và năng lực vận dụng tri thức vào điều kiện thực tiễn. Bởi
vậy, chính hoạt động sáng tạo sẽ được đi chuyên linh hoạt và mềm dẻo. Một khi
đã đầy đủ tri thức và có kinh nghiệm hoạt động thực tiễn, có năng lực độc lập, tích
cực trong tiếp nhận tri thức thì sinh viên sẽ có được thái độ đánh giá đối với hiện
thực khách quan phù hợp với những chuẩn mực đạo đức của xã hội.
HI. BỘ MÔN, CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO, GIÁO TRÌNH VÀ CÁC TÀI LIỆU DẠY HỌC KHÁC
Nội dung dạy học đại học được thể hiện cụ thể trong bộ môn, chương trình đào tạo, giáo trình và các tài liệu dạy học khác.
1. Bộ môn
Bộ môn không phải là bản sao chép toàn bộ khoa học tương ứng mà chỉ phản A C o cua khoa học tương ứng, Đó là nhũ ting st 1r kiên khoa học ảnh về cơ bản nội dụng của khoa hoc tuor *Ð ne. oS Do là những sự kiện khoa học,
, những định luật, định lý, lý thuyết, học thuyết, những phương pháp nghiên cứu quan trọng nhất. Những ứng dụng phù hợp với những khái niệm và phạm trù
mục tiêu đào tạo nói chung, mục đích, nhiệm vụ dạy học nói riêng của từng ngành hoặc nhóm ngành đào tạo cũng như phù hợp với năng lực nhận thức của sinh viên và những điều kiện cụ thể của đất nước. Dưới ảnh hưởng của sự thâm nhập lẫn nhau ngày càng sâu sắc giữa các khoa học, có bộ môn không phải được xây dựng từ một mà từ nhiều khoa học tương ứng. Như vậy, mức độ và phạm vi nội dung của một bộ môn không phải chỉ phụ thuộc vào sự phát triển của một hay nhiều khoa học tương ứng mà còn phụ thuộc vào mục tiêu đào tạo, mục đích và nhiệm vụ đạy học đã quy định cho từng ngành, từng nhóm ngành đào tạo cũng như vào
đặc điểm nhận thức của sinh viên.
Logic của bộ môn không hoàn toàn rập khuôn theo logic của khoa học tương ứng nhưng nó được xây đựng trên cơ sở thống nhất giữa logic khoa học tương ứng và logic nhận thức chung của sinh viên. Do đó, có thể nói rằng logic bộ môn là hợp kim cua logic khoa học tương ứng và logic nhận thức chung của sinh viên.
Chính ở đây có sự gia công sư phạm đảm bảo cho bộ môn phù hợp với nắng lực nhận thức của sinh viên.
Trong bộ môn, ngoài những yêu cầu nắm tri thức, kỹ năng, kỹ xảo nhất định còn có những yêu cầu về phát triển năng lực hoạt động trí tuệ độc lập sáng tạo, đặc biệt là năng lực tư duy nghề nghiệp và những phẩm chất tư tưởng, chính trị, đạo đức đối với người cán bộ khoa học, kỹ thuật, cán bộ quản lý, nghiệp vụ có trình độ cao. Ngoài nội dung khoa học còn có những phần quy định và hướng dẫn rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo, ôn tập, tự kiểm tra, tiễn hành xêmina...
Bộ môn ở đại học phản ánh về cơ bản nội dung của khoa học tương ứng trong khi môn học ở phổ thông chỉ phản ánh những cơ sở của khoa học tương ứng (bao
gồm những tri thức phổ thông, cơ bản tức là những tri thức tối thiểu cần thiết đối
với mỗi người trong hoàn cảnh phát triển nhất định của xã hội, của cách mạng khoa học công nghệ, mặc dầu sau này họ làm nghề gì).
Ở trường đại học, bên cạnh bộ môn còn có các chuyên đề. Chuyên đề đi sâu
vào một phần nào đó của nội dung bộ môn tương ứng, nó giúp cho sinh viên có cơ hội đào sâu và nâng cao tri thức đã học. Thường thường, các chuyên đề được học ở những năm cuối của khóa học. Các bộ môn và chuyên đề bắt buộc có tính chất bắt buộc đối với mọi sinh viên trong từng ngành hoặc từng nhóm ngành đào tạo.
Nó đảm bảo cho sinh viên năm được hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo tối cần
thiết. Các bộ môn và chuyên để tự chọn vừa có tính chất bắt buộc vừa có tính tự
do, sinh viên buộc phải chọn một số bộ môn hay chuyên đề đã quy định nhưng theo nhu cầu và nguyện vọng của mình. Nó buộc sinh viên phải đào sâu, nâng cao tri thức, kỹ năng, kỹ xảo trên cơ sở nhu cầu, nguyện vọng cá nhân. Các bộ môn và chuyên đề tự do hoàn toàn có tính tự đo: sinh viên có thể muốn học hoặc không muốn học, nếu muốn học thì tùy theo nhu cầu và nguyện vọng của bản thân mà chọn các bộ môn hay chuyên đề thích hợp. Nó tạo ra những cơ hội giúp cho sinh viên đào sâu, mở rộng, nâng cao những hiểu biết, phát huy được năng khiếu.
Hiện nay trong các trường đại học đang có xu hướng mở rộng hệ thống các bộ môn và chuyên đề, đặc biệt là các chuyên đề tự chọn. Những bộ môn và chuyên
đề này phải có tính đa dạng và phong phú, phải gắn bó mật thiết với hoạt động
nghề nghiệp tương lai nói riêng, với cuộc sống và tương lai nói chung của sinh viên. Nhờ vậy, việc chuẩn bị cho hoạt động nghề nghiệp của sinh viên được đầy đủ hơn, vững chắc hơn, đồng thời cuộc sống hiện tại và tương lai của họ được phong phú với chất lượng ngày càng cao.
Các bộ môn và chuyên đề được day theo hai giai đoạn đào tạo ở đại học. Giai đoạn đào tạo cơ bản (đại cương) gồm 2 năm đầu: sinh viên được học những môn cơ bản và cơ sở của chuyên ngành chung cho nhóm ngành đào đạo. Giai đoạn đào tạo chuyên ngành được tiễn hành những năm sau: sinh viên được học những môn chuyên ngành (cho ngành rộng), được tham gia hoạt động sáng tạo như khóa luận, đồ án, ...gắn liền với việc định hướng đi vào chuyên ngành hẹp sau này. Việc chia thành hai giai đoạn có ý nghĩa nhất định: a) Tạo điều kiện để có thể xây dựng được nội dung những bộ môn cơ bản, cơ sở chung cho từng nhóm ngành, tránh được tình trạng tùy tiện khi xây dựng những bộ môn đó cho từng ngành riêng biệt;
b) Tạo điều kiện sử dụng một cách tối ưu cơ sở vật chất kỹ thuật của dạy học, đặc biệt là đội ngũ cán bộ giảng dạy giỏi của các ngành trong từng nhóm ngành bang cách liên kết với nhau thực hiện giai đoạn đào tạo cơ bản.
2. Chương trình đào tạo
Theo Luật Giáo dục đại học 2018: “Chương trình đảo tạo bao gồm mục tiêu,
khối lượng kiến thức, câu trúc, nội dung, phương pháp và hình thức đánh giá đối
với môn học, ngành học, trình độ đào tạo, chuẩn đầu ra phù hợp với Khung trình
độ quốc gia Việt Nam” (Điều 38).[15]
Chương trình đào tạo quy định một cách cụ thể: vị trí, yêu cầu của bộ môn (chuyên đề), hệ thống nội dung bộ môn (chuyên đẻ), số học phân, học trình/tín chi đành cho bộ môn (chuyên đề) nói chung cũng như số tiết cho từng phần, từng chương nói riêng.
Về mặt cấu trúc, chương trình dao tạo bao gồm những phần sau:
- Vị trí, yêu cầu của bộ môn (chuyên đề): Nêu rõ bộ môn (chuyên đề) có vị trí
trong các nhóm môn cơ bản, cơ sở chuyên ngành, chuyên ngành hay công cụ. Nêu
cụ thể, rõ ràng những yêu cầu cần đạt được về hệ thống tri thức, hệ thống kỹ năng và kỹ xảo, hệ thống thái độ...
- Nội dung các đơn vị học trinh/tin chỉ của từng học phần câu tạo nên chương trình: Đơn vị học trình là đơn vị để đo lường khối lượng lao động học tập của sinh
viên bằng 15 tiết lý thuyết. Tín chỉ gồm 15 tiết lý thuyết và 30 tiết thực hành. Một tiết học thực hành tủy loại hình và tính chất được tính tương đương từ 1/3 đến 1 tiết lý thuyết. Học phần là khái niệm quy định khối lượng tri thức tương đối trọn vẹn, được sử dụng để tạo điều kiện thuận lợi cho người học tích lũy dần tri thức
trong quá trình học tập. Các học phần được xây dựng sao cho có thê thống nhất với nhau tạo thành một bộ môn hoàn chỉnh, hoặc được xây dựng riêng rẽ, hoàn chỉnh tạo nên một chuyên đề. Mỗi học phần có khối lượng bằng một hoặc một số không lớn don vi hoc trình/tín chỉ (thường từ 2-3).
- Phân phối thời gian cho các thành phần của từng học trình/tín chỉ trong học phần (trong đó bao gồm cả thời gian ôn tập, kiểm tra).
- Giải thích và hướng dẫn thực hiện chương trình.
- Quy định các sách và tài liệu bắt buộc phải đọc và một số sách, tài liệu tham khảo khác.
Chương trình đào tạo là căn cứ để Nhà nước tiến hảnh chỉ đạo và giám sát
công tác dạy học trong các nhà trường, đảm bảo được sự thống nhất về nội dung day hoc cho các ngành, các nhóm ngành đảo tạo trong phạm ví cá nước từ đó đảm
bảo được chất lượng đào tạo nhất định cần đạt, tránh tình trạng đạy học tùy tiện.
Đây cũng là căn cứ để nhà trường, các cán bộ giảng dạy tiến hành công tác giảng dạy theo yêu cầu của nhà nước để nhà trường kiêm tra hoạt động của cán bộ giảng dạy đồng thời để giảng viên tự kiểm tra hoạt động giảng dạy của mình. Ngoài ra, chương trình đào tạo là căn cứ cho sinh viên tiến hành hoạt động học tập, tự kiểm tra và thi theo yêu cầu chung.
Với những ý nghĩa quan trọng trên, cán bộ lãnh đạo nhà trường, giảng viên,
sinh viên cần nắm vững chương trình các bộ môn (chuyên đề) và mối quan hệ
giữa chúng để chỉ đạo và thực hiện.
3. Giáo trình và tài liệu tham khảo
Nội dung chương trình được thể hiện cụ thể, chỉ tiết, liên tục, có hệ thống
trong giáo trình. Giáo trình là sách được viết theo chương trình đạy học đã quy định, được dành cho sinh viên sử dụng chính thức trong quá trình dạy học và được
Nhà nước ban hành. Ở nhiều nước, Nhà nước còn ban hành nhiều giáo trình khác
nhau về cùng một bộ môn nhằm khai thác triệt để chất xám của các chuyên gia, đồng thời tạo cơ hội cho cán bộ giáng dạy cũng như sinh viên lựa chọn, sử dụng một cách có phê phán các cuốn sách đó. Ở nước ta, đo hoàn cảnh khó khăn về chủ quan và khách quan, trong các trường đại học còn tổn tại những cái mả chúng ta thường gọi là giáo trình nội bộ. Tắt nhiên, trong hoàn cảnh này, các giáo trình nội bộ đã góp phân tích cực vào quá trình đạy học nhưng vẫn chưa được Nhà nước
công nhận và ban hành thảnh giáo trình. Muốn biến những giáo trình nội bộ thành
giáo trình chúng ta cần hoàn thiện và nâng cao giá trị khoa học, giá trị sư phạm của chúng, đần nâng chúng lên ngang tầm quốc tế tương ứng.
Giáo trình cần đáp ứng những yêu cầu sau:
- Nội dưng phải phù hợp với chương trình, phải có tính khoa học, tính hiện đại, tính tư tưởng và tính thực tiễn Việt Nam, vừa sức với sinh viên.
- Cấu trúc phải có tính logic bộ môn- đó là sự hợp nhất của logic khoa học tương ứng với logic nhận thức chung của sinh viên, đảm bảo cho họ lĩnh hội được với óc phê phán.
- Ngôn ngữ phải trong sáng, dễ hiểu, thống nhất, đúng ngữ pháp, đúng chính tả, giấy in, cỡ chữ, mực in, hình vẽ, màu sắc.. .phải tuân theo những yêu cầu thâm mĩ, đảm bảo sinh viên đọc và xem đễ dàng, có hứng thú, đọc lâu không hại mắt, không mệt mỏi...
- Sự chỉ dẫn học tập đối với từng chương, từng học trình/tín chỉ hay từng học phần phải kích thích được tính tích cực, độc lập của người học bằng hệ thống các câu hỏi, bài tập, các sách và tài liệu tham khảo.
Bên cạnh giáo trình cho sinh viên, trong quá trình dạy học đại học còn có nhiều tài liệu dạy học khác: Sách tham khảo, sách bài tập, sách hướng dẫn thực hành...
Nội dung dạy học trong các trường đại học cần đảm bảo phần cứng (có tính
chất nguyên tắc) đồng thời có phần gia giảm (có tính linh hoạt) cho phù hợp với
những điều kiện và đặc điểm giảng dạy, học tập ở từng trường đại học, từng đối tượng sinh viên,...