NGUYÊN TẮC DẠY HỌC ĐẠI HỌC

Một phần của tài liệu Giáo trình lý luận dạy học đại học (Trang 35 - 47)

QUÁ TRÌNH DẠY HỌC ĐẠI HỌC

V. NGUYÊN TẮC DẠY HỌC ĐẠI HỌC

1. Khái niệm nguyên tắc dạy học đại học

Quá trình dạy học đại học luôn vận động, phát triển không ngừng. Với tư cách là chủ thể sáng tạo, giảng viên phải tổ chức, điều khiển được quá trình dạy học buộc nó phải vận động theo hướng đã định, mang lại hiệu quả tối ưu, đáp ứng nhu cầu xã hội. Muốn vậy, việc thực hiện quá trình dạy học phải luôn tuân thủ những luận điểm cơ bản mang tính qui luật của quá trình đó. Những luận điểm cơ bản đó chính là các nguyên tắc đạy học.

Nguyên tắc dạy học đại học là những luận điểm cơ bản có tính qui luật của quá trình dạy học, chỉ đạo toàn bộ tiến trình đạy học nhằm thực hiện tỐt mục

đích, nhiệm vụ dạy học đã đề ra.

Các nguyên tắc dạy học đại học chỉ đạo toàn bộ tiến trình dạy học, từ lựa chọn nội dung dạy học đến lựa chọn và vận dụng phối hợp phương pháp, hình thức tổ chức dạy học ... đảm bảo cho quá trình dạy học vận động đi lên hợp qui luật. Các nguyên tắc dạy học đại học chỉ đạo cả hoạt động dạy và hoạt động học trong mối quan hệ biện chứng với nhau. Không nên có quan niệm rằng nguyên tắc dạy học chỉ chỉ đạo hoạt động giảng dạy của giảng viên, hiểu như vậy sẽ cường điệu hoá vai trò của giảng viên và hoạt động dạy mà không thấy được vai trò của

sinh viên với tư cách là chủ thê nhận thức tiễn hành hoạt động học tập.

2. Cơ sớ xác định nguyên tắc dạy học đại học

Những luận điểm cơ bản có tính chỉ đạo toản bộ tiến trình đạy học đại học

được xây dựng dựa trên những cơ sở khoa học sau:

Một là, căn cứ vào mục tiêu giáo dục của nhà trường: Toàn bộ hoạt động của nhả trường phải hướng vào việc xây dựng nhân cách cho thế hệ trẻ, chuẩn bị cho họ tham gia tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Mục tiêu này sẽ chỉ phối quá trình giáo dục nói chung và quá trình dạy học nói riêng.

Hai là, căn cứ vào qui luật nhận thức chung của loài người theo quan điểm duy vật biện chứng.

Ba là, căn cứ vào đặc điểm nhận thức của sinh viên: Tuy có nét chung giống quá trình nhận thức của loài người nhưng quá trình nhận thức của sinh viên lại có những nét đặc thù riêng tuỳ thuộc vào đặc điểm tâm sinh lý của sinh viên. Những

đặc điểm này đòi hỏi phải xây đựng các nguyên tắc dạy học đại học đảm bảo cho

quá trình nhận thức của sinh viên đạt kết quả mong muốn.

Bốn là, căn cứ vào các qui luat cia quá trình dạy học đại học: Các nguyên tắc dạy học đại học phải đảm bảo phản ánh được đầy đủ các qui luật của quá trình day học dai hoc.

Năm là, căn cứ vào thực tiễn giáo dục đại học: Dựa vào thực tiễn giáo dục đại học trong nước và quốc tế dé hoàn thiện hệ thống nguyên tắc dạy học đại học.

Cùng với những cơ sở lý luận và thực tiễn trên còn phải dựa vào sự kế thừa có phê

phán hệ thống nguyên tắc dạy học đại học đã hình thành trong lịch sử Giáo dục học.

3. Hệ thống các nguyên tắc dạy học đại học

3.1. Nguyên tắc đảm bảo sự thông nhất giữa tỉnh khoa học, tinh giáo dục và tỉnh nghề nghiệp trong dạy học

Trường đại học có nhiệm vụ đào tạo thế hệ thanh niên thành những người cán bộ

khoa học vừa có phâm- chất chính trị tốt, vừa có năng lực chuyên môn giỏi đáp ứng yêu cầu thực tiễn nghề nghiệp của xã hội. Vì vậy, trước hết sinh viên phải nắm vững tri thức khoa học cơ bán, tri thức cơ sở của chuyên ngành và hệ thống tri thức chuyên ngành. Đó là những tri thức chân chính, chính xác, phù hợp với quan điểm, những quy luật của chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, phản ánh những thành tựu hiện đại của khoa học, kỹ thuật và văn hóa. Phải từng bước trang bị cho sinh viên những phương pháp nghiên cứu, phương pháp tự học, thói quen tư duy và làm việc một cách khoa học. Trên cơ sở đó, bồi đưỡng thế giới quan khoa học, lý tưởng nghề nghiệp, những phẩm chất đạo đức cần thiết của người cán bộ khoa học tương lai.

Việc dạy học ở đại học cần chú ý như sau:

- Đảm bảo tính hiện đại của nội dung dạy học có liên quan đến nghề nghiệp tương lai, nghĩa là sinh viên phải nắm vững những quan điểm mới, lý thuyết mới, phương pháp mới phù hợp với mục tiêu đào tạo của trường đại học cũng như thực tiễn nghề nghiệp.

- Đảm bảo sinh viên nắm được những tri thức khoa học chân chính, chính xác đồng thời đề phòng và chống lại các quan điểm, học thuyết phản động, phản khoa học.

- Đảm bảo tăng cường giáo dục chính trị và tư tưởng, giáo dục đạo đức, lý tưởng.

nghề nghiệp.. .thông qua hoạt động dạy học trên lớp và các hoạt động ngoại khóa.

- Đảm bảo tính hệ thông của quá trình dạy học đại học: Việc tổ chức và thực hiện hoạt động dạy học cần xem xét dựa trên mối tương quan giữa các yếu tổ trong quá trình dạy học.

Trong giảng dạy các môn lý luận chính trị, giảng viên phải đảm bảo tính khoa học, tính cập nhật, tính tư tưởng của môn học: Cần truyền thụ đầy đủ, chính xác, trung thực hệ thống tri thức khoa học; phù hợp với đặc điểm nhận thức của sinh viên, cập nhật các kiến thức với cuộc sống hiện thực làm cho bài giảng mang “hơi

thở” của thời đại; giải quyết một cách thấu đáo độ “chênh” giữa nội dung lý luận và thực tiễn cuộc sống. Đồng thời, phải xác định được giá trị thực tiễn của nội

dung đạy học: Làm rõ được ý nghĩa thực tiễn của tri thức khoa học, tạo cơ hội vận dụng chúng vào thực tiễn nghề nghiệp.

3.2. Nguyên tắc đảm bảo thông nhất giữa lý luận và thực tiễn nghề nghiệp trong quá trình dạy học ở đại học

Nguyên tắc này đòi hỏi sinh viên phải nắm vững tri thức lý thuyết, tác dụng của những tri thức đó đối với đời sống, đối với thực tiễn nghề nghiệp và những khá năng vận dụng chúng nhằm góp phần cải tạo hiện thực khách quan và bản thân.

Lý luận là toàn bộ những tri thức của loài người đã được đúc kết và khái quát trong các lĩnh vực khoa học. Chúng được rút ra từ thực tiễn và trở lại chỉ đạo thực tiễn.

Thực tiễn là toàn bộ hoạt động của con người nhằm đảm bảo cho xã hội tồn tại và phát triển, thực tiễn là nguồn gốc của hiểu biết, là tiêu chuẩn của chân lý.

Những tri thức trang bị cho sinh viên xét cho cùng là được rút ra từ thực tiễn và sẽ được vận dụng trở lại thực tiễn. Do đó, trong quá trình dạy học nếu những

tri thức bị tách rời khỏi thực tiễn thì sẽ không có tác dụng đối với việc giải quyết

những vấn đề do cuộc sống đặt ra. Mặt khác, làm cho sinh viên không hứng thú, say mê học tập. Nếu hoạt động thực tiễn của sinh viên không được chỉ đạo bằng

tri thức, lý luận đã học thì hoạt động thực tiễn đó sẽ bị mò mẫm, có tính chất kinh

nghiệm chủ nghĩa.

Đề thực hiện nguyên tắc này, chúng ta có thê dùng các biện pháp sau:

- Cần giúp cho sinh viên hiểu rõ quá trình ra đời và phát triển của các khoa học nói chung, nhất là các khoa học về nghề nghiệp tương lai của mình nói riêng, từ đó sẽ làm nảy sinh ý thức tham gia tích cực, góp phần thúc đây sự tiến bộ của các khoa học này.

- Cần thấy rõ những đặc điểm cơ bản thực tiễn nghề nghiệp tương lai trong điều kiện đất nước đang đôi mới toàn diện sâu sắc, từ đó người sinh viên sẽ không bỡ ngỡ khi bước vào đời, ý thức được nghề nghiệp tương lai và tích cực tham gia hoạt động thực tiễn trong lĩnh vực nghề nghiệp chuyên môn của mình.

- Cần đảm bảo tính cân đối giữa lý thuyết và thực hành, giữa hoạt động thực tiễn cuộc sống và thực tiễn nghề nghiệp, thực hiện tốt phương thức giảng dạy, học tập kết hợp với lao động sản xuất theo ngành nghề, với thực tiễn và nghiên cứu khoa học. Do đó, sinh viên cần tham gia có chất lượng và hiệu quả vào hệ thống các hoạt động; thực hành, thực tập nghề nghiệp, thường xuyên thâm nhập thực tiễn và nghiên cứu khoa học...

Đối với giảng dạy các môn lý luận chính trị, do tính trừu tượng cao trong sự

Vì vậy, trong hoạt động nhận thức, tính thực tiễn luôn phải đặt lên hàng đầu. Giảng viên nếu chỉ đừng lại ở việc đạy những luận điểm khoa học chung, không gan voi cuộc sống đễ dẫn đến chủ nghĩa duy lý, giáo điều không tạo ra ở người học niềm tin vào sự đúng đắn của lý luận từ đó làm cho bải giảng không có tính thuyết phục.

Ngược lại, nếu giảng viên sa đà vào thông tin, sự kiện cụ thê mà không hướng vào việc dùng lý luận để khái quát, lý giải những sự kiện sẽ coi thường lý luận, rơi vào chủ nghĩa kinh nghiệm, cản trở tư duy lý luận của sinh viên.

Một yêu cầu quan trọng trong giảng dạy lý luận chính trị là phải pắn việc giảng dạy với liên hệ thực tiễn các vẫn đề chính trị xã hội trong nước và quốc tế.

Hai việc này sẽ hỗ trợ cho nhau đề thực tiễn chứng minh cho lý luận và lý luận soi sáng, giải thích những vấn đề thực tiễn đặt ra. Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra rằng: Lý luận cốt để áp dụng vào công việc thực tế. Lý luận mà không áp dụng vào thực tế là lý luân suông. Dù xem được hàng ngàn hàng vạn quyên lý luận, nếu

không biết đem ra thực hành thì khác nào một cái hòm đựng sách.

3.3. Nguyên tắc đảm bảo sự thông nhất giữa cải cụ thể và cải trừu tượng trong dạy học ở đại học

Quá trình nắm tri thức của sinh viên lả quá trỉnh nhận thức có tính qui luật.

Theo qui luật này, sinh viên có thé nhận thức bằng con đường từ cụ thể đến trừu tượng và bằng con đường từ trừu tượng đến cụ thể. Ở đây, cái cụ thể và cái trừu tượng thống nhất với nhau đảm bảo cho sinh viên hình thành quá trình nhận thức

trọn vẹn. Dạy học phải giúp sinh viên được tiếp xúc trực tiếp với những sự vật,

hiện tượng hoặc những hình tượng của chúng để từ đó họ có thể lĩnh hội được.

những khái niệm, qui luật, lý thuyết trừu tượng, khái quát. Đồng thời, giúp sinh

viên có thể năm các khái niệm, lý thuyết trừu tượng những luận điểm khoa học trước rồi xem xét, tìm hiểu những hiện tượng, quá trình cụ thể, chỉ tiết.

Nếu trong quá trình dạy học, chúng ta đối lập cái cụ thé với cái trừu tượng thì sẽ hạn chế năng lực tư duy trừu tượng của sinh viên. Còn nếu chúng ta đối lập giữa cái trừu tượng với cái cụ thể thì sẽ làm cho tư duy trừu tượng mất cơ sở.

C.Mác đã từng khẳng định về bản chất của quá trình nhận thức khoa học: Trên

con đường thứ nhất: Từ biểu tượng đến khái niệm trừu tượng. Đó là chặng đường thứ nhất đi từ cái cụ thể đến cái trừu tượng. Trên con đường thứ hai: Những định nghĩa trừu tượng dẫn đến cái cụ thể đang tổn tại. Đó là chặng đường thứ hai đi từ

cái trừu tượng đến cái cụ thể.

Trong quá trình đạy học cần áp dụng các biện pháp sau:

- Sử dụng phối hợp nhiều phương tiện trực quan với tư cách là các phương

tiện nhận thức và các nguồn nhận thức.

- Rèn cho sinh viên óc quan sát, năng lực rút ra những kết luận có tính khái quát.

- Sử dụng lời nói giàu hình ảnh.

Việc hướng dẫn sinh viên tuỳ theo từng trường hợp cụ thể (đối tượng, nội dung,...). Có thể nắm vững khái niệm, lý thuyết trừu tượng khái quát, những nguyên tắc, qui luật chung rồi từ đó phân tích, xem xét cái cụ thé, riêng biệt thông qua các bai tập những tình huéng quen thuộc và tình huống mới hoặc ngược lại. Có như vậy, sinh viên mới thiết lập được mỗi quan hệ giữa cái cụ thé va cai trừu tượng, giữa cái chung và cái riêng, p1ữa cái khái quát và cái riêng lẻ trong nhận thức.

3.4. Nguyên tắc đảm bảo sự thông nhất giữa tính vững chắc của tri thức, kỹ năng, kỹ xdo va tinh mém déo cia tu duy

Hệ thống những tri thức về nghề nghiệp mà sinh viên đã lĩnh hội cần được

củng cố vững chắc, nghĩa là đảm bảo ghi nhớ chắc và bền để khi cần có thể tái

hiện nhanh, chính xác và vận dụng tốt. Những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo không phải được chuyển một cách máy móc vào ý thức sinh viên mả chúng được hòa nhập vào hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo đã có của sinh viên và trở thành những thành phần hữu cơ trong hệ thông đó. Có như vậy, sinh viên mới biến kinh nghiệm của loài người thành vốn kinh nghiệm của bản thân mình. Điều quan trọng là những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo mà sinh viên nắm được khi cần thiết phải

được tái hiện đầy đủ, chính xác, nhanh chóng để vận dụng linh hoạt vào các tình

huống muôn màu muôn vẻ của cuộc sống. Như vậy, việc nắm tri thức, kỹ năng, kỹ xảo có liên quan mật thiết với hoạt động tư duy: thông qua hoạt động tư duy để lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo vào hoạt động, đồng thời lại làm cho hoạt động tư đuy mềm đẻo, linh hoạt.

Sự thống nhất giữa tính bền vững của tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và tính mềm đẻo của tư duy trong quá trình dạy học đại học được thực hiện như sau:

- Cần làm nỗi bật lên những tri thức cơ bản trong từng chương, từng phần, những trị thức sinh viên cần phải nhớ lâu đài và vững chắc. Những tri thức này là tư tưởng chủ đạo, những luận điểm, nguyên lý chủ yếu, dé sinh viên tập trung sức lực vào đó.

- Cần qui định rõ cái cần nhớ cơ bản; những cái phải nhớ lâu, bền vững dé sinh viên giữ chúng trong trí nhớ theo yêu cầu dạy học; khi kiêm tra không buộc

sinh viên nhận lại, nhớ lại những điều học thuộc một cách máy móc không cần thiết.

- Cần hướng dẫn sinh viên tập vận dụng vốn hiểu biết của mình dưới nhiều hình thức: Làm bài tập, tập giải thích các hiện tượng thực tế, làm thí nghiệm, vận dụng vào lao động sản xuất; đề cập tới một vẫn đề, một hiện tượng theo các quan điểm khác nhau; khuyến khích sinh viên phát huy tính tích cực, độc lập, phê phán, tính sáng tạo trong học tập và hoạt động thực tế. Nhờ đó, sinh viên sẽ có được năng lực thích ứng cao với những biến đổi của hoản cảnh nhận thức và thực tiễn.

- Hướng dẫn sinh viên sử dụng tài liệu học tập một cách hiệu quả.

- Sinh viên cần ôn tập một cách có hệ thống, có kế hoạch với nhiều hình thức khác

nhau để không những đảm bảo nắm chắc những điều đã học mà còn phải thu được những cái mới về nội đung, phương pháp, từ đó làm giàu thêm vốn hiểu biết của mình,

đặc biệt là năng lực hệ thông hóa, khái quát hóa duge phat trién.

3.5. Nguyên tắc đảm bảo sự thông nhất giữa tính vừa sức chung và tỉnh vừa sức riêng trong quá trình dạy học ở đại học

Nguyên tắc này đòi hỏi trong quá trình đạy học đại học phải vận dụng phối hợp nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học nhằm thúc đây sự phát triển của mọi thành viên trong cả lớp, đồng thời phải quan tâm đến từng sinh viên, đảm bảo cho mọi người có thể phát triển ở mức độ tối đa so với khá năng của mình.

Quá trình nhận thức của sinh viên sẽ không mang lại hiệu quả mong muốn nếu những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo không phủ hợp với trình độ phát triển chung của cả lớp cũng như trình độ phát triển trí tuệ của từng sinh viên.

Việc dạy học vừa sức với sinh viên sẽ thúc đây sự phát triển mạnh mẽ về mặt trí tuệ cũng như toàn bộ nhân cách của họ, vì sinh viên sẽ hứng thú với học tập, xây dựng được niềm tin vào năng lực cúa bản thân. Nếu dạy học ở mức độ quá dễ hoặc quá khó đều mang lại hậu quả kìm hãm sự phát triển trí tuệ, nhân cách của sinh viên. Trong quá trình dạy học đã diễn ra sự phân hóa trình độ ở sinh viên đưới ảnh hưởng của xã hội, điều kiện sống, nhân cách, sức khỏe của sinh viên, mặc dầu việc đạy học được tiến hành như nhau cho mọi sinh viên. Do vậy, trong dạy học phải đảm bảo cho cả lớp cũng như từng sinh viên đạt được yêu cầu đo chương trình qui định vừa có thể giúp mỗi sinh viên phát triển ở mức độ cao hơn.

Một phần của tài liệu Giáo trình lý luận dạy học đại học (Trang 35 - 47)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(193 trang)