QUÁ TRÌNH DẠY HỌC ĐẠI HỌC
II. CẤU TRÚC CUA QUA TRINH DAY HOC DAI HỌC
1. Các thành tố của quá trình đạy học đại học
Quá trình dạy học đại học tồn tại với tư cách là một hệ thông bao gồm các thành tố: Giảng viên, sinh viên, mục tiêu dạy học, nội dung dạy học, phương pháp đạy học, phương tiện dạy học, hình thức tô chức dạy học, đánh giá kết quả học tập... có mối quan hệ biện chứng. Mỗi thành tố trong quá trình đạy học đại học vận động theo quy luật riêng nhưng chúng lại tuân theo quy luật chung của toàn hệ thống. Chất lượng của quá trình dạy học đại học phụ thuộc vào tất cả các thành tố này. Do vậy, muốn nâng cao chất lượng đạy học đại học phải nâng cao chất
lượng của từng thành tố.
- Mục tiêu dạy học đại học
Mục tiêu dạy học ở đại học phản ánh yêu cầu của xã hội đối với quá trình dạy
học ở đại học. Nó gắn liền với mục tiêu giáo dục nói chung và mục tiêu giáo dục- đào tạo của các trường đại học nói riêng. Đây là cái đích mà quá trình dạy học ở
đại học phải đạt tới. Mục tiêu đạy học ở đại học là những dự kiến về kết quả học
tập mà sinh viên phải dat được sau một chương trinh, một học phan, một bài học.
Mục tiêu là căn cứ giảng viên tô chức giáng dạy và sinh viên phấn đấu trong học
tập, đồng thời là cơ sở đánh giá kết qua hoc tập.
- Nội dung dạy học đại học
Nội dung đạy học đại học là hệ thống kiến thức khoa học và kỹ năng nghề
nghiệp được thiết kế thành các chương trình, các học phần, các chuyên đề, các bài giảng mà sinh viên phải nằm vững. Nội dung dạy học đại học trong quá trình giáo dục và đảo tạo ở các trường đại học, tạo nên nội dung cơ bản cho hoạt động dạy của giảng viên và hoạt động học tập, nghiên cứu của sinh viên.
Trường đại học nào có chương trình, nội dung dạy học hiện đại, thiết kế hợp lý, thường xuyên cập nhật sẽ có chất lượng đào tạo tốt. Đây cũng là cơ sở tạo nên uy tín cho trường đại học.
- Phương pháp dạy học đại học
Phương pháp dạy học đại học là cách thức tổ chức giảng dạy của giảng viên và cách thức học tập của sinh viên phù hợp với các nguyên tắc chung để giúp sinh viên đạt được mục tiêu học tập của mình. Phương pháp dạy học đại học có chức năng xác định những phương thức hoạt động đạy và học nhằm thực hiện tốt mục tiêu dạy học đã đề ra trong quá trình dạy học ở đại học.
- Phương tiện dạy học đại học
Phương tiện dạy học đại học là cơ sở vật chất, thiết bị kỹ thuật phục vụ cho quá trình dạy và học. Tính hiện đại của cơ sở vật chất là thước đo trình độ của một
trường đại học và là điều kiện để đám bảo chất lượng đạy và học của giảng viên
và sinh viên. Phương tiện dạy học là công cụ nhận thức và thực hành của sinh viên và công cụ hỗ trợ đắc lực cho hoạt động giảng dạy và nghiên cứu khoa học của giảng viên. Trường đại học cần được trang bị các phương tiện dạy học hiện
đại, đồng bộ, chất lượng tốt và cần được khai thác sử dụng hợp lý để đạt được
mục tiêu dạy học.
- Hình thúc tổ chức dạy học đại học
Hình thức tổ chức dạy học đại học là cách thức tổ chức hoạt động của giảng
viên và sinh viên trong quá trình dạy học với những phương pháp và phương tiện
dạy học cụ thế nhằm đạt được mục tiêu dạy học. Nói cách khác, hình thức tổ chức đạy học là các hình thức tổ chức xã hội của việc dạy và học. Tùy theo tính chất
mối quan hệ giữa việc dạy và học mà có các hình thức tô chức dạy học tương ứng:
Dạy trên lớp, thực hành, ngoại khóa, tham quan...
- Đánh giá kết quả học tập của sinh viên
Đánh giá kết quả học tập là một nhiệm vụ, một khâu quan trọng trong quá trình dạy học đại học. Đánh giá kết quả học tập là xác định mức độ nắm được kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo của sinh viên so với yêu cầu của chương trình đề ra.
Thông qua đánh giá, giảng viên xác định mức độ hoàn thành các mục tiêu đề ra cho sinh viên sau một giai đoạn học tập, thúc day sinh viên học tập, giúp hình
thành nhu cầu, thói quen tự đánh giá, nâng cao tinh thần trách nhiệm. Đồng thời,
giúp giảng viên thu nhận thông tin từ sinh viên, hướng dẫn sinh viên tự điều chỉnh, tự hoàn thiện hoạt động học đồng thời điều chỉnh hoạt động giảng dạy của bản thân. Đánh giá kết quả học tập nhằm đo lường khách quan vé tac dung của hoạt động sư phạm (hoạt động dạy học).
- Điều kiện khung
Các hoạt động dạy học luôn được thực hiện trong những điều kiện khung nhất định, bao gồm:
- Các điều kiện về giảng viên và sinh viên (trình độ của giảng viên và điều
kiện học tập của sinh viên), chúng ảnh hưởng đến việc phải học cái gì và học như thé nao.
- Các nguồn kiến thức khoa học chuyên ngảnh và liên ngảnh mà từ đó giảng viên và sinh viên khai thác (tình trạng của các ngành khoa học).
- Môi trường xã hội: Các điều kiện về thể chế, điều kiện về xã hội.
- Các yêu cầu của xã hội và nghề nghiệp đối với dạy học.
- Môi trường dạy học đại học
Có thể hiểu đây là môi trường vật chất và văn hóa học đường, bao gồm
nguồn lực con người: giảng viên, tập thể sinh viên, cán bộ quản lý, nhân
viên...; cơ sở vật chất: giảng đường, thư viện, phòng thực hành, nguôn tài liệu giảng đạy, phương tiện, sách giáo khoa... Việc tổ chức môi trường đạy học là thiết kế hợp lý các yếu tố nhằm khuyến khích và thúc đấy việc học tập, tạo
điều kiện tối ưu cho quá trình học tập, phát huy tính tích cực nhận thức của
sinh viên. Quá trình học tập là quá trình tương tác của sinh viên với môi trường đạy học. Cụ thể là sự tương tác giữa sinh viên với nội dung học tập thông qua các tài liệu, nhiệm vụ, phương tiện học tập và tương tác giữa sinh viên với nhau trong quá trình học tập để tự lực lĩnh hội tri thức.
2. Mối quan hệ giữa các yếu tố trong quá trình đạy học đại học
Xem xét các yếu tố cấu thành quá trình đạy học đại học cho thấy chúng có mối quan hệ tương tác với nhau. Nhân tố giảng viên với hoạt động dạy và sinh viên với hoạt động học tập là các nhân tố trung tâm, cơ bản nhất của quá trình dạy học. Các nhân tố này đặc trưng cho tính hai mặt của quá trình dạy học, nếu như không có giảng viên và sinh viên, không có dạy và học thì sẽ không bao giờ có bản thân quá trình dạy học, thiếu một trong hai nhân tổ đó quá trình dạy học không diễn ra. Hai mặt hoạt động dạy và hoạt động học phối hợp chặt chẽ với nhau, kết quả của hoạt động này phù hợp với hoạt động kia và ngược lại. Hoạt động dạy học chỉ đạt hiệu quả tối ưu trong trường hợp có sự thống nhất biện chứng giữa hoạt động dạy và hoạt động học, trong đó sự nỗ lực của giảng viên và sinh viên trùng với nhau tạo nên sự cộng hưởng của chính quá trình dạy học đó.
Như vậy, việc dạy không phải yếu tố bên ngoài đối với việc học mà là điều kiện
cho việc học. Vì vậy, quá trình dạy học cần đảm bảo sự thống nhất giữa vai trò lãnh đạo, điều khiển của người dạy và vai trò tích cực, tự lực của người học.
Ngoài hai thành tố trung tâm nêu trên, các thành tố khác trong quá trình dạy học cũng không ngừng vận động và phát triển theo chiều hướng đi lên. Mục tiêu dạy học có chức năng định hướng cho việc lựa chọn các nội dung dạy học hay nói cách khác nội dung dạy học bị chi phối bởi các mục tiêu đồng thời nó phục vụ trực tiếp cho việc thực hiện mục tiêu. Nội dung đạy học quy định phương pháp, phương tiện dạy học và phương pháp, phương tiện dạy học xử lý nội dung dạy học. Những quyết định về phương pháp, phương tiện dạy học cần được đưa ra với định hướng theo mục tiêu và nội dung. Hình thức kiểm tra, đánh giá phải đo lường được mức độ đạt mục tiêu của sinh viên. Các thành tố này của quá trình đạy học chỉ có thể phát huy được tác dụng tích cực khi thông
qua sự vận động phát triển của nhân tố giảng viên với hoạt động dạy và nhân tố sinh viên với hoạt động học.
Tóm lại, cần chú ý mối quan hệ biện chứng giữa các yếu tố dựa trên những giả thuyết sau:
- Vai trò định hướng của mục tiêu so với nội dung và phương pháp: Có nghĩa là nội dung và phương pháp phải được lựa chọn và sắp xếp sao cho chúng định hướng một cách rõ ràng vào các mục tiêu dạy học.
- Những tác động cơ bản của dạy học xuất phát từ nội dung khoa học của nó.
Những tác động này không diễn ra theo quan hệ nhân quả- tuyến tính mà thông qua các hoạt động của người học được điều khiễn bởi giảng viên.
- Cả những mục tiêu giáo đục chung cũng cần đạt được thông qua nội đung.
- Nội dung chỉ có tác dụng giáo dục thông qua phương pháp truyền thụ và lĩnh hội.
Ngày nay, do yêu cầu của đời sống xã hội và ảnh hưởng mạnh mẽ của của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ trên thế giới và trong nước, mục tiêu đạy học luôn vận động và phát triển theo chiều hướng nâng cao, đòi hỏi nội dung dạy học ngày cảng hiện đại hóa và khái quát hóa cao hơn, kéo theo sự phát triển hệ thống các phương pháp, phương tiện và hình thức kiểm tra- đánh giá. Vì vậy, các trường đại học phải luôn quan tâm và không ngừng đổi mới cách dạy, cách học, lựa chọn nội đung và cải tiến phương pháp dạy học ở đại học đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội.
Ill. PAC DIEM CUA QUA TRINH DAY HOC ĐẠI HỌC
Sinh viên là nhóm xã hội đặc biệt, những người đã có kiến thức phố thông, có năng lực trí tuệ, đã được sảng lọc qua các ky thi tuyén/ xét tuyển, đã quyết định chọn nghề và đang phấn đấu cho mục tiêu nghề nghiệp, vì cuộc sống tương lai của mình. Dạy học đại học là quá trình khai thác động lực học tập của sinh viên dé phat triển chính họ dựa trên sự coi trọng lợi ích, nhu cầu của họ để chuẩn bị tốt nhất cho sự thích ứng với nghề nghiệp nói riêng và đời sống xã hội nói chung.
1. Xét về hoạt động dạy
Giảng viên đại học là các chuyên gia giáo dục, ở trình độ lý tưởng, họ vừa là nhà khoa học, nhà chuyên môn giỏi đồng thời là nhà sư phạm mẫu mực. Để giảng
dạy tốt, giảng viên phải nắm vững mục tiêu, nội dung chương trình dạy học, nắm vững đặc điểm tâm lý, quy luật nhận thức của sinh viên, có phương pháp sư phạm sáng tạo. Vai trò của người giảng viên là định hướng, tổ chức, hướng dẫn, điều khiển quá trình nhận thức và giáo dục thái độ nghề nghiệp cho sinh viên.
Vai trò tổ chức của giảng viên được thê hiện khi họ thiết kế và thực hiện các
kế hoạch dạy học, tổ chức giảng dạy lý thuyết, thực hành, các đợt thực tập chuyên môn, nghiệp vụ, nghiên cứu khoa học. Năng lực tô chức của giảng viên có ảnh hướng đến né nếp, thói quen và kỹ năng làm việc khoa học của sinh viên.
Vai trò hướng dẫn của giảng viên thể hiện khi họ giúp sinh viên sưu tầm tài liệu, lựa chọn phương pháp học tập, chuẩn bị các báo cáo, tiến hành các thí
nghiệm, thực hành, thực tập nghề nghiệp, triển khai các đề tài khóa luận, luận văn
tốt nghiệp.
Vai trò điều khiển của giảng viên thể hiện khi họ nắm vững bản chất lý thuyết
nhận thức và lý thuyết kiến tạo tri thức của sinh viên, đề xuất các mục tiêu học tập để định hướng, dẫn dắt sinh viên tư duy bằng cách đưa ra các tình huống, bằng hệ thông những câu hỏi, bằng lập luận, phân tích, giúp sinh viên suy nghĩ, cùng với
tập thể thảo luận, từ đó rút ra những kết luận khoa học.
Ngoài ra, người giảng viên còn có vai trò giáo đục. Bằng tâm huyết khoa học và nghệ thuật sư phạm, giảng viên phải tạo ra cho sinh viên nhu cầu, hứng thú, niềm say mê và tích cực trong học tập. Do vậy, hoạt động giảng dạy của giảng viên được hiểu như là một tập hợp các biện pháp sư phạm mà giảng viên sử dụng để tạo ra tính tích cực, chủ động sáng tạo của sinh viên giúp học tập đạt kết quả cao.
2. Xét về hoạt động học
Sinh viên là chủ thể của hai hoạt động luôn phối hợp với nhau: học các lý
thuyết khoa học và thực hành, luyện tập các kỹ năng chuyên môn ở trình độ hiện đại. Học tập không chỉ là khám phá thế giới mà còn là giải thích và cấu trúc lại tri
thức. Với tư cách là chủ thể nhận thức, sinh viên cần phải chủ động, tích cực và
sáng tạo trong quá trình học tập dé đạt kết quá tốt: 1) Tính chủ động học tập: Sinh viên có mục tiêu học tập rõ ràng, có động cơ học tập trong sáng, biết xây đựng và thực hiện kế hoạch học tập; 2) Tính tích cực học tập: Thể hiện ở sự chuyên cần và
tư duy sâu sắc của sinh viên. Chuyên cần là sử dụng triệt để và hợp lý quỹ thời
gian học tập, tư duy sâu sắc là tư duy đi vào bản chất các vẫn đề học tập. Sinh viên phải luôn trong trạng thái tập trung chú ý, biết huy động trí lực, thể lực, thời gian cho việc học tập. Tính tích cực học tập hình thành từ nhu cầu nhận thức, nhụ cầu tự khẳng định đề có thành tích cao trong học tập, nhu cầu thành đạt trong cuộc sống và nghề nghiệp tương lai, được khích lệ bằng nghệ thuật sư phạm của giảng viên. 3) Tính sáng tạo: Là phẩm chất cực kỳ quan trọng trong xã hội hiện đại.
Sinh viên sáng tạo thường không lệ thuộc vào khuôn mẫu có sẵn mà họ thường
xuyên đổi mới phương pháp để có tri thức mới, có kỹ năng mới.
Phương pháp học tập của sinh viên đã tiếp cận với phương pháp nghiên cứu khoa học và phương pháp thực hành chuyên môn, nghiệp vụ. Trong quá trình học
tập ở đại học, sinh viên phải tự lực chiếm lĩnh hệ thống tri thức, kỹ năng, nắm
vững những cơ sở của nghề nghiệp tương lai. Sinh viên không chỉ nắm bắt một
cách máy móc những chân lý có sẵn mà phải biết tiếp thu một cách sáng tạo, có phê phán nội dung học tập...Mặt khác, sinh viên bắt đầu tập dượt nghiên cứu
khoa học thông qua các bài tiểu luận cuối môn học, khóa luận. Hoạt động này giúp sinh viên từng bước vận dụng những tri thức khoa học, phương pháp luận khoa học, tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất, tác phong của nhà nghiên cứu nhằm góp phần giải quyết một cách khoa học những vấn đề thực tiến.
3. Thực chất, quá trình dạy học đại học là quá trình nhận thức độc đáo có tính chất nghiên cứu của sinh viên dưới vai trò tổ chức, điều khiển của giảng viên nhằm hình thành và phát triên nhân cách đáp ứng yêu cầu xã hội. Bởi vậy, dạy học đại học cần đáp ứng các yêu cầu sau:
- Dạy học thông qua tổ chức các hoạt động học tập cho sinh viên và chú trọng rèn luyện phương pháp tự học.
- Dạy học chú trọng đến sự quan tâm và hứng thú của sinh viên, nhu cầu và lợi ích của xã hội.
- Dạy học coi trọng hướng dẫn tìm tòi.
- Tăng cường hoạt động học tập của mỗi cá nhân phối hợp với học hợp tác.
- Kết hợp đánh giá của giảng viên với tự đánh giá của sinh viên
Tóm lại, dạy học đại học hiệu quả là sự kết hợp linh hoạt, sáng tạo giữa hàng loạt phương pháp dạy học với những hiểu biết phong phú về sinh viên và nhu cầu của họ tại mỗi thời điểm trong quá trình:dạy học. Giảng viên sáng