Một số lưu ý khi lập kế hoạch bài giảng

Một phần của tài liệu Giáo trình lý luận dạy học đại học (Trang 177 - 184)

XAC NHAN CUA TRUONG KHOA/TO TRUONG BO MON GIANG VIEN

4. Một số lưu ý khi lập kế hoạch bài giảng

- Khâu chuẩn bị, nắm đối tượng là rất quan trọng, quyết định đến chất lượng bài giảng và việc lựa chọn nội dung, phương pháp, phương tiện dạy học. Đặc biệt, cần coi trọng việc xác định chính xác, đúng đắn mục tiêu của bài giảng .

- Chuẩn bị kỹ các nội dung chính của bài giảng, tính toán cân đối sao cho phủ hợp với thời gian giảng. Việc lựa chọn phương pháp và phương tiện giảng dạy phải sát với nội dung bài giảng và phù hợp với quỹ thời gian cho phép.

- Thay đổi phương pháp một cách hợp lý nhằm tạo không khí thoải mái trong lớp học. Tuy nhiên, trong một giờ học không nên sử dụng quá nhiều phương pháp và không sử dụng một phương pháp quá nhiều lần. Mỗi nội dung chỉ phù hợp với

một vài phương pháp nhất định. Mỗi lần thuyết trình không nên kéo đài quá 20

phút (nên thuyết trình khoảng 10 phút cho một phần nội dung nhất định).

- Bên cạnh việc nắm kiến thức chuyên môn một cách sâu, rộng người giảng viên cần nắm chắc các bước thực hiện trong mỗi phương pháp mà mình áp dụng.

- Phải biết cách sử dụng thành thạo các phương tiện, chuẩn bị sẵn những nội dung cần thiết khi khai thác phương tiện.

- Cố gắng phát huy tính sáng tạo, năng động của sinh viên và sự phối hợp nhịp nhàng trong việc sử dụng phương tiện để khai thác những thế mạnh trong

phương pháp nhằm phát huy tối đa hiệu qua bài giảng.

- Phải có sự chuẩn bị công phu và tỉ mỉ về nội đung thê hiện trên các phương pháp lựa chọn. Tận dụng các phương tiện có sẵn, giảm thiểu tốn kém nhưng đem lại hiệu quả cao.

- Kế hoạch bài giảng được xây dựng dựa trên đề cương chỉ tiết môn học.

Mẫu kế hoạch bài giảng (Xem phụ lục).

5. Giáo án điện tử

Giáo án điện tử là bản thiết kế cụ thể toàn bộ kế hoạch hoạt động dạy học của

giảng viên và sinh viên trên giờ trên lớp, toàn bộ hoạt động dạy học đó đã được đa phương tiện hóa (thông tin được truyền dưới dạng: văn bản, đồ họa, hoạt ảnh, ảnh,

âm thanh, phim) một cách chỉ tiết, có cầu trúc chặt chẽ và logic được quy định bởi cầu trúc của bài học. Giáo án điện tử là một sản phẩm của hoạt động thiết kế bài dạy được thể hiện bằng vật chất trước khi tiến hành hoạt động dạy học.

- Nhitng ưu điểm của giáo án điện tử:

+ Tạo hứng thú học tập cho sinh viên bởi giao diện đẹp, những hiệu ứng về

âm thanh, hình ảnh là cho tiết học trở nên sinh động, hấp dẫn. Đây là điều kiện

quan trọng để đổi mới phương pháp dạy học ở đại học.

+ Tiết kiệm được thời gian và chỉ phí trong giảng dạy: Giảng viên không mat

thời gian ghi bảng, vẽ hình, đặc biệt là khi muốn nhắc lại kiến thức cũ có thể quay

vé slide trước. Bài giảng điện tử hỗ trợ những đối tượng đồ họa trực quan, phong

phú do đó giảng viên tiết kiệm được chi phí ¡n ấn. Đối với sinh viên, do không mắt thời gian chờ giảng viên ghi bảng nên có nhiều cơ hội đối thoại với giảng

viên giúp họ nắm bài học tốt hơn.

+ Hỗ trợ giảng viên tổ chức các hoạt động và tăng thêm lượng kiến thức.

+ Phát huy tính tích cực học tập của sinh viên, nâng cao hiệu quả học tập.

- - Quy trình thiết kế giáo án điện tử:

Việc thiết kế bài giáng điện tử được thực hiện theo quy trình chung cho xây

dựng một bài giảng. Tuy nhiên, sau khi có kịch bản, cần thực hiện một số bước tiếp theo như sau:

+ Xác định tư liệu cho các hoạt động: Phim (video), ảnh, hoạt canh,..; Tim kiếm tư liệu, xử lý tư liệu, phân phối tư liệu cho mỗi hoạt động.

+ Lựa chọn công cụ và số hóa kịch bản: Lua chọn phần mềm công cụ thích hợp, cài đặt (số hóa) nội dung, tạo hiệu ứng trong các tương tác,...

+ Chạy thử, chính sửa và hoàn thiện: Trình diễn thử; soát lỗi; kiểm tra tính

logic, hợp lý của các thành phần; chỉnh sửa; hoàn thiện.

- Tiờu chỉ ủỏnh giỏ giỏo ỏn điện tử:

+ Tiêu chí về nội dung: Đảm bảo tính chính xác, khoa học, phù hợp với đặc trưng môn học, nội dung và phương pháp dạy học. Thể hiện nổi bật được bài học, khơi gợi được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của sinh viên trong hoạt động nhận thức. Cụ thể: Đảm bảo tính chính xác về nội dung kiến thức, nội dung tư tưởng, chính

xác về chính tả, ngữ pháp,...; Khoa hoc trong thiết kế, trình bày. Các slide được thiết

kế khoa học, có tác dụng giúp sinh viên suy nghĩ, khám phá. Nội dung các slide được

trình bày sao cho nối bật kiến thức, có hệ thống, logic, đảm bảo minh họa, khắc chốt

hoặc hệ thống hóa được kiến thức. Ghép nối giữa phần mềm giáo khoa và phim tư

liệu khéo léo, phù hợp, logic bài học.

+ Tiêu chí về hình thức: Hình và chữ phải rõ, nét. Các hiệu ứng hình ảnh, mẫu sắc, âm thanh, chuyển động được sử dụng có mức độ hợp lý, không được lạm dụng gây nhiễu lam mat tap trung vào bài học.

+ Tiêu chí về kỹ thuật (kỹ thuật trình chiếu và sử dụng máy tính): Phối hợp nhịp nhàng giữa trình chiếu với ghi bảng, khớp giữa siide với lời giảng, hoạt động của giảng viên va sinh viên, với tiến trình day. Nhip điệu trình chiếu và triển khai

bài dạy vừa phải, phù hợp với sự tiếp thu của phần đông sinh viên.

+ Tiêu chí về hiệu quả: Thực hiện được mục tiêu bài học, sinh viên tích cực, chủ động học tập. Phát huy được tác dụng của công nghệ thông tin mà các phương tiện dạy học khác khó đạt được.

Giáo án điện tử là một hình thức tổ chức bài lên lớp mà ở đó toàn bộ kế

hoạch hoạt động dạy học đều được chương trình hóa do giảng viên điều khiển thông qua môi trường đa phương tiện do máy tính tạo ra. Cần lưu ý là giáo án điện tử không phải đơn thuần là các kiến thức mà sinh viên ghi vào vớ mà đó là toàn bộ hoạt động dạy và học- tất cả các tình huống sẽ xảy ra trong quá trình tương tác giữa giảng viên và sinh viên. Giáo án điện tử càng không phải là một công cụ để thay thế bảng đen, phấn trắng mà nó phải đóng vai trò định hướng trong tất cá các hoạt động trên lớp. Ở mức độ thấp, giảng viên thực hiện giảng bài dưới sự hỗ trợ của bản trình diễn để tô chức các hoạt động dạy học nhằm đạt được mục tiêu bài học. Ở mức độ cao nhất, giáo án điện tử là toàn bộ kịch bản của giảng viên được số hóa, tạo nên một phần mềm day học hoàn chỉnh có tương tác và có khả năng quản lý. Đặc biệt là có thể thay thế

được vai trò của người thầy ở một số thời điểm nhất định.

Il. HƯỚNG DẪN CÁC KỸ NĂNG CƠ BẢN TRONG LẬP KẺ HOẠCH BAI GIANG

1. Xây dựng mục tiêu bài giảng

Việc xác định mục tiêu bài giảng cần tuan thi nguyén tac SMART (S- Specific:

Cụ thể, rõ rang, dé hiéu; M- Measurable: Do dém được; A- Achievable: Có thể đạt được bằng chinh kha nang cua minh; R- Realistic: Thyc té, khong vién vong; T- Time bound: Thời hạn để đạt được mục tiêu đã vạch ra).

Vận dụng 6 cấp độ trong Thang cấp độ tr duy của Benjamin S. Bloom đã được diéu chinh (Bloom’s Revised Taxonomy) dé xac định các mục tiêu bài giảng như sau:

+ Ghi nhớ: Nhớ, nhận diện thông tin (Mô tả, liệt kê, trình bày,... )

+Hiểu: Hiểu ý nghĩa và truyền đạt thông tin theo cách riêng của mình (Giải

thích, phân loại, sắp xếp, tóm tắt, khái quát hoá...)

+ Áp đụng: Vận dụng lý thuyết vào thực tế, sử dụng những kiến thức đã được

học trong một tình huỗng tương tự hoặc tình huống mới (Sử dụng, thực hiện, tiến

hành, thể hiện, chứng minh,...)

+ Phân tích: Chia nhỏ kiến thức thành nhiều phần và tư duy để tìm ra mối liên

hệ của chúng với cấu trúc tổng thê (Phân biệt, tổ chức, tìm ra mối liên hệ, so sánh, lý giải, hệ thống hoá,...)

+ Đánh giá: Đánh giá tính hiệu quả của toàn bộ khái niệm liên quan đến giá trị đầu ra, hiệu lực (Đề xuất, đánh giá, bình luận, cho ý kiến, tổng hợp,...)

+ Sáng tạo: Xây dựng cấu trúc mới, hệ thống, mô hình, cách tiếp cận, ý tưởng và vận hành sáng tạo (Hướng dẫn, điều chỉnh, rà soát, sáng tác, xây dựng, lập kế hoạch và thực hiện... )

2. Mở đầu bài giảng

Mở đầu bài giảng là thao tác khơi gợi kiến thức một cách khéo léo, mang tính nghệ thuật để dẫn nhập bài học, có tác dụng gây hứng thú cho sinh viên. Qua đó, bài giảng được giới thiệu một cách hấp dẫn, thuyết phục tạo ấn tượng tốt đối với người học. Mở đầu bài giảng là công đoạn của một giờ dạy, là việc làm không thé thiểu mà bat cứ giảng viên nào cũng phải thực hiện. Mở đầu bài giảng là một trong những tiêu chí đánh giá trình độ và tài năng của người giảng viên trong quá trình dạy học.

- Ý nghĩa của mở đâu bài giảng

+ Giúp phá tan sự lo lắng, e ngại ban đầu.

+ Tạo không khí cởi mở cho lớp học.

+ Tạo một môi trường học tập tin cậy, tích cực có sự hiểu biết giữa giảng viên và sinh viên và giữa sinh viên với nhau.

+Thu hút sự tập trung của người học vào việc học tập.

+ Kích thích nhu cầu ham hiểu biết cho người học.

+ Gây hưng phan, tu tin hoc tap cho sinh vién.

- Quy trình van dung mo dau bai giảng:

+ Chuẩn bị bài: Để chuẩn bị giờ giảng vận dụng mở đầu bài giảng, giảng viên phải

nghiên cứu nội dưng bài học dé sáng tạo ra một hình thức mở đầu phù hợp, hấp dẫn, hợp

lý, không chệch hướng. Tiếp theo là cần có kịch bản mở đầu bài giảng hợp lý. Cách mở đầu bài giảng phải gắn với lý luận và thực tiễn, thậm chí phải có hơi thở của cuộc sống, dễ bắt nhịp theo dõi cho người học, tạo sự lôi cuốn, hấp dẫn đối với sinh viên.

+ Quá trình thực hiện mở đầu bải giảng: Để kích thích sinh viên đi vào bài học

một cách tự nhiên, nên có hình vẽ, biểu tượng và những câu hỏi hấp dẫn. Có thể sử dụng các hình thức sau: Đố vui “Đuôi hình bắt chữ”, giải ô chữ, trò chơi sư

phạm... .Cũng có thể sử dụng nguyên tắc trực quan để mở đầu bài giảng.

Mở đầu bài giảng được thực hiện trong thời gian đầu tiên của bài giảng. Thời

gian đề thực hiện điều nay là rất nhanh bởi vậy giảng viên không nên lãng phí thời

gian vào mở đầu bài giảng. Nếu không thực sự mở đầu bài giảng một cách ấn

tượng thì tốt nhất hãy bắt đầu giờ học một cách bình thường, dễ hiểu. Thông

thường, mở đầu bải giảng gồm những hoạt động sau: Giới thiệu và làm quen; Nêu mục tiêu của bài giảng; Giới thiệu về nội dung giảng dạy của bài giảng; Đưa ra một số quy tắc làm việc (cách thức làm việc chung tạo không khí học tập cở mở, thoải mái); Thông báo về lịch trình làm việc, thời gian học, thời gian nghỉ giải lao và những thông tin liên quan đến môn học.

Việc cung cấp những thông tin cần thiết trên sẽ giúp sinh viên hiểu hơn về bài giảng, xác định được phương hướng và cách làm việc, thu hút được sự tập trung, chú ý của sinh viên, tạo cho họ một sự hứng thú, sẵn sảng tham gia học tập.

- Một số lưu ý khi mở đầu bài giảng

Khi thực hiện mở đầu bài giảng cần phải căn cứ vào trình độ, nghề nghiệp, vị trí xã hội, giới tính, lứa tuổi, nhu cầu...của người học cũng như nội dung kiến thức bài

giảng chuyên môn để xây dựng kịch bản cho mở đầu bài giảng. Cần cân đối giữa nội dung chính và thời gian giảng, lựa chọn phương pháp phù hợp với nội dung.

Giảng viên nên đến sớm, kiểm tra cách bồ trí phòng học, các phương tiện giảng dạy đã sẵn sàng chưa. Không nên cô gắng chuẩn bị vào những phút cuối khi người học đã vào lớp. Vì điều này có thể làm cho người học có ấn tượng không tốt về trách 'nhiệm của giảng viên đối với việc giảng dạy, có thể khiến họ thiếu nhiệt tình, có cảm

giác không tin tưởng vào giảng viên. Giảng viên có thể bắt đầu nói chuyện với một số sinh viên trước khi bắt đầu giảng bài. Việc tạo ra những mối quan hệ, cảm giác thân thiện trước khi mở đầu giúp giảng viên tự tin và người học cởi mở hơn.

Thuyết trình mở đầu bài giảng không nên sa đà độc điễn mà phải tạo ra sự đối thoại.

Cần tận dụng phương tiện sẵn có, phù hợp. Thời gian mở đầu bài giảng từ 3 đến 5 phút.

— Lời nói của giảng viên phải lưu loát, mạch lạc, rõ ràng, có ngữ điệu hợp lý, thậm chí hùng biện hoặc có chút khôi hài thu hút người học.

Có một số điều giảng viên không nên làm: Không nên khoe khoang, nói nhiều về bản thân; không nên chọn những từ phức tạp, trừu tượng; Không nên tạo tâm lý căng thắng, lo ngại, tạo khoảng cách...

Giảng viên cần phải chú ý: Khuyến khích người học tham gia; biết chấp nhận ý kiến khác biệt của người học, nên nhớ tên người học trong đàm thoại; trân trong sự cố gắng của người học và nhớ cảm ơn khi cần thiết, thể hiện mối quan tâm đối với các mong đợi của sinh viên...

Với những lớp đông, giảng viên nên mở đầu bài giảng sao cho tất cả sinh viên đều có thể tham gia, tập trung vào bài học mà không mắt quá nhiều thời gian.

Giảng viên cần cân nhắc tới tác phong hay điểm mạnh của mình trong giảng dạy để lựa chọn cách mở đầu đáp ứng được các nhu cầu trên đồng thời cảm thấy

tự tin để thực hiện.

3. Trực quan hóa trong giảng dạy

Trực quan hóa trong dạy học nghĩa là sử dụng chữ viết, tranh vẽ, sơ đồ, biểu đồ, video ...để truyền tải hoặc minh họa cho một nội dung giảng dạy.

- Ý nghĩa của trực quan hóa trong giảng dạy + Gây ấn tượng, thu hút sự chú ý của người học.

+ Kích thích tính chủ động, tích cực tham gia của người học.

+ Kích thích trí tưởng tượng của người học.

+ Giúp người học định hướng tốt nội dung.

+ Làm cho thông tin bài giảng rõ ràng, cụ thể, giúp người học dễ hiểu, dễ nhớ, tăng khả năng tiếp nhận và mức độ nhớ thông tin của người học.

+ Mở rộng bồ sung những kiến thức đã học.

+ Mô tả, minh họa những nội dung dang trình bày.

+ Làm thay đổi bầu không khí lớp học.

+ Làm cho bài giảng phong phú, sinh động.

- Một số lưu ý

+ Chữ viết, hình ảnh đủ lớn để người học dễ theo dõi.

+ Nội dung ngắn gọn, dễ hiểu (trực quan hóa những nội dung, thong tin quan trong).

+ Các hình vẽ, tranh ảnh, bảng biểu, sơ đồ...phải dé hiểu, sát với chủ đề và

nội dung bài giảng.

+:Hình ảnh đơn giản, mầu sắc, hình khối, đường nét có định hướng phù hợp

với chủ đề.

+ Trực quan hóa đúng thời điểm và tạo yếu tố bất ngờ cho người học.

+ Hình ảnh, bảng biểu,...được hiển thị theo thứ tự trình bày của bài giảng và được sắp xếp ở vị trí đễ quan sát.

+ Những nội dung cốt lõi cần được hiển thị trong suốt buổi học.

+ Có thê áp dụng cho mọi loại bài học và vào bất cứ thời điểm nào trong buổi giảng (mở đầu bài giáng, giảng nội dung hay chốt kiến thức).

4. Neo chốt kiến thức

Neo chốt kiến thức là một trong những nguyên tắc trong giảng dạy nhằm hệ

thống hóa, ghi nhớ kiến thức. Neo chốt kiến thức là nhắc lại những nội dung

chính của bài giảng giúp cho người học sắp xếp và lưu giữ tri thức mới.

Đề giúp người học nắm được nội dung bải giảng không nên để đến cuối bài mới neo chốt. Có thê neo chốt từng phần bằng việc tóm tắt, củng có lại kiến thức sau mỗi

phân giảng. Cuối cùng là neo chốt kiến thức toàn bài.

- Các phương pháp neo chối chủ yếu

+ Neo chốt bằng hình ảnh: Dùng những hình ảnh, các biểu tượng, áp phích khái

quát hóa những lời giảng, cụ thể hóa các khái niệm trừu tượng chủ yếu trong bài giảng. Neo chốt bằng cách này có thể huy động tối đa sự tham gia cua các giác quan (nghe, nhìn) tạo nên sự ghi nhớ lâu hơn.

+ Neo chốt bằng cách nhắc đi nhắc lại nhiều lần: Nhắc đi nhắc lại nhiều lần những điều nổi bật nhất trong bài giảng, cuối mỗi phần nhắc lại các ý chính, cuối bài chốt lại những ý quan trọng.

+ Neo chốt bằng cách gắn kiến thức mới với kinh nghiệm cũ: Dùng cái đã biết làm

ví dụ cho cái chưa biết, liên hệ kiến thức mới với điều đã biết, đã hiểu rõ đề tiếp thu kiến

Một phần của tài liệu Giáo trình lý luận dạy học đại học (Trang 177 - 184)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(193 trang)