ĐÁNH GIÁ TRONG DẠY HỌC ĐẠI HỌC
H. HƯỚNG DẪN ĐÁNH GIÁ TRONG DẠY HỌC ĐẠI HỌC
1. Đánh giá người học
* Đánh giá quá trình:
Mục đích của cách đánh giá quá trình là làm cho người học hiểu rằng mỗi cá nhân luôn tiềm ân những năng lực riêng. Người học chỉ phát triển khi những khả năng của họ được đánh giá một cách trung thực và được định hướng để phát huy hết tiềm năng. Điều đó bao gồm cả việc sẵn sàng hành động lẫn khả năng biết đánh giá, công nhận ưu thế của bạn bè. Tuy nhiên, để đảm bảo tính khách quan trong đánh giá cần có sự định hướng của người dạy dựa trên các tiêu chí đánh giá được người dạy cùng người học xây dựng. Nhìn lại quá trình là một trong các kênh thông tin trong quá trình đánh giá năng lực học tập của người học.
- Tự đánh giá: Tự đánh giá là hình thức người học tự liên hệ phần nhiệm vụ đã thực hiện với các mục tiêu của quá trình học. Tự đánh giá giúp người học có thé nhìn lại những bằng chứng của quá trình học tập, cũng có thể nhìn lại quá trình qua các tiêu chí đánh giá. Thông qua đó, người học trở nên ý thức hơn về quá trình học của bản thân. Kết quả là kiến thức sẽ được tô chức hệ thông hơn và dễ tiếp cận hơn. Người học cũng ý thức rõ hơn về điểm mạnh, điểm yếu và cách học để tiến bộ trong giai đoạn sau.
Tự đánh giá đòi hỏi mức độ trách nhiệm và sáng kiến cao đối với người học. Nó sẽ làm
tăng mức độ tham gia của người học. Người học có thé phán hồi lại quá trình học của
Người học đánh giá mức độ đạt được của bản thân bằng cách tạm ngừng hoạt động và suy nghĩ những gì mình đã và đang học được. Với những tiêu chí đã xác định, người dạy cần giúp người học nhận ra những lĩnh vực thành công và giúp nhìn nhận xem trong tương lai làm thế nào có thể thành công hơn và ở những lĩnh vực nào. Các câu hỏi sau có thể hữu ích khi tự xem xét quá trình hoạt động của người học: Bạn đã học được điều gì? (Đánh giá việc học tập); Bạn đã đạt được gì?
(Đánh giá sự thành đạt); Bạn thấy mình giỏi về điều gì? (Đánh giá những mặt tích
cực); Bạn thích học gì? (Đánh giá sở thích); Bạn làm cái gì giỏi? (Đánh giá mặt
mạnh); Bạn thấy cái gì khó? (Đánh giá khó khăn); Bạn không biết/không hiểu
điều gì? (Đánh giá những trở ngại đối với việc học tập); Bạn muốn học được
gi/lam được gì/cải thiện gì? (Đánh giá mục tiêu và kế hoạch tương lai); Sự hỗ trợ
nào là cần thiết đối với bạn? (Đánh giá nhu cầu hỗ trợ đối với việc thực hiện nhiệm vụ); Bạn thấy bản thân là người như thế nào với tư cách là người học?
(Đánh giá lòng tự trọng với tư cách là người học)
- Đánh giá đồng đẳng: Đánh giá đồng đẳng là một quá trình trong đó các nhóm người học cùng lớp sẽ đánh giá công việc lẫn nhau. Người học sẽ theo đõi
bạn học của mình trong suốt quá trình học đo đó sẽ biết thêm kiến thức cụ thể về công việc của mình khi đối chiếu với người dạy. Phương pháp đánh giá này có thé
được đùng như một biện pháp đánh giá kết quả nhưng chủ yếu được dùng để hỗ trợ người học trong quá trình học. Người học sẽ đánh giá nhau dựa trên các tiêu chí được định sẵn. Các tiêu chí này cần được diễn giải bằng những thuật ngữ cụ thể và quen thuộc. Đánh giá đồng đẳng không nên được coi là một biện pháp tiện lợi giúp người dạy tiết kiệm thời gian. Vai trò của người dạy là hướng dẫn người học thực hiện đánh giá đồng đăng và coi đó là một phần của quá trình học tập.
Đánh giá đồng đẳng cho phép người học tham gia nhiều hơn vào quá trình học tập. Nó không chỉ cung cấp thông tin về kết quả học tập sau khi người học được đánh giá mà còn phản ánh được năng lực của người đánh giá về sự trung thực, linh hoạt, sáng tạo, trí tưởng tượng, sự đồng cảm,... Đánh gia đồng đẳng tạo thêm động lực cho người học trong việc học kiến thức mới chứ không chỉ tập trung vào vấn đề điểm số.
Vì thế, đánh giá đồng đăng giúp việc học tap dién ra ở mức sâu hon.
Cả người đánh giá vả người được đánh giá đều được hưởng lợi từ việc phát triển các kỹ năng quan hệ liên nhân cách, trách nhiệm, tính tự chủ và khả năng
giải quyết vấn đề. Các kỹ năng xã hội cũng đồng thời là được xác định và phát triển đễ đảng hơn. Bởi thông qua hình thức làm việc nhóm, người học sẽ học được cách đóng góp hiệu quả cho thành công của nhóm. Thông qua việc đánh giá tích cực và thường xuyên lẫn nhau, những lợi ích của làm việc nhóm sẽ được khai thác ở mức độ tỗi ưu..Áp dụng đánh giá đồng đẳng là một bước quan trọng để người
học dần đến kỹ năng tự đánh giá.
Đánh giá đồng đẳng có thể khiến người học cảm thấy không thoải mái lắm khi nhận xét về bạn mình. Đôi khi người học đưa ra những nhận xét không đáng tin cậy. Do đó, nên kết hợp giữa đánh giá đồng đẳng, tự đánh giá và đánh giá hợp tác (giữa người dạy và người học).
Lưu ý: Trong quá trình hướng dẫn người học đánh giá, người đạy cần:
+ Khuyến khích người học biết đánh giá những năng lực khác nhau.
+ Chấp nhận những điểm yếu, hạn chế của người học: Người dạy không nên đòi hỏi người học sự hoàn thiện. Cần giúp người học biết thoả hiệp để tận dụng tối đa tiềm năng của bản thân. Đánh giá chính xác khả năng của bản thân sẽ giúp người học biết cần phải phấn đấu về cái gì, phấn đâu như thế nào.
+ Khuyến khích những thay đổi ở người học.
+ Hỗ trợ người học khi phải làm việc nhiều.
+ Ủng hộ những thành công thật sự và khuyến khích người học tôn trọng những bạn học xuất sắc trong lĩnh vực khác.
* Đánh giá kết quả học tập
- Bài tự luận: Bài kiểm tra dạng tự luận là bài thi trong đó sinh viên được viết
câu trả lời ra giấy về một chủ đề cho trước, dựa vào những câu trả lời được Viết ra,
giảng viên cho điểm hoặc xác định các mức độ kết quả bài thi. Trong bài thi tự
luận, số lượng câu hỏi ít và có tính mở.
Uu điểm của bài tự luận:
+ Đánh giá được kiến thức và thái độ của sinh viên.
+ Đánh giá được các khả năng: Lập luận, sắp đặt hay phác họa, bình luận, lựa chọn các kiên thức, ý tưởng quan trọng và tìm môi quan hệ giữa các kiên thức, ý tưởng ấy; thể hiện hay diễn đạt các ý tưởng sáng tạo.
+ Một bài tự luận nghiêm túc sẽ có khả năng đo lường các mục tiêu xác định trước.
Hạn chế của bài tự luận:
+ Nội dung bài thi khó bao quát được toàn bộ chương trình học, thường chỉ tập trung vào một số ít phần chính.
+ Không có khả năng đo lường tri thức về sự kiện hay kỹ năng hành động một cách hữu hiệu.
+ Các câu trả lời thường dài, tốn thời gian trình bày.
+ Chấm điểm mắt nhiều thời gian.
+ Kết quả phụ thuộc vào chủ quan của người chấm.
Yêu câu đối với bài tự luận
+ Xác định rõ ràng mục tiêu đánh giá và tiên lượng khả năng của sinh viên để xác định các loại câu hỏi cho phù hợp.
+ Cần đảm bảo câu hỏi tự luận phải phù hợp với mục tiêu học tập và nội dung đã dạy.
+ Sử dụng nhiều câu khuyến khích tư duy độc lập sáng tạo và cảm xúc, thái độ của sinh viên.
+ Câu hỏi cần được diễn đạt rõ ràng, từ ngữ, ngữ pháp chính xác.
+ Xác định thời gian cần cho việc trá lời câu hỏi.
+ Xác định thang điểm chuẩn xác và chỉ tiết.
- Trắc nghiệm khách quan: Một bài trắc nghiệm khách quan gồm nhiều câu hỏi, mỗi câu thường được trả lời bằng một dấu hiệu đơn giản, hay một từ, một cụm từ.
Các loại cẩu trắc nghiệm khách quan:
+ Câu nhiều lựa chọn + Loại câu đúng- sai + Câu trả lời ngắn
+ Câu điền vào chỗ trống + Câu ghép đôi
Uu điểm của bài trắc nghiệm:
+ Có khả năng đo được dải khá rộng các mức độ kết quả học tập của
sinh viên theo mục tiêu (biết, hiểu, áp dụng, phân tích, đánh giá, sáng tạo).
+ Tính khách quan cao, ít phụ thuộc vào trạng thái chủ quan của người đánh giá do tính quy chuẩn của nó.
+ Bao quát được phạm vi kiến thức rộng nên đại điện được cho nội dung cần đánh giá.
+ Dễ chấm, chấm nhanh nhất là trong điều kiện có sự hỗ trợ của các phương tiện kỹ thuật hiện đại.
Nhược điểm của bài trắc nghiệm:
+ Khó đánh giá chiêu sâu trong nhận thức của sinh viên, nhât là những tri thức đòi hỏi sự sáng tạo, khó khăn trong việc đo lường khả năng diễn đạt, sap xép, trình bày, đưa ra ý tưởng mới.
+ Mât nhiêu thời gian chuân bị, qua nhiêu công đoạn, tôn kính phí hơn so với bài thị tự luận.
+ Quá trình tiên hành xây dựng câu hỏi cân tuân theo những bước chặt chẽ hơn so với câu tự luận.
+ Việc soạn thảo các câu hỏi và hình thành bài trắc nghiệm khó, đòi hỏi giảng viên phải có kỹ thuật và kinh nghiệm.
Các bước cơ bản xây dựng trác nghiệm:
+ Xác định các mục tiêu cân đo lường và đánh giá.
+ Việt câu trắc nghiệm.
+ Hoàn thiện các câu trắc nghiệm đã việt.
+ Phân tích câu trắc nghiệm (Độ khó của câu trắc nghiệm, độ phân biệt của câu trắc nghiệm, mức độ lôi cuôn vào các phương án trả lời).
+ Yêu câu về độ giá trị và độ tin cậy của bài trắc nghiệm.
Yéu cau cua bai trac nghiệm:
+ Có độ giá trị: Nội dung các câu hỏi phan anh ding cai định do lường, đánh giá. Độ giá trị bao gồm giá trị về đo lường (phản ánh đúng thực trạng mức độ nội dung định đo) và giá trị chân đoán (xác định được nguyên nhân và dự báo xu thê phát triên). Đề đảm bảo độ giá trị cao của câu hỏi và của bài trắc nghiệm, khi soạn thao cân thực hiện triệt đê các bước đã nêu trên.
+ Độ tin cậy vê kêt quả: Phản ánh mức độ ôn định của bài trắc nghiệm hay
xác định băng độ chênh lệch giữa điểm kỳ vọng (điểm số quan sát trên lý thuyết
của bài trắc nghiệm) với điểm số thực tế của sinh viên đạt được qua bài trắc nghiệm. Nếu điểm số thực thấp hoặc cao hơn điểm kỳ vọng ở mức có ý nghĩa về
phương điện thống kê thì độ tin cậy của bài trắc nghiệm thấp. Để xác định độ tin
cậy của bài trắc nghiệm có thể tiến hành theo nhiều cách: a) Chia đôi bài trắc nghiệm cho hai nhóm sinh viên có trình độ tương đương nhau làm. Nếu kết quả của hai bài trắc nghiệm tương đương nhau là được; b) So sánh kết quả bài trắc nghiệm với bài trắc nghiệm khác tương đương về nội dung và độ khó và các tham số khác; c) Trắc nghiệm hai lần trên cùng nghiệm thể sinh viên.
+ Độ khó của câu trắc nghiệm và bài trắc nghiệm: Độ khó phản ánh số người thực hiện được bài trắc nghiệm trong cùng thời điểm. Nếu ít người thực hiện được thì độ khó cao, ngược lại, mọi người đều làm được thì độ khó thấp. Cách đơn giản để tính độ khó của câu trắc nghiệm là tính % số người làm được câu đó so với tổng nghiệm thể tham gia, kết hợp với độ may rủi của câu hỏi.
+ Độ phân biệt: Là khả năng phân loại sinh viên của câu trắc nghiệm. Một bài
trắc nghiệm tốt là bài trắc nghiệm có độ phân biệt hợp lý, tức là phân phối hợp lý các nghiệm thể ở các điểm số của thang đánh giá.
+ Căn cứ vào mục đích đánh giá, đối tượng đánh giá, điều kiện cụ thể, khả
năng trắc nghiệm có thể đo lường và đánh giá được các mục tiêu đã xác định.
+ Có một hệ thống ngân hàng câu trắc nghiệm đảm bảo được yêu cầu về chỉ số của câu trắc nghiệm.
+ Các câu trắc nghiệm phải đại điện được cho nội dung cần đánh giá.
+ Hướng dẫn chu đáo về cách thức làm bài trắc nghiệm trước khi tiến hành
làm trắc nghiệm.
Viết câu trắc nghiệm đúng-sai:
+ Câu hỏi phải ngắn gọn, tránh mơ hồ, được sắp xếp một cách chính xác là
ding hay sai.
+ Bồ trí các câu đúng và câu sai có dụng ý, nhằm tránh sự trùng lặp các câu đúng hoặc sai theo quy luật.
+ Tránh việc trích dẫn nguyên mẫu trong sách giáo khoa mà khi tách chúng ra có thể không còn đúng hoàn toàn như trước nữa.
+ Tránh câu nhận định mang tính phủ định.
. + Tránh sử dụng các sự kiện hay các từ không quan trọng hoặc quá tiểu tiết, vụn vặt.
+ Câu trả lời (đúng-sai) phải là các sự kiện chứ không phải là ý kiến. Nếu câu
hỏi là nhân quả thì nên chọn quan hệ có một nguyên nhân rõ ràng.
Viết câu trắc nghiệm nhiều lựa chọn:
+ Không nên đưa quá nhiều tư liệu vào câu dẫn.
+ Tránh sử đụng câu dẫn mang tính phủ định.
+ Các phương án trả lời cần được viết cùng văn phong, tương đương về độ dài.
+ Không nên quá khác biệt về cách diễn đạt giữa các câu trả lời đúng và câu nhiễu.
+ Câu dẫn và câu trả lời đều hợp nhau về ngữ pháp khi ghép chúng với nhau.
+ Cần sắp xếp các phương án trả lời trong các câu hỏi theo vị trí ngẫu nhiên.
+ Nên hạn chế sử dụng phương án “tất cả những câu trên”.
Viết câu trả lời ngăn:
+ Nên chỉ có một câu trả lời là chính xác duy nhất.
+ Câu hỏi ngắn gọn, rõ ràng.
+ Câu hỏi không nên lấy nguyên mẫu trong sách.
Viết câu điển vào chỗ trồng:
+ Không nên để quá nhiều khoảng trống trống một câu, chỉ tối đa 3-4 chỗ. Vì nếu để nhiều chỗ trống dễ làm ảnh hưởng tới nội dung của câu gốc, làm rối sinh viên và tạo điều kiện cho họ đoán mò.
+ Phần trống chỉ có một lời giải đúng. Đây là yêu cầu khó đối với việc soạn thảo loại câu hỏi nay. Thong thường các phần để trống có thể có một số câu trả lời có giá trị gần đúng. Sinh viên có thể chọn một trong số đó nhưng không phù hợp với đáp án.
Để khắc phục, nên chọn các câu có nội dung tri thức tương đối xác định.
+ Độ đài các phần trống nên bằng nhau để tránh sự hiểu lầm của sinh viên.
+ Nên hạn chế dùng nguyên mẫu trong sách.
Viết loại câu ghép đôi:
+ Cần nêu rõ trong hướng dẫn cách thức trả lời.
+ Cần sắp xếp các danh mục một cách rõ ràng, đảm bảo sao cho hai danh mục phải đồng nhất.
+ Nên tạo sự ghép đôi đúng một cách ngẫu nhiên.
+ Các danh mục ở hai cột nên có số lượng không bằng nhau.
+ Hai cột không nên quá 8 danh mục...
- Vấn đáp: Là hình thức sử dụng các câu hỏi trực tiếp để thu nhận các thông
tin phản hồi về khả năng, thái độ, nhận thức của sinh viên. Đây là một hình thức đánh giá khá phổ biến trong dạy học. Với các câu hỏi ngắn mà giảng viên đưa ra, sinh viên có thể được chuẩn bị hoặc không được chuẩn bị trước câu hỏi, căn cứ vào các câu trả lời của sinh viên mà giảng viên có thê đo lường và chân đoán các mức độ kết quả đạt được ở sinh viên.
Uu điểm của vấn đáp:
+ Cho thông tin phản hồi trực tiếp và nhanh chóng.
+ Loại hình câu hỏi đa dạng.
+ Đánh giá năng lực tư duy, khả năng phản ứng, lập luận của sinh viên.
+ Có khả năng sử dụng linh hoạt trong các tình huống khác nhau: có thể dùng đánh giá kiến thức đã được học hoặc những kiến thức mới của sinh viên; có thể kiểm
tra trí nhớ, tư duy logic hoặc các phẩm chất tâm lý khác của sinh viên; có thể tiến hành
trong và ngoài lớp học; dùng đề đánh giá sinh viên trước, trong và kết thúc môn học,...
+ Giá trị chấn đoán của các câu hỏi vẫn đáp rất cao vì giảng viên có điều kiện trao đổi trực tiếp tới từng sinh viên vả kích thích tư duy của họ. |
Nhược điểm của vấn đáp:
+ Chịu ảnh hưởng của môi trường, ngoại cảnh, thái độ của người hỏi và tâm
thế người trả lời làm ảnh hưởng tới kết quả kiểm tra, đánh giá.
+ Không hỏi được nhiều người trong một lúc.
+ Chỉ hỏi được từng khía cạnh của van dé.
+ Tén thoi gian nếu số lượng học viên đông.
+ Đây là hình thức đánh giá mang đậm tính chủ quan của giảng viên (cách đặt câu hỏi, nhận xét và đánh giá tức thời)
+ Khó so sánh giữa các sinh viên với nhau.